Back Main Vietnamese Menu Main English Menu

CẦU NGUYỆN VÀ CHẨN TẾ CHO THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
(Tháng 3 năm 2007)

Bài 4


Về Bến Tự Do 3.2007

Trở về đất liền lên mạn Bắc Malaysia

Trở về đất liền

Khoảng 1g trưa chúng tôi phải chuẩn bị về đất liền. Trời đã ngưng mưa, vì lời hứa chuyến tâm linh này không phải là chuyến cuối cùng hay chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên? Không biết nữa!

Trên cầu tàu ở Bidong

Đường trơn ướt, không tiện đi thăm các dãy nhà Cao Uỷ và những nơi khác, tàu chở thức ăn trưa không đến đảo được vì biển động, chúng tôi được yêu cầu về đất liền sớm và ăn trưa trong đất liền. Mọi người tiếc rẻ lục tục kéo nhau xuống tàu. Nước cạn. Tàu nằm xa dưới cầu jetty, muốn xuống tàu, chúng tôi phải ngồi bẹp trên sàn cầu, thòng hai chân, rồi 1 – 2 - 3 tuột xuống theo hai cánh tay dìu của hai anh Malay ở hai bên để đứng trên mũi tàu.

+ Tại nhà ăn chúng tôi được biết đã 5 – 6 tháng nay cả khu vực này không có mưa. Ngày 21-3, ngày chúng tôi tới Bidong là ngày mưa đầu tiên sau nhiều tháng hạn hán. Người ta tin rằng đoàn cầu nguyện đã mang lại "âm siêu dương thới" cho khu vực này!

+ Trên tàu nhiều người kháo nhau "Đã bao nhiêu lần đến Bidong, riêng anh Đông đến Bidong cả chục lần, chỉ có lần này mắc mưa. Tại sao? Chắc chắn là vì Văn Khố Thuyền Nhân tuyên bố chuyến đi này là chuyến tâm linh cuối cùng! Các vị khuất mặt khuất mày không chịu nên nhỏ lệ dầm dề. Sau khi cầu nguyện và hứa sẽ tổ chức tâm linh thêm nữa, chỉ mươi phút sau thì hết mưa! Lạ chưa? Không tin không được!"

Nhờ qua một trận mưa lớn, sóng gió dịu bớt đi, biển êm, tàu rẻ nước chạy như bay vào đất liền. Đây là lần đầu tiên chúng tôi bị mắc mưa trên đường ra Bidong. Tiếc không đưa cả đoàn chạy một vòng quanh đảo. Tiếc không đi thăm các khu còn lại và chụp hình lưu niệm. Trên đường về chị Minh Nguyệt và Hồng Hoa không còn sợ sóng gió nữa mà huyên thuyên kễ chuyện đi tìm mộ mẹ cho mọi người.

Chuyện nổ như bắp rang trên đoạn đường 30 hải lý. Nào chuyện vượt biên ngày xưa. Nào chuyện đội tole đi thăm nghĩa trang. Thượng tọa Như Định vui hơn lúc nào hết, Thầy luôn tắm tắc: "Đi như thế này mới là đi! Phải sóng gió! Phải mưa bão! Phải cầu nguyện dưới trời mưa như vậy mới đủ hương vị! Chứ đi mà mọi chuyện êm ái, thoải mái thì đâu có ý nghĩa gì!" Hòa thượng Huyền Tôn ngồi kế bên Linh mục Bùi Xuân Mỹ kễ cho Linh mục và những người ngồi chung quanh nghe chuyện vượt biên ngày xưa của Ngài. Đằng sau lái tàu thì Đinh Quang Anh Thái, Nguyệt Ánh, Đoàn Hùng, Hoàng Anh, Phùng Quang, cả Joe – anh chàng Malaysia hướng dẫn đoàn ở Redang – cùng tán gẩu cười đùa ầm ĩ.

Thoắt một cái, tàu đã đến gần bờ, đang theo lạch vào cửa sông. Thay vì ghé ở cầu tàu, tàu chạy một khoảng nữa để ghé nơi ăn trưa. Đói bụng. Lạnh. Ướt loi ngoi. Dù vậy mọi người ai cũng vui vẽ và phấn khởi.

Hành trình đi biển trong mưa, sóng gió chập chùng không làm ai nao núng. Kỹ niệm xưa cũ dường như sống lại nhiều hơn. Giờ đây một ly cà-phê nóng, một tách trà thơm ngút khói thú vị không gì bằng. Anh Trần Đông chưa uống xong tách cà-phê thì điện thoại reo vang, anh chạy ra một góc nhà, trả lời cú điện thoại phỏng vấn từ Hoa thịnh đốn gọi đến.

Mọi người ăn uống xong, vội vã lên xe đi về tiểu bang Kelantan, tiểu bang cực Bắc của Malaysia giáp ranh với Thái-lan.

Tiểu bang Kelantan

Besut:

Kelantan là tiểu bang miền đông nằm ở cực bác, giáp biên giới Thái lan, thành phố thủ phủ của tiểu bang gọi là thành phố Kota Bharu. Kelantan cùng với Terengganu, Pahang, Johor là những tiểu bang mạn đông Malaysia, giáp với biển Nam hải. Từ miền Tây Việt Nam nếu chạy thẳng qua Terengganu của Malaysia đường dài chỉ có 800 cây số đường biển. Đó cũng chính là lý do tại sao chúng ta thấy mộ phần thuyền nhân Việt nam chỉ tập trung ở các tiểu bang mạn đông Malaysia.

Ngôi mộ tập thể ở Besut, mai táng 3 thuyền nhân Việt Nam

 

Vào đất liền, sau khi cơm trưa, chúng tôi lên xe, chạy thẳng lên mạn Bắc. nghĩa trang cuối cùng của Terengganu nằm gần giáp với Kelantan là nghĩa trang Besut. Nơi đây chỉ có một ngôi mộ thuyền nhân Việt nam, gần bờ sông, gần biển, nằm lẻ loi sau một lò đốt than, bên cạnh mấy ngôi mộ khác của người bản xứ. Ngôi mộ thuyền nhân này là ngôi mộ tập thể của 3 thuyền nhân Việt nam, không ghi tên tuổi, không ghi ngày tháng lập mộ hay ngày tháng tử vong.

Cherang Ruku:

Rời nghĩa trang Besut phải mất gần hai tiếng đồng hồ xe đến nghĩa trang Cherang Ruku sdau khi rẻ vào một con đường nhỏ. Từ tháng 8-2005 khi chúng tôi lần đầu đến khu nghĩa trang này, nghĩa trang chưa có hàng rào chung quanh, bên trong phân bò vung vãi khắp nơi rất dơ bẩn. Khi chúng tôi đến lần thứ ba vào tháng 4-2005 thì nghĩa trang được bao bọc bằng hàng rào lưới sắt, ngôi nhà nguyện bị hư hại hại nhiều. Bây giờ, một năm sau, ngôi nhà nguyện đã được sửa sang trở lại, nghĩa trang không còn dơ bẩn vì phân bò.

Ngôi mộ tập thể 149 người của tàu MT065 chìm ngày 1-12-1978, trên 200 người tử vong
5 tấm bia lắm lem bụi đất (click to enlarge)
5 tấm bia trên mộ 149 người lấm lem bụi đất, trong khi cầu nguyện, với một chai nước nhỏ chỉ hơn một xị một chút Hòa Thượng Thích Huyền Tôn đã chú nguyện và rưới vào từng tấm bia. Lạ lùng chưa, một lượng nước nhỏ như vậy cũng đủ để làm sạch hết những vết nhơ trên 5 tấm bia, mỗi tấm bề ngang trên 5 tấc, bề cao trên 8 tấc. Ngay tại ngôi mộ, mọi người chú tâm cầu nguyện nên không ai chú ý chuyện gì! Lúc lên xe khi ngồi bên Hòa thượng, Linh mục Bùi Xuân Mỹ nhắc chuyện này, Hòa thượng mới chợt nhận ra và chúng tôi đều cùng kinh ngạc!

Ngôi mộ thuyền nhân Việt nam nằm ở một đầu nghĩa trang, bề dài ngôi mộ trên 10 thước chiếm gần hết chiều ngang của

nghĩa trang. Ngôi mộ được bọc bằng một vòng tường xi măng cao khoảng 5 tấc, dài khoảng 12 thước, ngang khoảng 4 thước, một đầu của ngôi mộ là 5 tấm bia bằng đá ghi tên 123 thuyền nhân tử nạn trên chiếc tàu MT065 ngày 01-12-1978. Tàu vào gần bờ, biển động, lính biên phòng không cho cặp bờ, tài công lội vào bờ thương lượng, lát sau tàu chìm. Con trai của người tài công tử nạn, anh tài công tàu MT065 này hiện đang còn sống. Nghe nói trên hai trăm người tử nạn, danh sách trên bia ghi 123 người nhưng thưực tế số người được mai táng là 149 người trong khu mộ này và được chôn xếp thành bốn lớp chồng lên nhau. Ngôi mộ này cũng là nơi vợ và con của anh Nguyễn Ngọc Ngạn đã gửi thân. Tên vợ và con của anh có ghi trên tấm bia.

Balai Bachok:

Nghĩa trang cuối cùng của ngày thứ 4 trong cuộc hành trình là nghĩa trang ở Balai Bachok. Chúng tôi dừng lại tại nghĩa trang này cầu nguyện cho một ngôi mộ tập thể thuyền nhân Việt Nam gồm 46 người mai táng ngày 4-12-1978. nghĩa trang này vào tháng 8-2005 chưa có bờ xi măng bao bọc chung quanh. Sang tháng 4-2006 bờ xi măng và tấm bia đã dựng xong, chi phí xây dựng do các Phật tử của ngôi chùa Nam tông gần bên đóng góp và thực hiện. 46 người được mai táng ở đây vào ngày 4-12-1978 có thể là thi thể của những nạn nhân trên chiếc tàu MT065 ở Cherang Ruku. Tại Cherang Ruku người địa phương cho biết đã mai táng 149 thi hài, nếu chúng ta cộng thêm con số 46 người tại Balai bachok, như vậy sẽ có 205, tức là trên 200 người, con số tử vong của tàu MT065. Đây chỉ là một giả thuyết, giả thuyết này có thể đúng nếu không có chiếc tàu nào khác bị chìm trong khu vực này vào những ngày đầu tháng 12-1978.

Cả đoàn cùng cầu nguyện dù lễ theo nghi thức Phật giáo hay Công giáo

Tại nghĩa trang này, đoàn cầu nguyện cũng đã thực hiện hai nghi thức. Nghi thức Phật giáo trước và nghi thức Công giáo nối tiếp sau đó. Dù trời đang đổ mưa hay dù trời có tối cũng đều không có gì ngăn ngại được ý tha thiết dâng nén hương cầu yên bình cho những đồng bào ruột thịt của mình của phái đoàn Về Bến Tự Do tháng 3-2007.

Chúng tôi đến nhà hàng ăn tối vào lúc 8g tối. Ăn tối xong về khách sạn lấy phòng đã gần 11g đêm. Ai nấy đều thấm mệt. Ngày mai lại là một ngày hành trình dài sẽ cầu nguyện qua 5 địa điểm nghĩa trang trong khi nguyên ngày thứ tư, cả đoàn cầu nguyện 2 lần tại Bidong và 3 lần trong đất liền, tổng cộng cũng là 5 lần trong ngày cả thảy. Riêng trong ngày thứ hai của cuộc hành trình, vừa cầu nguyện vừa thỉnh vong linh, ngày 19-3, chúng tôi đã đi qua và cầu nguyện tại 5 địa điểm khác nhau: cầu tàu, nghĩa trang khu D, C, B và Chẩn tế Khu A. Tính từ ngày 18-3, ngày 19-3 tới hôm nay là ngày 21-3 cả đoàn đã cầu nguyện 12 lần tại 12 địa điểm khác nhau. Dù có mệt, nhưng từ trong ánh mắt mọi người ai ai cũng chứa chan tình đạo, tình người, lòng tràn ngập yêu thương, không còn phân biệt kẻ dương gian người âm cảnh. Tất cả đều là "being", là chúng sinh, là con một vị Cha tối thượng, là anh, là em, là cha, là mẹ của nhau từ vô lượng kiếp.

 

 

Văn Khố THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
ARCHIVE of VIETNAMESE BOAT PEOPLE
| Tác quyền
| Trách nhiệm | Biếu tặng | Liên lạc |
Email: info@vnbp.org