* MENG YEW CHOONG
Lời Tòa Soạn: Bài dưới đây
về tình trạng của đảo Bidong, một thời từng là
chốn nương thân của thuyền nhân Việt Nam hồi các
thập niên 1970 và 1980, được trích từ trang web www.pinganchorage.com.my,
trang nhà của công ty du lịch Ping Anchorage tại
tiểu bang Terengganu của Mã Lai Á. Nhật báo
Người Việt xin giới thiệu đến độc giả bản dịch
tóm lược của Vann Phan từ bản Anh ngữ của Meng
Yew Choong viết vào ngày 29 Tháng Chín năm 2002.
Quá khứ khác thường cuả đảo
Bidong (Bi-đông) trong vai trò một trại tị nạn
nay đã trở thành một hấp dẫn du lịch âm thầm đối
với nhiều người ngày xưa là thuyền nhân Việt
Nam, một chuyển biến được ghi nhận qua lời phát
biểu của Bộ Trưởng Văn Hoá, Thanh Niên và Du
Lịch Mã Lai Á Datuk Paduka Abdul Kadir Sheikh
Fadzir tại Quốc Hội vào hôm 25 Tháng Chín, 2002.
Ấy thế mà hiện nay người ta
vẫn chưa có hoạt động nào nhằm bảo tồn những di
tích ngậm ngùi kia cuả nơi một thời từng là trại
tị nạn nhộn nhịp. Bài viết sau đây về hòn đảo
này là của Meng Yew Choong.
“Ngày trở lại Bidong, tôi
như được gợi nhắc lại sức mạnh huyền bí cuả
thiên nhiên và những may mắn kỳ diệu giúp tôi
sống sót qua cuộc hải hành gian truân trong một
chiếc thuyền lậu nước dài 10 mét rưỡi với 61
hành khách trên đó. Tôi nhớ lại hình ảnh những
ngưòi đàn ông Mã Lai da sậm mặc sà-rông đi trên
hai chiếc thuyền đã hết sức tử tế đem cho chúng
tôi nước uống và thức ăn để chúng tôi có sức
tiếp tục cuộc hành trình. Vâng, hồi Tháng Ba rồi
tôi đã gặp lại họ. Trong trái tim tôi, họ là
những người anh hùng và là những thiên thần.
Suốt quãng đời còn lại, tôi sẽ không bao giờ
quên được hình ảnh đó... Trong chuyến đi này,
tôi cũng còn được nhắc nhở rằng hầu hết dân
chúng nơi đây la những con người tốt bụng. Thật
là cao đẹp khi nhận chân rằng những người mà tôi
chưa hề biết và chưa một lần gặp mặt đã đưa tay
ra giúp đỡ và rồi còn dành riêng ra một hải đảo
để đáp ứng nhu cầu tạm trú của những thuyền nhân
như chúng tôi.” --Daniel Nguyễn, thuyền nhân cũ
trên đảo Bidong.
Daniel Nguyễn nằm trong số
1.6 triệu người Việt Nam mà từ năm 1975 cho tới
cuối thập niên 1980 đã thực hiện những chuyến
hải hành đầy gian nguy ra đi từ quê hương đen
tối, bất định cuả họ trên đường mưu tìm một chốn
trú thân yên ổn xa tít bên kia Biển Nam Hoa
(Biển Đông).
Gần 255,000 người trong số
đó đã kết thúc cuộc hành trình trên những bờ
biển cuả Mã Lai Á và hầu hết đã đươcï đưa về trú
ngụ trên hòn đảo nhỏ bé Bidong, ngoài khơi tiểu
bang Terengganu.
Nhưng Bidong là cái tên
không khơi động được gì trong lòng thế hệ trẻ
tại Mã Lai Á hôm nay. Một đồng nghiệp đã ngót 30
tuổi cuả tôi chẳng hề nghe tới tên hòn đảo đó.
Còn những ai đã có hoài niệm gì thì niềm nhớ kia
cũng mơ hồ, xa vắng, và họ không hoàn toàn hiểu
được hết ý nghĩa cuả hòn đảo diện tích chỉ vỏn
vẹn có 260 éc-ta kia.
Nhắc qua lịch sử một chút:
Toán thuyền nhân (tên gọi thông dụng của họ) đầu
tiên đã trốn chạy khỏi Miền Nam Việt Nam sau khi
Cộng Sản Bắc Việt đánh chiếm thủ đô Sài Gòn (mà
sau này được đặt tên lại là Thành Phố Hồ Chí
Minh) vào năm 1975.
Và rồi tình hình trở nên tệ
hại thêm vào năm 1978 khi Trung Quốc bất ngờ đưa
quân xâm lăng vùng cực bắc cuả Việt
Nam hồi đó vừa mới thống
nhất lại, làm dậy lên những tình cảm dữ dội
chống dân thiểu số người Việt gốc Hoa tại Việt Nam.
Vì tải sản cuả họ bị nhà cầm
quyền tịch thu và cơ sở làm ăn cuả họ bị đóng
cửa, nhiều người Việt gốc Hoa đành trông cậy vào
chuyện phải trả giá cao bằng vàng để mua cho
bằng được con đường an toàn rời khỏi đất nước
từng là quê hương thứ hai cuả họ.
Và thế là khởi đầu cho cuộc
di tản lớn cuả người Việt Nam trên những con
thuyền thường là mong manh, quá tải và không đủ
sức đi biển băng qua đại dương trên đường tìm
kiếm mợt tương lai tươi sáng hơn. Và đó cũng là
lý do vì sao mà những người như Nguyễn đã đặt
chân đến chốn này.
Nguyễn bước chân lên bờ biển
Mã Lai Á vào lúc đêm tối ngày 14 Tháng Tư, 1980.
Hai ngày sau, anh được chuyển về đảo Bidong. Bảy
tháng sau, anh lại rời hòn đảo này để lên đường
đi định cư tại Hoa Kỳ.
Mặc dù điểu kiện sống trên
đảo còn lâu mới đạt mức lý tưởng, hòn đảo vẫn
tiêu biểu cho một chốn nương thân đối với những
kẻ đang trốn chạy chế độ cộng sản áp bức vào lúc
đó.
“Nghĩ lại, thời gian mà tôi
còn ở Bidong là thời điểm đặc bệt nhất trong
đời. Chúng tôi đã sống
khá vất vả, nhưng tôi vẫn nghĩ đó là một kinh
nghiệm ấm lòng,” Nguyễn tâm sự qua email như
thế.
Chẳng mấy chốc, những đoàn
người lúc đầu chỉ nhỏ giọt đổ lên bờ biển Mã Lai
Á đã biến thành những cơn lũ lụt, và các tổ chức
cứu tế không thuộc chính phủ đã phải kêu gọi
Liên Hiệp Quốc và chính phủ Mã Lai Á ra tay giúp
đỡ.
Vào Tháng Tám năm 1978,
chính phủ Mã Lai Á đã quyết định để riêng đảo
Bidong ra làm một trại tị nạn, và dân chúng điạ
phương từ nay không được lai vảng tới.
Vào lúc cao điểm, Bidong
chứa tới 40,000 dân tị nạn, và đó thật sự là là
một Sài Gòn nho nhỏ với những căn nhà gỗ mái
tôn. Đêm đêm, dân tị nạn trên đảo vẫn có thể
nhìn thấy ánh đèn điện chập chờn từ đất liền của
Mã Lai Á (ít nhất thì cũng vào lúc trước giờ
giới nghiêm thường kéo dài từ 11 giờ rưỡi đêm
tới 6 giờ sáng).
Nhà cầm quyền Mã Lai Á –Phủ
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đứng ra bảo trợ cho
trại tị nạn trong khi Hội Lưỡi Liềm Đỏ cuả Mã
Lai Á điều hành công việc hằng ngày trên đảo--
đã xây cất một trung tâm hành chánh, một trường
học, một bệnh viện, một thư viện và đã cho phép
dân tịn nạn được dựng lên những hàng quán. Các
tín đồ tự tay xây dựng một ngôi chuà thờ Phật
cũng như một nhà thờ Công Giáo mà ngày nay vẫn
còn đứng đó.
Cho đến năm 1989, chính phủ
Việt Nam đồng ý việc cho các thuyền nhân
hồi hương, một biến chuyển mà sau cùng chấm dứt
những cuộc vượt biển đầy hiểm nguy cuả dân
chúng.
Khoảng năm 1981, đảo Bidong
không còn cần thiết phải là một trung tâm dành
cho người tị nạn nữa, và chiùnh phủ liên bang Mã
Lai Á đã chính thức trao trả hòn đảo này lại cho
chính quyền tiểu bang Terengganu. Nhưng quy chế
giới hạn việc đi lại của dân chúng địa phương
tới đảo vẫn còn tiếp tục cho tới năm 1999.
Ngay cả khi cuối cùng du
khách được phép tới đây viếng thăm, việc chụp
hình trên đảo vẫn không được phép, và hòn đảo
vẫn được nhân viên an ninh canh gác.
Khi các nhà báo của tờ
WeekEnder đến thăm đảo vào Tháng Sáu năm 1999,
hầu hết các toà nhà trên đảo đều ở trong tình
trạng sắp sụp đổ, nếu không thì phần lớn cũng
chịu cảnh dậu đổ, bìm leo hay mặc tình cho cỏ
hoang che phủ.
Hai tuần trước đây, khi tôi
tới thăm đảo, tình trạng mục nát càng thêm tệ
hại; tôi đã bị vấp ngã vì chân sụp xuống một
miếng gỗ lót nền trong ngôi nhà thờ.
Và dẫu cho thiên nhiên có để
yên cho tạo vật đứng đó một mình thì bọn phá
hoại cũng không chịu làm như thế. Sau khi Đảng
Hồi Giáo Mã Lai (PAS) thắng cuộc tổng tuyển cử
vào Tháng Mười Một năm 1999, những kẻ thuộc giới
phá phách các công trình đã gây nhiều thiệt hại
cho các di vật có giá trị lịch sử (và có tiềm
năng du lịch) trên đảo.
Theo lời những chủ ghe điạ
phương, không còn có Rela (lính gác điạ phương)
canh gác trong khu vực sau năm 1999 vì “ chính
phủ mới không muốn trả tiền mướn họ.”
Kể từ đó, nhiều ngôi nhà đã
bị cạy ván, và nhiều ngôi nhà khác thì bị đốt
cháy (vụ mới đây nhất là vào Tháng Ba khi có hai
nhà bị đốt).
Chiếc cầu tàu duy nhất phục
vụ cho hòn đảo cũng đã bị bóc sạch ván và chỉ có
cái nền bằng bê-tông là tồn tại mà thôi. Những
đồ gì còn lại trong xưởng huấn nghệ đều bị đập
phá, và cả những bức tượng thờ trong chùa và nhà
thờ cũng bị hư hại nữa.
Còn sống sót chăng là nhiều
tấm biển bằng xi-măng được dựng lên để biểu lộ
lòng biết ơn vô tận cuả thuyền nhân đối với Đấng
Tối Cao đã giúp họ sống sót qua những chuyến hải
hành cũng như để tưởng niệm những người đã nằm
xuống. Trên đường, còn có những mộ bia đánh dấu
mồ chôn những người đã chết khi vượt biển hay
sau đó đã qua đời trên đảo, nhưng chỉ có người
nào biết chỗ mới tìm được mà thôi.
Những sự kiện đó không có
nghĩa là chính phủ Mã Lai Á sẽ không có lợi ích
gì khi bỏ công, bỏ của ra bảo tồn những kiến
trúc trong trại tị nạn. Kể từ năm 1992, một năm
sau khi chính phủ liên bang trả lại hòn đảo này
cho chính quyền Terengganu, có tin rằng đã có
một đề nghị hãy bảo trì những di tích này để
những thuyền nhân có thể trở về xem lại đoạn đời
quá khứ của mình.
Điều đáng buồn là vẫn chưa
có gì được đem ra thực hiện cả. Nhưng sự hứng
thú dường như lại được hồi sinh khi viện bảo
tàng tiểu bang Terengganu mở một cuộc triễn lãm
ảnh về trại tị nạn Bidong kéo dài một tháng, cho
tới ngày 6 Tháng Mười năm rồi mới chấm dứt.
Theo vị phó giám đốc viện
bảo tàng, Che Mohd Azmi Ngah, cuộc triển lãm
nhằm đề cao ý thức về quá khứ lý thú cuả hòn
đảo, bởi vì “nhiều người Mã Lai đã không hiểu
biêt tí gì về nơi này.”
Và chính vì sự thiếu hiểu
biết đó mà nhiều di tích trênh đảo đã bị phá
hoại, hầu hết là do các ngư dân điạ phương.
“Người ta vẫn hy vọng rằng
khi dân chúng ý thức đầy đủ hơn, chính phủ sẽ có
động lực để thực hiện việc bảo trì những gì còn
sót lại vào lúc này,” Phó Giám Đốc Mohd Azmi
giải thích như thế.
Ông Mohd Azmi nói thêm rằng
chính quyền tiểu bang cũng đã mở một cuộc hội
thảo hồi đầu năm nay bàn về cách nào hay nhất để
phát triển hòn đảo.
Trong khi dường như chính
quyền tiểu bang bắt đầu nhận ra tiềm năng du
lịch cuả đảo Bidong, câu hỏi lớn vẫn là: Loại du
lịch nào cần được khai thác? Và, quan trọng hơn,
ai sẽ là thành phần trước hết có trách nhiệm tạo
dựng lại các di tích đó?
Bất kể chuyện đảo Bidong nom
như thế nào ngày nay, các cư dân cũ cuả Bidong
cùng con cái họ vẫn không hề thiếu cảm hứng muốn
thăm lại hòn đảo xưa.
Nguyễn nói rằng anh tin là
hầu hết những dân tị nạn Việt Nam trước đây từng
sống tại Bidong “nhất định là sẽ hưởng ứng” việc
trở lại viếng thăm đảo.
Đối với anh, chuyến thăm
Bidong vào hồi Tháng Ba của anh “thì cũng giống
như là một cuộc hành hương tinh thần có tính
cách riêng tư.”
“Cá nhân tôi, tôi thích ở
lại đêm trên đảo, nếu có thể. Khi con cái tôi
khôn lớn, tôi muốn đưa chúng tới thăm viếng
Bidong để nhìn thấy một đoạn lịch sử cuả gia
đình.”
Nguyễn nói thêm rằng anh
“hiểu rõ tình hình kinh tế không cho phép người
ta bỏ công của ra gìn giữ đảo Bidong” cho nên
anh cũng không lấy làm buồn lắm nếu chuyện đó
không thành.
“Tuy nhiên, tôi vẫn có cảm
tưởng bị mất mát một cái gì đó khi nhìn thấy hòn
đảo trong tình trạng hoang phế như vậy. Bidong
là một kinh nghiệm đau thương mà chúng tôi,
những người tị nạn cũ, có thể không muốn làm
sống laiï. Nhưng đó là một phần trong di sản cuả
chúng tôi cũng như đó là một biến cố sẽ sống mãi
trong dòng lịch sử của dân tộc Mã Lai.”
“Giải pháp lý tưởng nhất là
hai phía chúng ta cùng nhau làm việc để duy trì
một nơi chốn lịch sử cho đảo Bidong. Bidong phải
mãi là ngọn hải đăng của Tự Do, mãi là một đặc
trưng của trái tim nhân đạo và lòng hiếu khách
cuả dân chúng địa phương, và mãi là một biểu
tượng cuả tình bạn thân thiết giữa hai dân tộc
Việt Nam và Mã
Lai.
(Vann Phan)