Back Main Vietnamese Menu Main English Menu

CẦU NGUYỆN VÀ CHẨN TẾ CHO THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
(Tháng 3 năm 2007)

Bài 3


Về Bến Tự Do 3.2007

Diện kiến Hoàng Thái Hậu Mã Lai:

Nhờ mối quan hệ chặt chẽ và lâu đời của Bà Alcoh Wong, sau lễ chẩn tế tại nghĩa trang Khu A Terengganu, một nhóm nhỏ 8 người trong đoàn được Hoàng Thái Hậu cho phép đến vấn an dù Bà đã rất mệt mỏi sau chuyến đi từ Kuala Lumpur trở về lại Terengganu vào trưa cùng ngày.

Chụp hình kỷ niệm với Hoàng Tháu Hậu Mã Lai

Cung điện của Bà không lớn lắm, tọa lạc trong khu vực yên tĩnh trong thành phố. Chúng tôi vào đến sân, xuống xe đi vào đến bậc thềm, Hoàng Thái Hậu đã ra tận cửa mời chúng tôi vào. Bà đưa chúng tôi vào phòng khách và mời mọi người an vị. Đại diện của đoàn thưa cùng Bà rằng chúng tôi vừa từ nghĩa trang Khu A đến đây và rất cảm ơn Bà đã cho phép chúng tôi đến để bày tỏ lòng tri ân của Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại đối với sự giúp đỡ vô cùng quý báu và có ý nghĩa của chính phủ và người dân Mã trong việc giúp đỡ những người Việt tỵ nạn từ sau năm 1975 và việc bảo trì những ngôi mộ thuyền nhân trong suốt hơn một phần tư thế kỷ vừa qua.

Hoàng Thái Hậu nói Bà rất cám ơn chúng tôi đã đến đây và hy vọng chúng tôi sẽ đến nhiều lần nữa và nhiều người hơn. Đất nước Malaysia lúc nào cũng mở rộng cửa chào đón. Người hầu cận mang nước và bánh ngọt tới, Bà mời mọi người giải khát. Bà hỏi thăm từng người ỏ đâu làm gì. Bà khen Hoà thượng Thích Huyền Tôn dù 80 tuổi nhưng trông còn rất tráng kiện khiến Bà vô cùng ngạc nhiên. Linh mục Peter Bùi Xuân Mỹ cũng nói lên lời chia xẻ và cám ơn Hoàng gia đã giúp đỡ rất nhiều cho người Việt tỵ nạn trong những năm gian khó. Vì ngại Bà còn mệt, sau khi chuyện trò chút ít chúng tôi xin phép được cáo từ sau khi ngõ lời muốn được chụp chung với Bà một tấm hình kỷ niệm.

Chụp hình xong, chúng tôi ra về. Bà đưa ra tận bậc thềm ngoài và vẫy tay chào mãi cho đến khi xe ra khỏi cổng. Đây là điểm mà mọi người trong nhóm đến thăm Bà ai cũng ngợi khen, một Bà Hoàng hoàn toàn khiêm cung, giàu lòng nhân ái và không một nét kiêu căng ngạo mạn cho dù hiện nay Bà là mẹ của Đức Vua của cả Vương quốc Mã Lai, tột đỉnh của giàu sang và sự kính ngưỡng của trên 20 triệu người dân nước này.

Cầu nguyện dưới mưa trên đảo Bidong:

Sau một ngày dài tham dự Thánh lễ tại nghĩa trang Khu A, đi rước vong, làm lễ Chẩn tế buổi chiều và đi thăm Hoàng Thái Hậu, ngày hôm sau (Thứ Hai 20-3) cả đoàn ra đảo Redang nghỉ ngơi trọn vẹn một ngày. Sáng thứ Ba (ngày 21-3) cả đoàn rời đảo Redang để qua Bidong. Mãi đến 11g trưa tàu đi Bidong mới cặp bến. Biển động, trời đầy mây, mưa rả rít, con tàu chồng chềnh lúc nghiêng bên này lúc ngã bên kia. Chị Minh Nguyệt qua Mỹ đi bằng máy bay vào những ngày cuối tháng 4-1975, lần này là lần đầu đi biển, chị níu chặt cánh tay anh Nguyễn văn Thuấn (Giáo sư, Tiến sĩ, và là Cựu Bộ trưởng Bộ Công chánh thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu), sợ nhưng thích thú. Sau này chị mới tâm sự: "Sợ, nhưng nhờ vậy mới biết được cảm xúc của những những người vượt biên và những thống khổ, chịu đựng của họ khi họ đi trên những con tàu không đầy đủ tiện nghi và có thể bị sóng đập vỡ ra từng mảnh bất cứ lúc nào."

Lễ Phật trong ngôi chùa Từ Bi đổ nát

 

Tàu hai động cơ nổ hết vận tốc xé nước cắt sóng. Lại một lần nữa ký ức xưa sống dậy mãnh liệt khi nhớ đến những ngày vượt trùng dương lên đường đi tìm đất sống. Có ra khơi trong những ngày đại dương nổi giận, chung quanh một màu xám ngắt, sóng bủa bốn phương, mới nhận thức được rằng trước uy vũ của thiên nhiên con người là một tạo vật vô cùng nhỏ bé và sự hình thành niềm tin tôn giáo, sùng bái thiên nhiên trong lịch sử phát triển của xã hội loài người là điều hết sức tự nhiên. Trong những giây phút sống chết mong manh như vậy của những chuyến hành trình gian khổ đi tìm tự do hạnh phúc, thuyền nhân đã cầu nguyện. Mẹ Maria, Mẹ Quán Thế Âm Bồ Tát, Phật Thích Ca, chùa Giê-su, và rồi bất cứ thần thánh nào họ nhớ tưởng tới cũng đều được nhiệt tình khấn vái để cầu xin cứu độ cùng những thề thốt, hứa hẹn khi an toàn tới được bến bờ.

Mãi miên man trong dòng suy nghĩ, nhìn qua cửa sổ bên trái, hình ảnh Bidong đã hiện ra rõ nét sau làn mưa mỏng.

Bidong đây rồi!

Bidong của thương và nhớ!

Bidong là nơi không chỉ có tôi mà còn có nhiều người nữa đã đặt những bước chân chập chững đầu tiên lên ngưỡng cửa tự do và hạnh phúc.

Tàu cặp bến Bidong. Vẫn bãi cát trắng ven bờ. Vẫn ngọn đồi tôn giáo. Chúng tôi đến nhà thờ. Đường lên nhà thờ đi ngang qua con tàu sắt TV148. Con tàu đồ sộ ngày xưa nay đã tan rã hoàn toàn trước thời gian và biển mặn. Con tàu chỉ còn một cái mũi ngóc lên và đầu máy Commin 12 nằm chơ vơ, ngoài ra không còn gì nữa.

Lần lên những bậc thang bằng đá và xi-măng là nhà thờ. Hình ảnh đầu tiên chạm vào mắt chúng tôi là những tàn tích còn lại của tấm bia tưởng niệm bị đập nát ra thành trăm mảnh - một bằng chứng trơ trẽn đến dã man của chính sách đổi mới, cởi mở và khẩu hiệu "Việt Kiều là khúc ruột ngàn dặm" của bộ máy độc tài đảng trị Hà Nội.

Nhà thờ bây giờ thảm thương lắm rồi. Mái tôle đã rách nát không còn đủ sức che mưa che nắng. Khung sườn bằng gỗ cũng bắt đầu bị mối mọt và sự sự mục rã phá hại. Nhà thờ không còn có thể đứng vững được quá 3 năm nữa. Bên cạnh nhà thờ Công giáo là nhà thờ Tin Lành. Những chuyến đi trước, khung cây của nhà thờ Tin Lành vẫn còn đứng vững, bây giờ toàn bộ khung sườn ấy đã nằm ngỗn ngang trên mặt đất. Chùa Từ Bi cũng không khá gì hơn. Cũng như nhà thờ Công giáo, kiến trúc chùa Từ Bi sẽ sụp đổ trong vòng vài năm. Tôi cũng hết sức ngạc nhiên, ngân khoản 8 triệu Mã-kim để trùng tu Bidong đã được chấp thuận, kế hoạch là sẽ xúc tiến trong năm 2007 và khánh thành vào năm 2008 thế đến tháng 4-2007 vẫn chưa có một dấu hiệu bắt đầu.

Trước bệ thánh hoang tàn của Nhà thờ Bidong

Trời mưa lúc càng thêm nặng hạt. Lễ cầu nguyện tại nhà thờ và ngôi chùa đều cùng lúc được cử hành và cả đoàn người âm thầm cầu nguyện trong mưa. Không còn hình ảnh nào thương tâm và cảm động hơn. Một đoàn người vượt nghìn trùng xa cách đội mưa đến Bidong cầu nguyện và cầu nguyện. Thời tiết khó khăn không phải là một trở ngại to lớn khi con người đã hết lòng dâng hiến.

Xong lễ cầu nguyện Thượng tọa Như Định và Đại đức Viên Trí mỗi người một mảnh tôle che trên đầu đi lên nghĩa trang trên đồi Khu F. Anh Tuấn Hùng đến từ Thụy Điển dùng bọc ny-lông bao máy quay phim mới mua mấy ngày trước ở Singapore đi theo để quay những hình ảnh cảm động này. Khi Thượng tọa Như Định và Đại đức Viên Trí cầu nguyện xong trên đồi Khu F đi trở xuống thì gặp Linh mục Bùi Xuân Mỹ cũng đội mưa đi lên tới đồi Khu F. Thượng tọa và Đại đức về trước, chúng tôi ở lại nhập với đoàn của Linh mục Mỹ để cầu nguyện lần thứ hai tại nghĩa trang Khu F. Không có gì che đầu, chúng tôi dầm mưa cầu nguyện. Xong lễ, anh Nguyễn Việt và anh Đoàn Hùng đốt thuốc cắm lên một số mộ phần trên đồi.

Tìm mộ mẹ sau 30 năm bị quên lãng

Tàu vừa cặp bến Bidong, Hồng Hoa chạy vụt lên bờ thẳng tới nhà thờ trên ngọn đồi rồi băng qua chùa Từ Bi đi tìm mộ mẹ. Mục tiêu chuyến đi này của Hồng Hoa là phải làm sao tìm ra cho được mộ phần của mẹ được mai táng tại Bidong tháng 11-1978. Bà đến đảo chỉ vài tháng sau thì bị dịch tả và qua đời. Hồng Hoa có mặt tại đảo và đã mai táng mẹ. Một phần tư thế kỷ qua rồi, lúc nào cũng ấp ủ trong lòng một ngày trở lại trước là thăm viếng đảo sau nữa là thắp cho mẹ một nén nhang, dâng lên cho mẹ một lời cầu nguyện. Chị Minh Nguyệt, chị ruột của Hồng Hoa, định cư ở Mỹ từ năm 1975, liên lạc được với Văn Khố Thuyền Nhân từ cuối năm 2005 nhưng lần lựa mãi, chỉ đến bây giờ mới đủ duyên trở lại Bidong.

Mưa rả rích, cảnh vật hoàn toàn khác lạ, không một manh áo che mưa, chỉ có chiếc mũ vàng của Ban Tổ chức che đỡ trên đầu, Hồng Hoa cùng hai hướng dẫn viên người Mã chạy đến khu đặt bồn chứa nước. Cô nghĩ là mộ phần nằm tại đây. Băng qua rừng cây thưa rồi đi lần xuống con đường dưới chân đồi, không tìm được mộ mẹ. Hồng Hoa chạy ra phía trước đảo, không có lối đi. Rồi ra phía sau đảo. Cũng không tìm được bất cứ một chỗ nào có thể định vị được. Ba mươi năm qua rồi, cảnh vật đổi thay!

Mưa càng lúc càng lớn. Tội nghiệp anh Thuấn chồng chị Minh Nguyệt, đã trên 70 tuổi, hai chân rất yếu, cũng đội mưa đi tìm. Hai lần anh trợt chân té nằm dài trên các gộp đá tưởng đã gãy lưng gãy tay, nhưng chỉ bị xây xát chút ít bên cùi chỏ.

Đã gần hai tiếng đồng hồ loay hoay mà Hồng Hoa vẫn chưa tìm được mộ phần thân mẫu. Hoang mang quá, phần sợ hết giờ tàu phải trở về đất liền, Hồng Hoa khóc và gọi "Má ơi! Má ơi!" Chị Minh Nguyệt cũng khóc. Rồi Peter Lương, ở Sydney, đi theo giúp cũng khóc và kêu "Bác ơi! Bác ơi!" Hoàng Anh đã đến đảo 4 - 5 lần, được Ban Tổ chức chỉ định giúp chị em Minh Nguyệt và Hồng Hoa vừa đi vừa kêu "Bác ơi! Bác ơi!" vang một góc rừng. Cuối cùng, Hoàng Anh đề nghị Hồng Hoa bình tĩnh đứng lại ở trên đường đi lên nhà thờ, khấn vái rồi chỉ phương hướng. Hồng Hoa nghe lời, vừa khóc vừa khấn vái. Hồng Hoa kễ lại: "Lúc đó em lo quá. Vừa khóc vừa vái, xong rồi đưa tay chỉ đại và nói với Hoàng Anh: Hướng này!"

Trước ngôi mộ người Mẹ sau gần 30 năm xa cách


Hoàng Anh theo hướng chỉ của Hồng Hoa đi lên lưng chừng đồi thì gặp ngay một chùm sáu ngôi mộ nằm khoảng giữa chùa Từ Bi và nhà thờ Công giáo. Mừng quá Hoàng Anh la lên "Thấy rồi! Thấy rồi!". Mọi người mừng rỡ leo lên. Hồng Hoa, Hoàng Anh và Peter Lương là những tín đồ Công giáo nên cùng đọc năm kinh Kính mừng cầu nguyện cho mẹ. Trong khi đó chị Minh Nguyệt lúi húi đốt nhang, mưa nặng hạt tầm tả, nhang không thể cháy được nên mọi người chỉ cầu nguyện không nhang khói.

Về đến chùa Từ Bi, mọi người kể chuyện tìm thấy mộ phần, Thượng tọa Trường Sanh ở Tân Tây Lan có mặt ở đó cũng leo lên lưng đồi. Cả đoàn người đốt nhang, Thượng tọa Trường Sanh đề nghị được cùng đến ngôi mộ tụng một thời kinh ngắn dưới mưa cầu nguyện cho Bà và năm người nằm bên cạnh. Chừng một giờ sau, sau khi từ nghĩa trang Khu F trở về Linh mục Peter Bùi Xuân Mỹ cũng đến và cầu nguyện theo nghi thức công giáo.

Sau gần một phần tư thế kỷ nằm hiu quạnh ở xứ người, bà Huỳnh Thị Trọng nay đã đủ duyên có con, có rể đến tận mộ phần nơi rừng sâu núi thẳm để thăm, có cả các vị sư và linh mục hiệp tâm cầu nguyện, chắc hẳn Bà cũng được mãn nguyện để yên giấc nghìn thu cùng hàng trăm nghìn thuyền nhân bạc mệnh khác.

(Còn tiếp)

Văn Khố THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
ARCHIVE of VIETNAMESE BOAT PEOPLE
| Tác quyền
| Trách nhiệm | Biếu tặng | Liên lạc |
Email: info@vnbp.org