|
CHẾT VẪN CHƯA YÊN GIẤC
TrầnGia Phụng
Vừa qua, các tin
tức liên tiếp của đài BBC, được các báo Việt ngữ hải
ngọai đăng lại, làm cho đại đa số người Việt phẫn nộ.
Đó là các tấm bia kỷ niệm thuyền nhân Việt Nam tử nạn
trên đường vượt biên ở Bidong bị chính quyền sở tại ra
lệnh phá bỏ (tin ngày 16-6-2005), và tấm bia kỷ niệm ở
Galang bị khóet lấy đi (tin ngày 17-6). Sau đây là
nguyên văn tiếng Việt bản tin BBC ngày 17-6-2005: “Chính
phủ Việt Nam đã than phiền với với Bộ Ngoại Giao
Malaysia, và sau đó, chính quyền trung ương Malaysia đã
yêu cầu chính quyền bang Terengganu, tức là chính quyền
chủ quản hòn đảo Bidong, phải dẹp bỏ tượng đài. Một
nguồn tin tại Bộ Ngoại Giao Malaysia nói rằng Việt Nam
còn đang bận rộn với lịch sử của họ, và để bảo tồn bang
giao tốt đẹp với Việt Nam nên Malaysia quyết định tôn
trọng ý muốn của Hà Nội.
(bbc.co.uk/vietnamese/regionalnews/story/2005/06/050615_vietnamemorial.shtml)
Theo các nguồn
tin trên đây, nguyên nhân thúc đẩy hai nước Malaysia và
Indonesia đục bỏ hai tấm bia nầy, là do yêu cầu và áp
lực của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Vấn đề nầy cần
nhìn rộng rãi từ nhiều phía khác nhau.
1.- MỤC ĐÍCH
CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM
Chắc chắn nhà cầm
quyền Hà Nội đã yêu cầu hai nước Malaysia và Indonesia,
nên họ mới ra tay hành động. Ý đồ rõ nét của Hà Nội là
muốn xóa bỏ dấu vết cuộc vượt biên vừa qua.. Đây là một
ý định điên rồ, vì không ai có thể níu kéo lại thời gian
và cũng không ai có thể sửa đổi lại lịch sử, mà chỉ có
thể học từ lịch sử và sửa đổi cung cách hành xử để chuộc
lỗi lịch sử. Thậm chí chỉ cần một cây đinh đóng vào một
miếng gỗ, khi rút ra cũng còn dấu vết, huống gì là những
việc làm đã qua trong quá khứ, trước mắt mọi người,
trước mắt cả thế giới. Ca dao chúng ta viết rất đơn
giản: “Trăm năm bia đá thì mòn/ Ngàn năm bia miệng
vẫn còn trơ trơ.” Xóa bỏ một tấm bia đá thì dễ,
nhưng làm sao xóa bỏ hàng triệu triệu tấm bia trong lòng
của người Việt, trong trí nhớ của dân chúng thế giới,
cũng như làm sao xóa bỏ được lịch sử nhân lọai?
Ngày xưa, theo
luật pháp của các chế độ quân chủ chuyên chế, nếu một
người đã qua đời, mà truy xét có tội với chế độ, thì mồ
mả của họ bị xiềng xích, hay bị quật phá. Luật pháp nầy
đã bị dân chúng Việt lên án là tàn bạo. Đọc lịch sử,
không ai là không bất bình hành động của vua Gia Long
đối xử tồi tệ với di cốt của vua Thái Đức và vua Quang
Trung, dầu giữa hai bên có oán thù qua lại với nhau.
Trong khi đó, những
đồng bào bỏ nước ra đi có tội tình gì, ngoài việc chạy
trốn chế độ CSVN? Đồng bào chạy trốn có nghĩa là đồng
bào tránh né chế độ, chứ đồng bảo không ở lại để chống
phá chế độ. Vì rủi ro tử nạn trên đường đi, chứ nếu còn
sống sót, được đi định cư, có tiền rủng rỉnh gởi về giúp
bà con trong nước, thì những đồng bào nầy trở thành
“khúc ruột ngàn dặm” của chế độ CSVN. Những đồng bào
nầy đã một lần tử nạn trên đường vượt biên sau năm
1975. Ba mươi năm sau, quý vị lại tử nạn thêm lần thứ
nhì vì ý đồ đen tối của chế độ CSVN. Nhà cầm quyền Hà
Nội tưởng rằng xóa bỏ những tấm bia kỷ niệm là có thể
xóa bỏ được tội lỗi lịch sử. Xin đừng quên rằng những
hầm mộ chôn sống con cháu nhà Lý vào thế kỷ 13 hiện nay
không còn vết tích, nhưng hành độc ác của Trần Thủ Độ
khi tiêu diệt con cháu nhà Lý, là một vết đen không bao
giờ phai nhạt trên những trang sử dân tộc.
Phải chăng CSVN
muốn bắt chước Nhật Bản, xóa bỏ những tội lỗi trong thế
chiến thứ hai (1939-1945) của Nhật Bản tại Trung Hoa và
tại các nước Á Châu khác, kể cả Việt Nam? Thử hỏi Nhật
Bản có làm được không? Các nước Triều Tiên và Cộng Hòa
Nhân Dân Trung Hoa (CHNDTH) đã lật tẩy âm mưu nầy của
Nhật Bản. Vì đảng CSVN đồng lỏa với quân đội Nhật Bản
trong vụ đói năm 1945, và vì hiện nay quá cần đồng Yên
(Yen) của Nhật Bản, nên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam (CHXHCNVN) không dám đòi hỏi Nhật Bản phải bồi
thường hay xin lỗi về việc hai triệu đồng bào Việt Nam
chết đói năm 1945.
Ngoài ra, khi yêu
cầu xóa bỏ các tấm bia kỷ niệm thuyền nhân tử nạn trên
đường vượt biên tại Indonesia và tại Malaysia, CSVN đã
xúc phạm chẳng những tâm tình của thân nhân những người
quá cố ở trong và ngoài nước, tâm tình của những người
vượt biên, mà còn xúc phạm đến niềm tin thiêng liêng của
người Việt vào sự hiện hữu của linh hồn người quá cố, mà
người Việt tin rằng vẫn tồn tại sau khi thể xác bị tiêu
hủy. Vì vậy người Việt mới thờ cúng ông bà tổ tiên. Vì
vậy người Việt mới lập bia kỷ niệm những thuyền nhân tử
nạn tại Bidong và tại Galang; và cũng vì vậy mà đảng
CSVN mới xây dựng mộ phần to lớn của Hồ Chí Minh giữa
lòng thành phố Hà Nội.
Thử hỏi đảng CSVN
có muốn ai tới đập phá mộ phần ông Hồ ở Hà Nội hay
không, mà CSVN lại muốn đập phá tấm bia kỷ niệm thuyền
nhân tử nạn tại Bidong và Galang? Hay phải chăng CSVN
bất bình vì những người Việt ở nước ngoài chẳng ai quan
tâm đến viếng cái phần mộ gồ ghề của ông Hồ giữa lòng
thành phố rộng lớn rộn rịp người qua lại, trong khi có
nhiều người thành tâm đi hành hương nơi hoang đảo xa xôi
để tưởng nhớ những người vô tội bỏ mình trên biển cả?
Vì vậy CSVN mới hao công tốn sức vận động các nước láng
giềng dẹp bỏ tấm bia nhỏ xíu cô đơn khiêm nhường lặng lẽ
giữa sóng nước mây trời.
Việc CSVN yêu cầu
các nước Malaysia và Indonesia đập phá các bia kỷ niệm
thuyền nhân ở Bidong và Galang thêm một lần nữa cho thấy
tính bất nhất đối chọi nhau giữa các nghị quyết tùy tiện
của CSVN, mà người Việt không lạ lùng gì, vì vụ việc nầy
phủ nhận toàn bộ nghị quyết 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 của
Bộ chính trị đảng CSVN theo đó CSVN kêu gọi những người
Việt ở nước ngoài trở về góp phần xây dựng cố hương.
Tuy nhiên ai mà dám trở về Việt Nam vì một tấm bia nhỏ ở
ngoài hoang đảo mà CSVN cũng không tha? Đồng thời vụ
việc nầy tạo thêm một kinh nghiệm quý báu nữa cho những
ai muốn hòa giải hòa hợp với CSVN, vì những người tử nạn
mất xác trên đường trốn chạy, “cô hồn nhờ gởi tha
hương” (Nguyễn Du, “Văn tế thập lọai chúng sinh”,
câu 91), mà cũng còn bị truy đuổi đến cùng, huống gì là
những người đang sống ở những nước dân chủ tự do.
2.- LÝ DO HÀNH ĐỘNG CỦA MALAYSIA VÀ
INDONESIA
Trong vụ việc nầy, có một câu hỏi cần
được đặt ra là tại sao lại xảy ra vụ đập phá tấm bia kỷ
niệm thuyền nhân tử nạn trong thời gian lãnh tụ cộng sản
là Phan Văn Khải sửa sọan qua thăm Hoa Kỳ? Hiện nay, ai
cũng biết nhóm lãnh đạo CSVN gồm hai khuynh hướng đối
chọi nhau: khuynh hướng thiên về CHNDTH và khuynh hướng
thiên về Hoa Kỳ. Nhiều người cho rằng chính khuynh
hướng thiên về CHNDTH trong đảng CSVN đã thúc đẩy các
nước Malaysia và Indonesia làm việc nầy, để phá rối
chuyến đi của ông Phan Văn Khải.
Thật ra vấn đề không đơn giản như vậy.
Trước hết, chắc chắn có lời yêu cầu của CSVN, các nước
Malaysia và Indonesia mới hành động. Không phải chỉ có
một trong hai khuynh hướng trên đây mà là tòan bộ nhóm
lãnh đạo đảng CSVN đã đưa ra lời yêu nầy. Tuy nhiên
CSVN đưa ra lời yêu cầu khi nào thì chưa được biết.
Chắc chắn không phải chỉ một sớm một chiều mà cả hai
nước láng giềng hành động ngay, bởi vì cả hai nước nầy
đâu có dễ dàng nghe theo lời yêu cầu của CSVN. Họ còn
phải đưa ra thảo luận, bàn cãi trong nội bộ, ít nhất
trong Hội đồng chính phủ, và phải tham khảo ý kiến từ
nhiều phía, nhất là phía Quốc hội. Vậy lời yêu cầu nầy
của CSVN có thể đã được đưa ra khá lâu. Cộng sản Việt
Nam phải thương lượng và nhượng bộ thế nào, cả hai nước
mới quyết định thi hành. Tuy nhiên, tại sao lúc nầy các
nước Malaysia và Indonesia mới đem ra thi hành?
Ngang đây, cần chú ý đến địa lý chính
trị vùng Đông Nam Á. Việt Nam, Malaysia, Indonesia đều
trong trong khối ASEAN. Khối ASEAN đứng trung lập giữa
hai thế lực CHNDTH và Hoa Kỳ. Chắc chắn, chẳng những
CHNDTH mà cả Indonesia lẫn Malaysia đều không muốn Việt
Nam xích lại gần Hoa Kỳ, vì hai lý do:
Thứ nhất, cả ba nước nầy đều không thân
thiện với Hoa Kỳ, dầu vẫn muốn buôn bán với thị trường
Hoa Kỳ. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là đối thủ chính
của Hoa Kỳ. Trung Hoa muốn khống chế Việt Nam để Trung
Hoa thực hiện giấc mộng xâm lăng ĐNÁ. Hai nước
Indonesia và Malaysia là hai nước Hồi giáo, rất chống
đối Hoa Kỳ sau vụ Irak. Cả ba nước nầy không muốn Hoa
Kỳ dính líu vào vùng ĐNÁ qua đường Việt Nam, nhất là sợ
Hoa Kỳ tham dự vào cuộc tranh chấp trên Biển Đông với
nhiều tiềm năng dầu hỏa dưới đáy biển.
Thứ hai, nếu Hoa Kỳ viện trợ và giúp đỡ
Việt Nam canh tân, thì nền kỹ nghệ Việt Nam sẽ có cơ hội
phát triển, vì trước năm 1975, kỹ nghệ Việt Nam Cộng Hòa
đã từng vượt trội so với các nước ĐNÁ. Một khi kỹ nghệ
Việt Nam tiến bộ, thì sẽ cạnh tranh hàng hóa, thị trường
với cả ba nước trên. Chẳng những chỉ có ba nước trên,
mà tất cả các nước ngòai đều không muốn Việt Nam tiến
bộ, để họ hưởng lợi và có thể tuôn hàng vào bán ở Việt
Nam. Ví dụ vào cuối thập niên 70, CSVN cấm thường dân
không được dùng xe gắn máy để CSVN dễ kiểm sóat an ninh,
đồng thời để khỏi tốn ngọai tệ nhập cảng xăng dầu; ai
muốn dùng xăng làm việc gì, thì phải xin nhà cầm quyền
cấp giấy phép. Thế là các nước ngòai vỗ tay hoan hô, vì
Việt Nam nhịn xăng cho họ xài, và nhịn xăng thì làm sao
máy móc chạy được, làm sao sản xuất hàng hóa, làm sao
xuất cảng để kiếm ngọai tệ. Vậy là hàng hóa từ nước
láng giềng nhập lậu qua các đường biên giới, tràn vào
thị trường Việt Nam.
Do những lẽ đó, các nước CHNDTH,
Indonesia và Malaysia đều kh6ng muốn Việt Nam xích lại
gần Hoa Kỳ. Trong ba nước nầy, riêng CHNDTH ảnh hưởng
khá lớn với Indonesia và Malaysia, vì CHNDTH là nước
giàu mạnh nhất trong vùng, và vì số lượng người gốc Hoa
ở hai nước nầy khá đông. Do đó, quyết định và thời điểm
mà hai nước Indonesia và Malaysia đập phá các tấm bia kỷ
niệm không phải chỉ đến từ áp lực của Việt Nam, mà còn
có thể từ CHNDTH và từ chính quyền lợi riêng của hai
nước Indonesia và Malaysia trong tương quan chính trị và
kinh tế vùng ĐNÁ. Vì vậy, họ tung ra ngọn đòn thọc gậy
bánh xe trên đường đi qua Hoa Kỳ của ông Phan Văn Khải.
3.- THÁI ĐỘ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT
Trước hành động của Malaysia và
Indonesia, người Việt ở trong và ngoài nước đều phẫn nộ,
bất bình. Dân chúng trong nước không thê phản ứng vì sự
kềm cặp của CSVN. Chắc chắn đồng bào Việt Nam hải ngọai
không để yên việc nầy, nhất là trong chuyến Mỹ du của
ông Phan Văn Khải. Tuy nhiên, cần chú ý là tòng phạm,
mà cũng có thể là đồng chánh phạm, trong vụ nầy là chính
các nước CHNDTH, Indonesia và Malaysia. Cộng Hòa Nhân
Dân Trung Hoa ném đá giấu tay nên khó điểm danh, nhưng
Indonesia và Malaysia thì quá rõ ràng.
Người Việt rất biết ơn nhân dân và đất
nước Indonesia và Malaysia đã giúp đỡ, đón nhận thuyền
nhân Việt Nam và cho thuyền nhân Việt Nam tá túc một
thời gian trước khi đi định cư, dầu nghĩa cử nầy không
phải hòan tòan vô vị lợi. Tuy nhiên người Việt vô cùng
phẫn nộ trước hành động xúc phạm đến anh linh những
người quá cố, làm thương tổn tâm tình người Việt; do đó
người Việt không thể không bày tỏ vài thái độ cần thiết
đối với chính quyền hai nước nầy.
Thứ nhất, người Việt tránh đi du lịch
hai nước nầy, không sử dụng các hảng hàng không của hai
nước nầy, và không đi máy bay quá cảnh hai nước nầy.
Thứ hai, hàng hóa, thực phẩm của hai nước nầy nhập khá
nhiều vào các siêu thị Á đông ở Bắc Mỹ, ở Úc Châu, trong
đó có cá siêu thị Việt. Do đó, đề nghị người Việt vận
động tẩy chay hàng hóa, thực phẩm của hai nước nầy tại
các siêu thị, và yêu cầu các siêu thị Việt đừng nhập
cảng hàng hóa, thực phẩm của hai nước nầy. Nếu được,
người Việt vận động cả các siêu thị người địa phương thì
càng tốt. Thứ ba, đề nghị các cộng đồng Việt ở khắp nơi
trên thế giới vận đông với các chính khách, nghị sĩ, dân
biểu, quốc hội địa phương có thái độ với Indonesia và
Malaysia, vì hai lẽ:
Thứ nhất, những tấm bia nầy vừa để tưởng
nhớ những thuyền nhân tử nạn, vừa để bày tỏ lòng tri ân
đối với hai nước Malaysia và Indonesia cho tạm trú những
người Việt đi tìm tự do. Nước Việt Nam độc lập và thống
nhất, nhưng thiếu tự do nên dân chúng mới vượt biên.
Nay hai nước nầy đập bỏ tấm bia kỷ niệm những người tử
nạn vì đi tìm tự do, có nghĩa là hai nước nầy đã đi
ngược với truyền thống tinh thần tôn trọng tự do.
Thứ hai, hành động thiếu sáng suốt của
nhà cầm quyền hai nước nầy, đã xúc phạm tâm tình, truyền
thống tôn trọng và thờ cúng linh hồn người quá cố, cũng
như đời sống tâm linh của người Việt. Các nước
Indonesia và Malaysia hành động vì quyền lợi riêng của
họ, nên chỉ khi nào quyền lợi của họ bị thiệt thòi, họ
mới có thể thay đổi thái độ.
Cuối cùng, có một vấn đề không thể quên
được là cộng đồng người Việt hải ngọai đã lập được những
tượng đài kỷ niệm chiến binh Việt Nam Cộng Hòa (ở Hoa
Kỳ, Úc Châu), tượng đài kỷ niệm cuộc vượt biên (Mẹ bồng
con, ở Ottawa, Canada), nhưng cộng đồng người Việt chưa
chọn một ngày kỷ niệm để hằng năm làm lễ tưởng nhớ những
đồng bào tử nạn trên đường vượt biên. Chúng ta đã mang
ơn các chiến sĩ VNCH, và hàng năm, chúng ta làm lễ tưởng
nhớ các chiến sĩ VNCH trong Ngày Quân Lực (19-6). Chúng
ta cần lưu ý rằng chúng ta cũng rất mang ơn những người
tử nạn trên đường vượt biên, vì cái chết oan khiên của
những đồng bào nầy đã làm cho cả thế giới kinh hòang xúc
động, nên cả thế giới đã rộng mở vòng tay cưu mang những
người vượt biên. Những đồng bào tử nạn trên đường vượt
biên là những anh hùng vô danh đã hy sinh để người Việt
hải ngọai có được sự nghiệp hôm nay. Đồng thời ngày
tưởng niệm cũng sẽ là ngày tri ân các dân tộc và đất
nước đã cho chúng ta tạm trú và định cư. Người Hoa Kỳ
và Canada đều có “Remembrance Day”. Xin cộng đồng người
Việt hãy tự tổ chức riêng cho mình truyền thống một
“NGÀY TƯỞNG NHỚ VÀ VINH DANH NHỮNG NGƯỜI TỬ NẠN TRÊN
ĐƯỜNG VƯỢT BIÊN”. Có như thế, mới hy vọng những người
tử nạn trên đường vượt biên, dầu có bị chết hai lần, có
thể yên giấc trong truyền thống của cộng đồng người Việt
hải ngọai. Và việc nầy sẽ làm đậm nét hơn nữa trang sử
vượt biên trong toàn bộ lịch sử dân tộc. Kính mong sẽ
có một ngày kỷ niệm như thế. Mong lắm thay!
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 19-6-2005) |