|
Cô Trúc Ly
từ Mỹ sang Singapore khi chúng tôi còn ở tiểu bang
Terengganu. Chúng tôi đã nhờ Ông Wong đến phi trường đón
Trúc Ly về khách sạn. Chiếu tối ngày 10-7 chúng tôi về
tới Singapore. Thế là sáng ngày 11-7 cả đoàn chúng tôi
lên xe Ông Wong để cùng đi trở lại Malaysia, đưa Trúc Ly
và Xuân Hùng đến Johor. Xuân Hùng còn có quen biết với
Ông Alcoh Wong trong chuyến đi hồi tháng 3 nhưng Trúc Ly
thì chẳng quen người cũng không biết đường đi nước bước.
Ðến ngày hôm sau, trong thất vọng, vào giờ phút cuối
cùng họ tìm được ngôi mộ thân phụ của Trúc Ly đã qua đời
tại nơi này năm 1980. Ngôi mộ không một tấm bia, không
có vết tích, chỉ còn ghi dấu trên bản đồ với một “lot
number” may mắn tìm thấy được trong hồ sơ ở địa phương.
Từ câu chuyện cảm động này, chúng tôi nhận thấy việc tìm
lại, ghi dấu mộ phần và di tích người Việt tỵ nạn trong
toàn khu vực Ðông Nam Á là một việc làm cần thiết để con
cháu thân nhân những người qua đời còn có cơ hội tìm lại
được người thân. Ðó chính là một trong những trọng trách
của Uỷ Ban Bảo vệ Di tích Người Việt Tỵ nạn mà chúng tôi
vừa mới thành hình lúc 16g30 ngày 09-7-2005.
Trần
Ðông
Giám đốc
Văn khố Thuyền nhân Việt nam
Về
Johor tìm mộ ba
Cũng như mọi năm, gia
đình tôi chỉ đọc kinh, xin lễ, chị em xum họp để kỷ niệm
ngày Ba chúng tôi qua đời. Năm nay, Ba chúng tôi qua đời
được 25 năm bên Mã Lai.
Một tuần sau đó, tôi
tự dưng nảy ra ý định mua miếng đất để lo phần hậu sự
cho Mẹ. Ý của Mẹ tôi là muốn nằm ở gần biển, vì thế tôi
đã chọn nghĩa trang The Good Shepherd, cách bãi biển
khoảng 5 dặm. Khi tôi nhìn ngắm lại miếng đất cỏ xanh
tươi đó, tôi cảm thấy tim nhói đau khi nghĩ tới Ba, bao
nhiêu câu hỏi dồn dập hiện lên trong đầu, xót xa khi
nghĩ đến Ba đã 25 năm qua, chẳng môt nén hương hoặc một
bóng người thăm viếng. Trong đầu tôi nảy ra ý định nhất
quyết phải tìm ra mộ cuả Ba, mang hài cốt đến Mỹ để sau
này chôn cạnh Mẹ.
Kỷ vật Ba để lại cho
tôi là hai lá thư Ba viết cho hai Bác ở Mỹ trong khi chờ
đợi bảo lãnh đi định cư nước thứ ba. Hai lá thư Mẹ viết
cho Ba trong thời gian Ba đang nương náu nơi nhà người
quen khi công chuyện phục quốc bị bể. Một thư của chị
tôi viết méc với Ba là tôi không nghe lời Mẹ, mấy tấm
hình ở Pulau Tengah, một tấm hình lúc Ba còn trẻ với hai
câu thơ ở mặt sau, một bài Tâm Niệm mà tôi hầu như thuộc
làu làu, và một tấm giấy nhỏ nói Ba tôi qua đời tại
Jahor Hospital và chôn ở Jahor, Malaysia. Trong mấy tấm
hình chụp ở Pulau Tengah, có một tấm hình ai đó chụp lúc
Ba qua đời tại nhà thưong, tôi đã nhìn tấm hình ấy bao
lần và sợ hãi, rồi liệng đi cách đây cũng 23 năm rồi.
Hình ảnh người cha chết một cách ghê sợ ấy không sao
phai mờ trong óc tôi, từ sợ sệt đã khiến tôi kiên cường
hơn và thương Ba nhiều hơn sau khi hiểu được cái chết
tức tưởi của Ba.
Đọc đi đọc lại những
dòng chữ trong thư thì được biết Ba tôi tới Pulau Tengah
năm 1979. Vì vết thương bị hải tặc Thái đánh mà phải xin
vô Mersing để chữa trị, sau đó có lẽ vì vết thương trở
nên nặng hơn lên được chuyển đến Johor Hospital ở Johor
Bahru. Mọi liên lạc với Ba thì qua địa chỉ của cha
Philip Malan, Daisamy Catholic Church, Kolan Geraga, Ulu
Tirem, Johor. Hành trang với chỉ bấy nhiêu chi tiết
nhưng tôi tin là tôi sẽ tìm được mộ Ba.
o0o
Chẳng hiểu sao tôi lại
chọn đài phát thanh Little Saigon mà gọi tới và được anh
Thái cho biết website
www.e terengganu.com của ông Alcoh Wong ở Terengganu
bên Mã Lai có liệt kê một số ngôi mộ của người Việt ở Mã
Lai. Tôi lại được biết thêm là một phái đoàn bên Úc cùng
với Mỹ trong tháng 3 vừa qua đã viếng thăm hai đảo
Bidong và Galang và cho tôi biết thêm chi tiết cuả
chuyến đi này qua website
www.bidonggalang.com. Tôi tiếc ngẩn ngơ, dẫu biết
rằng Ba không ở hai nơi này nhưng tôi nghĩ là nếu tham
dự được chuyến đi vừa qua thì ít ra tôi cũng sẽ có khái
niệm về Mã Lai và hy vọng sẽ giúp tôi trong việc tìm
kiếm mộ Ba.
Website của ông Alcoh
Wong chỉ bao gồm khu vực Terengganu và Kelantan nhưng
tôi hy vọng trong trang Guest thì tôi sẽ tìm ra người
nào đó đã ở Pulau Tengah, nơi mà Ba tôi đã từng ở, hoặc
một người nào đó ở Mersing thì có thể giúp tôi đến thành
phố Mersing để tìm ra nhà thương mà Ba tôi đã được ở đó
để chữa trị vết thương. Mọi phút rảnh rỗi trong ngày tôi
đều có mặt trong trang Guest để đọc từng message, hầu
mong tìm ra ai đó. Tôi cũng đã tìm ra được mấy người
nhưng qua vài lần liên lạc thì chẳng đạt được kết quả
gì.
Tôi liền nảy ra ý định
email cho ông Alcoh Wong kể về hòn đảo Pulau Tengah và
về người cha qúa cố của tôi. Ông Wong email lại và hứa
sẽ giúp tìm thêm xem có người Việt tỵ nạn nào đã qua đời
ở Mersing và Pulau Tengah. Sau đó ông cho biết là ở
Pulau Tengah có khoảng 13 ngàn người đã tới đó. Có một
số người Việt chết ở Mersing và có lẽ đã chôn trong
nghĩa trang của người Hoa. Tuy biết Ba không chết ở
Mersing nhưng với chi tiết trên tôi vẫn mong sẽ có phái
đoàn hoặc tìm được ai đó đi Mersing và Pulau Tengah, để
tôi có thể đi theo, mà tìm hiểu những nơi dừng chân cuối
cùng của Ba.
Từ website
www.e terengganu.com và website
www.bidonggalang.com tôi tìm tới website
www.bidong.org. Trong trang Guest cùa các website
này tôi tìm thêm được vài người trước đây đã ở Pulau
Tengah và một người duy nhất ở Mersing. Anh này đã giúp
và chỉ cho tôi đường đi từ Singapore, qua Johor Bahru để
đi đến Mersing.
Sau này cũng trong
website
www.bidong.org tôi tìm được một người hồi xưa cũng
đã từng ở Pulau Tengah nhưng tới trại tỵ nạn trước Ba
tôi. Qua mấy lần email qua lại tôi chợt nhận ra người
này có rất nhiều điểm giống tôi, hay nói cho đúng hơn là
tôi giống người này. Tôi cảm nhận dường như giữa tôi với
người này có một sự liên hệ vô hình nào đó. Tôi không
biết làm sao diễn tả được, và tôi cảm thấy sợ sợ. Khi
khám phá ra ngay cả đứa con đầu lòng của chúng tôi đều
đặt tên giống nhau, và nếu tôi đã có con gái thì tên của
con tôi cũng sẽ giống như tên của con thứ hai của người
này, điều này đã khiến tôi thật sự sợ hãi đến nỗi phải
thốt lên là “có ma”.
Không phải một chuyện
mà bao sự trùng hợp một cách lạ lùng mà cả hai chúng tôi
đều cảm thấy như có một sợi dây vô hình nào đó xui khiến
chúng tôi phải liên lạc với nhau. Sau này tôi mới biết
người này tên là Châu Xuân Hùng và đang ở Úc. Tôi kể
chuyện này cho Mẹ tôi nghe và Mẹ tôi nói là Mẹ tin rằng
linh hồn Ba phù hộ và xui khiến con liên lạc với chú
Hùng để chú ấy giúp con tìm mộ Ba.
o0o
Ngày Thứ Hai, July
4th, chú Hùng email nói ngày Thứ Năm tuần này sẽ có phái
đoàn đi Galang và Bidong về vụ Bia Tưởng Niệm Thuyền
Nhân, và chú ấy sẽ đến Mersing thâu thập tin tức về một
số người Việt đã chết ở đó và cũng sẽ đến thăm Pulau
Tengah, nơi mà chú ấy đã từng mơ ước sẽ có ngày trở lại.
Chú Hùng nói với tôi là khi đến Mersing chú ấy sẽ nhờ
người một người bạn của ông Alcoh Wong dẫn đi tìm mộ của
Ba tôi và khi có kết qủa thì sẽ báo tin cho tôi. Không
chần chờ tôi nhất định phải đi theo phái đoàn để tới
Mersing và nhất là hòn đảo Pulau Tengah đó. Tôi chỉ biết
làm sao mua được vé máy bay qua Singapore để kịp chuyến
xe bus đi Mersing vào sáng thứ Hai tuần tới.
Hành trình tôi mang
theo chỉ vọn vẹn ít tiền, một tấm hình của Ba lúc còn
trẻ, bài Tâm Niệm và địa chỉ của cha Philip Malan. Vali
quần áo cũng em tôi thu xếp, chỗ ở khi tới Singapore tôi
cũng không nghĩ tới, khi tới Mersing thì ra sao tôi cũng
chẳng màng. Tâm hồn tôi không cảm thấy lo âu, sợ sệt hay
suy tư mà thật an lành cất bước.
Chỉ trong vòng vài
tiếng đồng hồ trước khi lên máy bay, tôi nhận rất nhiều
email từ những người đã lo lắng chỗ ăn và chỗ ở cho tôi
khi tới Singapore và Mersing. Thật lạ lùng thay, tôi
chẳng biết họ nhưng không hiểu sao họ lại quan tâm và
hết sức giúp đỡ tôi. Tâm hồn tôi không một chút lo lắng
mà bình thản vô ngần.
o0o
Mersing, thứ Hai July
11, tôi đã gặp một số người thật dễ thương đã cùng tôi
sánh vai tìm mộ Ba. Ông Wong ở Singapore đã lái xe đưa
chúng tôi tới Johor, cô Anne làm việc chung với Ông
Wong. Chú Trần Ðông, Ban Tổ chức chuyến đi tháng 3 vừa
qua và Chú Châu Xuân Hùng ở Melbourne. Tới nghĩa trang
Mersing chúng tôi còn gặp được Ông Alcoh Wong ở
Terengganu tới cùng vợ chồng Ông Heng Hao đã chờ chúng
tôi từ trước. Có nhiều ngôi mộ rải rác khắp ngọn đồi,
trong số đó là khoảng 50 ngôi mộ người Việt, cỏ mọc ngập
lối đi, những ngôi mộ không một ai chăm sóc nay chỉ còn
tấm bia đá với mặt đất phẳng lì. Chúng tôi đã đến từng
ngôi mộ để đọc tên người quá cố, tìm ra được một ngôi mộ
có cùng họ Ba tôi, nhưng tên thì khác và người này trẻ
hơn Ba tôi.
 |
Sau khi ăn trưa xong,
chúng tôi ra bến tàu. Con tàu nhỏ đang sẵn sàng chờ đợi
để đưa chúng tôi ra đảo Tengah. Trên con tàu ngoài chú
Hùng và tôi, còn có ông Alcoh Wong và ông bà Heng Hao.
Ông Wong, cô Anne vá chú Ðông đã trở về Singapore. Chú
Hùng kể cho tôi biết là con tàu vượt biên của chú cũng
nhỏ giống như con tàu này, chiều dài khoảng 11 mét và
chiều ngang khoảng 2 mét. Con tàu của chú đã cập bến
Mersing, được phép đậu ở bờ sông này 3 ngày, sau đó được
chuyển qua Pulau Tengah. Mersing là nơi hàng trăm con
tàu tỵ nạn đã đến, tất cả đều được người dân địa phương
tiếp đón niềm nở, do đó chú ấy không bao giờ quên được
những kỷ niệm của những ngày đầu được đến bến bờ tự do.
Khi gần đến Pulau
Tengah, chú Hùng chỉ cho tôi thấy hòn đảo nhỏ nằm giữa 2
hòn đảo lớn, một đảo có tên là Pulau Besar và một hòn
đảo nữa mà chú ấy không nhớ tên gì. Chú ấy nói với tôi
Pulau Tengah nhìn từ xa trông giống như một “bà mẹ đang
mang bầu”, thật vậy, nơi đây đã nuôi dưỡng biết bao
nhiêu thuyền nhân Việt Nam.
Không ngờ Pulau Tengah
lại đẹp và thơ mộng đến thế. Bãi cát trắng xóa, nước
biển thật yên lặng và xanh ngắt, tôi giật mình vì chợt
nhận ra tâm hồn mình cũng như mặt nước biển Pulau
Tengah, êm đềm và thảnh thơi. Một vài di tích của người
tỵ nạn ở Pulau Tengah vẫn còn nhất là mấy cái giếng nước
có ghi khắc một số tên và chữ ký của những người đến
Pulau Tengah. Ngoài ra còn một cầu thang trước đây dùng
để leo lên ngọn núi cao gần đó để đi qua bãi biển bên
kia. Còn một vài tấm vách của những căn nhà mà người tỵ
nạn đã từng ở. Trên ngọn đồi cao còn có một ngôi mộ của
một em bé sinh ra tại Pulau Tengah, đã chết và được chôn
ở nơi đây.
Khi trở lại đất liền
tôi cũng được đến nhà thương Mersing, nay đã trở thành
Trạm Y Tế và một nhà thương mới đã được xây ngay bên
cạnh nhà thương cũ. Thế là ngày hôm nay tôi đã một phần
nào được toại nguyện, vì đã được đặt chân đến sông
Mersing, qua Pulau Tengah và đến nhà thương Mersing,
những nơi mà Ba tôi đã từng đi qua. Tuy chưa có tin tức
gì của Ba nhưng lòng tôi vẫn yên lặng như mặt biển Pulau
Tengah.
o0o
Thứ Ba, July 12, 2005,
trước khi khởi hành đi Johor, chú Hùng nói với ông Alcoh
Wong và Heng Hao là trước khi tạm biệt Mersing chúng tôi
muốn đến viếng thăm những ngôi mộ của người tỵ nạn một
lần nữa để cầu nguyện cho những người này. Chú Hùng đã
đến từng ngôi mộ thắp nhang và âm thầm cầu nguyện, còn
tôi thì thích gieo hột bông có tên là California Poppy.
Poppy nổi tiếng bên Cali vào mỗi mùa hè nóng bức, bông
này nó không cần nước mà bông hoa vàng thắm cả một khung
trời. Tôi hy vọng với khí hâu nóng như ở Mã Lai, bông
Poppy sẽ nở vàng khắp ngôi mộ của những người Việt xấu
số, bông hoa vàng như một biểu tượng cho những lá cờ
vàng tung bay giữa bầu trời xanh mơ.
Chúng tôi quyết định
tới nhà thờ dựa theo địa chỉ của Ba để lại mà tìm cha
Philip Malan. Chúng tôi không biết năm nay cha đã bao
nhiêu tuổi và có còn trên dương thế hay không? Đến nhà
thờ thì may mắn gặp được Cha Xứ và được biết cha Philip
Malan đang giúp xứ khác. Cha Xứ ở Ulu Tirem gọi điện
thoại cho cha Philip Malan và sau đó cha Philip nói
chuyện với chú Hùng. Được biết là trước đây cha vẫn
thường hay đến trại tỵ nạn Pulau Tengah để dâng thánh lễ
vào mỗi ngày Chúa Nhật, cha nói là cha quen biết nhiều
người Việt và có giúp công việc chuyển thư từ cho những
người ở trong trại tỵ nạn, nhưng đã hơn 25 năm rồi, cha
không thể nào nhớ tên của từng người một. Tuy vậy cha đề
nghị là chúng tôi nên đến nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên
Tội ở Johor Bahru mà hỏi thăm, vì nếu chết ở Johor Bahru
thì rất có hy vọng là đã được mang đến nhà thờ để làm
nghi thức an táng trước khi mang đi chôn cất.
Cha Xứ ở Ulu Tirem đề
nghị chúng tôi trước khi đến nhà thờ hãy ghé vào nghiã
trang công giáo xem coi có chôn ở đó không, vì ở nghiã
trang này có dành một phần đất để chôn những người không
có thân nhân. Khi tới nghiã trang chúng tôi đã đến xem
từng ngôi mộ nhưng không tìm thấy mộ của Ba. Mọi người
đều có vẻ như buồn cho tôi, nhưng không hiểu làm sao,
tâm hồn tôi vẫn lặng yên và không một chút giao động.
Sau đó chúng tôi tìm
đến nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và được Cha Xứ
cho chúng tôi xem cuốn sách có ghi tên của những người
đã được làm lễ an táng tại nơi đây, nhưng tôi cũng không
tìm thấy tên của Ba.
Chỉ còn hai nơi duy
nhất mà chúng tôi đặt nhiều hy vọng, đó là nghĩa trang
của người Hoa và nhà thương Johor ở Johor Bahru. Trước
khi đi qua Mã Lai, tôi đã gọi điện thoại đến nhà thương
Johor để hỏi thăm về tin tức của Ba, nhưng họ cho biết
là sau 20 năm thì họ không còn giữ hồ sơ bịnh nhân nữa.
Tôi cũng đã gọi điện thoại đến Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp
Quốc thì họ cũng cho biết là hồ sơ không còn lưu trữ nữa
vì đã hơn 20 năm rồi.
Khi tới nghĩa trang
của người Hoa, nhân viên văn phòng cho biết nghĩa trang
này không bao giờ chôn người ngoại quốc. Còn nghĩa trang
kia thì rộng mênh mông làm sao có thể tìm thấy mộ và đã
25 năm rồi thì không còn hồ sơ chôn cất gì đâu. Ông Heng
và ông Alcoh buồn bã nói với tôi “sorry Ly, we do our
best.” Mắt hai ông buồn thỉu buồn thiu, nhưng không hiểu
sao, lòng tôi vẫn yên lặng, không một chút giao động.
Nguyên chuyến đi tôi luôn thầm thì cùng Ba là “Ba ơi,
con tìm Ba nè, Ba dắt con tới với Ba nha”.
Trong khi mọi người
đang tỏ vẻ thất vọng thì từ trong văn phòng của nghĩa
trang, chú Hùng đến bên tôi níu tay tôi và nói là tìm
thấy mộ Ba rồi, chôn ở một nghĩa trang gần đây và họ có
cho biết luôn “lot number” nữa. Mọi người lúc đó ai cũng
vui mừng và hỏi chú Hùng kiếm tin tức này ở đâu ra, còn
ông Alcoh Wong thì giơ hai tay lên trời cười to. Riêng
tôi, lòng vẫn thanh thản, không một chút giao động. Tôi
nhìn đồng hồ, 2 giờ 30 chiều, cũng giờ này ngày hôm qua
chúng tôi đi tầu qua Pulau Tengah.
Trên đường đi đến
nghĩa trang Tionghua ở Johor Jaya (cách Johor Bahru
khoảng 7 dặm), tôi được biết thêm là trong lúc mọi người
đang thất vọng thì chú Hùng nói với một nhân viên ở đó
là làm ơn gọi điện thoại đến Ban Quản Trị của Nghĩa
Trang Tionghua để hỏi coi họ còn giữ hồ sơ những người
đã chôn ở nghĩa trang bên kia không. Nhân viên này sau
khi nghe chú Hùng trình bày đầu đuôi câu chuyện đã tận
tình gọi điện thoại dùm, và nói với chú Hùng là phải đợi
khoảng 10, 15 phút, vì đã hơn 25 năm rồi nên họ phải đi
tìm hồ sơ cũ. Và thật không ngờ là họ đã tìm ra hồ sơ
cũ, người bên kia đường dây điện thoại nói là có một tên
rất giống tên Ba chỉ hơi khác một chút, khi chú Hùng so
sánh lại tên, ngày chết và tuổi tác thì chú ấy biết chắc
chắn đó là Ba tôi.
Nghĩa trang rộng lớn
này chia thành hai bên, được ngăn cách bởi con đường
chính đi tới Mersing hoặc trở về Singapore. Khi gần tới
nghĩa trang thì ông Heng hỏi chúng tôi là thử đoán coi
mộ được chôn ở bên phải hay bên trái của con đường này.
Chú Hùng nói là bên phiá trái, còn ông Heng thì nói là
bên phải. Xe rẽ về bên phải và khi tới nơi, chúng tôi
lai ngơ ngẩn nhìn nhau vì không biết phải bắt đầu tìm từ
đâu, nhưng chúng tôi cũng chia nhau ra đi tìm, vài phút
sau tự dưng có một người tới hỏi thăm và giới thiệu tên
là Francis Chu, đã làm việc chôn cất ở nơi đây hơn 30
năm rồi. Khi chúng tôi đọc cho ông ta biết “lot number”
thì ông ta nói rằng “lot number” đó nằm ở phía bên kia,
tức là phiá bên trái của con đường chính.
Khi dẫn chúng tôi đi
qua phía bên kia, thì chúng tôi thấy có một số ngôi mộ
có ghi “lot number”, một số thì không ghi gì cả và chúng
tôi không thấy ngôi mộ nào có ghi “lot number” của Ba
tôi. ông Francis nói để ông ta gọi điện thoại đến Ban
Quản Tri của nghĩa trang để xin bản sao bản đồ của nghiã
trang, nếu có bản đồ của nghiã trang thì mới tìm ra “lot
number” được.
Dò theo bản đồ chúng
tôi lần mò đến một khu đất nằm ở góc cuối của nghĩa
trang, tìm mãi vẫn không thấy ngôi mộ nào có cùng “lot
number” của Ba. Tuy nhiên ở nơi đây, có một vài chỗ đất
trống, ở chung quanh thì có các ngôi mộ. Lạ lùng thay,
khi bước chân tới đó, tự dưng tôi cảm thấy có một chút
gì quen thuộc, thì ra trước khu đất trống này có một cây
cao cao với những bông hoa màu vàng mà hồi xưa ngay
trước nhà tôi có hai cây này. Tôi thường hái bông của nó
và kết thành chữ màu vàng trông rất đẹp mắt, tôi không
nhớ rõ lắm tên của cây này.
Tôi nói với chú Hùng
chắc nơi đây là mộ của Ba, tôi giải thích cho chú Hùng
biết vì có cây này mọc ở đây, giống như trước nhà ở Việt
Nam. Chú Hùng nhìn chung quanh và nói thật lạ, trong
nghĩa trang rộng mênh mông này có trồng rất nhiều loại
cây, nhưng duy nhất chỉ nơi đây mới có cây này. Tôi còn
nói thêm là hồi nhỏ cháu hay chơi ở dưới gốc cây này.
Khi nói đến đó thì bỗng dưng một đàn chuồn chuồn bay
khắp nơi, tôi cũng chợt nhớ ra hồi nhỏ mình cũng hay bắt
mấy con chuồn chuồn ở cây này và làm đồ hàng chơi với
mấy đứa bạn hàng xóm, nhất là vào những tháng hè. Ở Mã
Lai bây giờ cũng đang là mùa hè. Cũng phiá trước miếng
đất trống này, còn có một cây mọc cành lá xum xuê, cây
tuy nhỏ nhưng rất nhiều lá, cây này làm cho tôi chợt nhớ
tới những lần Mẹ hay ngắt lá, giã nát, vắt lấy nước, tắm
cho tôi khi tôi bị nổi mề đay.
Ông Francis nét mặt
đăm chiêu, cầm bản đồ trong tay ông đi từ xa xa đếm từng
ngôi mộ, khi đến khu đất trống này, ông nói theo như bản
đồ thì ngôi mộ có “lot number” này nằm ở nơi đây, chính
là nơi ở phiá trước có cây với những bông hoa vàng.
Johor Bahru, thứ Tư
July 13, chúng tôi đến văn-phòng trung ương của Tionghua
Association và ở nơi đây tôi đã được cho xem cuốn sách
có ghi tên của những người đã được chôn cất ở nghĩa
trang Tionghua ở Johor Jaya. Cuốn sách đã bám nhiều bụi
bặm, những trang giấy không còn trắng tinh nưã và đã bắt
đầu ngả sang màu vàng. Trên từng trang giấy, chữ viết
tay thật nắn nót với đầy đủ chi tiết như tên người quá
cố, ngày tạ thế, ngày chôn cất, giấy khai-tử, tên người
đứng đơn xin chôn cất và lot number. Cuốn sách dày
khoảng 50 trang, trang nào trang nấy đều có viết tên
người Hoa, chỉ có tên Ba là tên duy nhất viết bằng tiếng
Việt. Cũng ở nơi đây, nhân viên văn-phòng đã tận tình
chỉ dẫn cho chúng tôi đến Tòa Đô Chánh ở Johor Bahru để
xin thủ tục cải táng mộ của Ba.
Chúng tôi đến Tòa Đô
Chánh, và đã được hai nhân viên ở đây tận tình hướng dẫn
việc điền đơn để xin giấy phép cải táng mộ, họ nói
khoảng hơn một tháng thì họ sẽ liên lạc với tôi để xúc
tiến công việc cải táng mộ. Trong ba ngày vừa qua, chúng
tôi đều nhận thấy một điều là đi đến nơi nào cũng vậy,
cũng có người đang đợi chúng tôi, đứng đợi chúng tôi đến
để gíup đỡ chúng tôi.
Trước khi trở lại
Singapore để bắt chuyến bay về lại Mỹ, tôi trở lại thăm
mộ Ba. Hôm qua, nơi đây chỉ là một miếng đất bằng
phẳng, trưa hôm nay, phần đất này đã được đắp đất lên đề
nhìn ra thành một ngôi mộ. Tôi trải lên mộ Ba những hột
giống bông California Poppy. Ở đầu ngôi mộ có cắm một
cây Thánh Gía ghi tên Ba, ngày tạ thế và hàng chữ viết
tắt R.I.P.: Yên Giấc Ngàn Thu. Chúng tôi hát thánh ca
và đọc kinh cầu nguyện. Tuy trễ 25 năm, nhưng tâm hồn
tôi thật an bình.
Nhìn lại ngôi mộ Ba
một lần nữa, tôi thấy đầu Ba quay về hướng Đông, chân
thì hướng về phương Tây. Ba ơi, chỉ còn hơn một tháng
nữa thôi thì Ba sẽ được đến Bến Bờ Tự Do.
o0o
July 12, 2005, đánh
dấu kỷ niệm ngày tìm ra mộ Ba. Hôm đó, tôi mặc áo mầu
vàng, cây mọc ở trước mộ Ba cũng bông màu vàng, bông
California Poppy cũng màu vàng, màu vàng cũng là màu tôi
yêu thích nhất. Ba qua đời lúc 35 xuân xanh và năm nay
tôi được 35 tuổi.
Cám ơn Ba đã 25 năm
nay luôn theo sát an ủi, dẫn dắt, che chở bao bọc cho
con. Ba cũng là người mà con thường tâm sự khi vui cũng
như lúc buồn. Xin Ba luôn phù trợ cho những người chung
quanh con. Nhất là người mà Ba đã chọn để cùng với con
tìm kiếm Ba, cũng có vết thẹo bàn ủi y như con, chỉ khác
là con thì ở bàn tay, còn người ấy thì ở trên cánh
tay……có phải cánh tay tương trợ cho bàn tay phải không
Ba?
Trúc Ly
California, tháng 7-2005
|