|
|
Người con gái không nịt ngực
Sau khi được tàu Mỹ vớt, chúng tôi nằm la liệt trên sàn tàu.
Mười sáu ngày vùi dập bởi sóng biển, đói khát, rét lạnh làm mọi
người tơi tả. Một em bé sanh ra trên tàu được cấp tốc đưa vô
phòng cấp cứu. Chiếc tàu nhỏ loại đánh cá chở chúng tôi đi buộc
dây kéo theo sau, nhỏ bé như con kiến đi cạnh con voi. Chỉ một
thời gian ngắn sau, các miếng gỗ của tàu cũng sút ra từng mảnh,
trôi lênh đênh...
Ôi! Chiếc tầu nhỏ, quá nhỏ, chỉ ba mươi ba người mà đã chật
không còn chỗ ngồi hay đứng. Chỉ mới qua đêm thôi, khi ngồi bó
gối trong thân tầu, bị sóng biển nhận chìm, đưa lên rồi lại bị
nhận chìm sâu hơn nữa vào trong lòng biển lạnh, rồi nghe tiếng
kêu răng rắc của những mạnh gỗ bắt đầu bị lồi ra những cây đinh
thì chúng tôi hiểu rằng chiếc tầu thân yêu không còn có thể gánh
vác mạng sống của chúng tôi xa hơn được nữa.
Tôi đưa mắt nhìn những thủy thủ trên tầu Mỹ, lòng tràn ngập niềm
vui và niềm biết ơn khó diễn tả. Và lon Cola mà tôi được phát,
chao ôi sao mà nó ngon! Trôi tuột vào cổ họng khô khát... Có lẽ
đó là lon coca ngon nhất trên đời tôi được uống. Chỉ mới hôm qua
thôi, ngày thứ mười lăm, khi một em nhỏ trên tàu thoi thóp khóc
vì quá khát thì mẹ em đã gieo cho em chút hy vọng: "Ráng đi con,
khi nào có tầu vớt thì con sẽ được uống nhiều nước. Có khi lại
có Coca!". Lúc ấy chúng tôi mới chỉ nghĩ đó như một giấc mơ. Hai
đứa em tôi nằm bên cạnh, rên lên khi nghe nói tới nước...Từ cả
hơn mười mấy ngày trước, khi đói và khát quá thì thằng nhỏ nhất
bắt đầu mơ tưởng đến đồ ăn thức uống: " Chị ơi! Em đói quá! Em
thèm một tô phở. Và một ly trà đá thật bự! Hay cái gì cũng được!
Một tô mì, bánh xèo, hay bún bò..." Một bà trên tầu gắt lên:
"Trời ơi! Đói khát thế này mà cứ kể ra mấy món ấy có chết không
cơ chứ?". Rồi bà lâm râm đọc kinh, cả tầu cũng đọc kinh...Em tôi
không dám nói lớn nữa, nhưng ráng thì thào bên tai tôi: "Chị ơi!
Hay chị cho em một chén cơm nguội cũng được!" Tội nghiệp! Nó quá
nhỏ để hiểu cuộc hành trình này không có quyền chọn lựa. Rồi nó
không thì thào được nữa, mà bắt đầu khóc, và chỉ vào hạ bộ của
nó đang sưng đỏ vù. Tầu nhỏ, không có chỗ ngồi huống chi chỗ đi
tiểu, đi cầu...Lúc đầu mọi người còn ráng ra ngoài để tìm chỗ
đi, nhưng khi say sóng và đuối sức thì ai ngồi chỗ nào đi chỗ
nấy. Sau những ngày không được chùi rửa vệ sinh, hạ bộ đỏ u lên.
Em tôi không hiểu tại sao hạ bộ nó sưng phồng, đỏ lòm và to gấp
hai, ba lần bình thường. Mỗi lần nước biển tạt vào, nước muối
mặn sát vào da thịt rát quá làm mọi người kêu la, oằn oại như
thấu trời xanh. Rồi cộng thêm với những đêm bão lạnh kinh hoàng
mà mỗi giọt nước rót vào người là như mũi dao xẻ thịt xẻ da, thì
em tôi cảm giác như có những mũi dao cắt đứt đi cái phần cơ thể
riêng tư quý báu đang bị sưng vù nên vểnh lên cao nơi hạ bộ của
nó. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn hình dung thấy hình ảnh những em
trai nhỏ và những người con trai cúi cong người che hai chân lại
rên xiết mỗi lần những cơn và sóng biển ập xuống.
Trên tầu Mỹ, vì không đủ phòng tắm cho mọi người cùng vào, chúng
tôi được chia làm hai hàng nam và nữ. Hai thủy thủ cầm hai ống
nước gấp rút xịt nước tắm cho mọi người, tất cả quần áo được cởi
ra để đem khử trùng giặt sấy. Các thủy thủ gom góp áo quần của
mình phân phát cho mọi người mặc tạm. Những bộ quần áo Mỹ rộng
lớn bao che thân thể Việt gầy nhỏ, chúng tôi bơi lội trong đó
như bơi lội trong niềm hạnh phúc và lòng tri ân được vượt thoát
bình an
Ngày hôm sau quần áo giặt sấy xong được trả về cho mọi người. Vì
ở rải rác trên boong tầu không có mặt lúc phát lại quần áo, hoặc
có những người nhận lộn đồ, chúng tôi đa số người lạc áo kể lạc
quần, giầy dép không còn. Tôi còn lạc mất chiếc nịt ngực. Ngày
đặt chân lên trại tị nạn, đôi chân trần bước trên đất nóng, tôi
vẫn không thấy ngại bằng cảm thấy bộ ngực vô cùng trống trải.
Thủa ấy tôi mới vừa mười tám tuổi, sinh ra và lớn lên trên cao
nguyên Đà Lạt. Ở thành phố nhỏ hoa anh đào đó, đời sống là áo
trắng hiền ngoan, má đỏ môi hồng, thẹn thùng e ấp. Vậy mà bỗng
chốc lăn vào đời, chân không giầy dép, người không nịt ngực. Cái
nịt ngực đối với tôi, nhất là ở xứ lạnh, là một vật dụng thân
thiết ít khi rời. Nó vừa giữ ấm cho người, vừa che đậy nâng đỡ
một phần cơ thể kín đáo. Ở phần dưới nịt ngực thường có một viền
sắt mỏng hay viền vải chắn ngang, và một lớp vải dầy với miếng
mút ôm gọn hai bầu vú để giữ cho phần ngực không rung rinh di
chuyển theo mỗi bước đi và không lộ rõ núm vú. Khi sinh hoạt, dù
trong nhà, cũng nên mang. Thế mà bây giờ, ở chốn đông người,
giữa ban ngày ban mặt, tôi đi đứng chạy nhảy mà chẳng mang nịt
ngực. Cái cảm giác trống trải không kín đáo này đối với tôi, một
người con gái Á Đông lần đầu bước vào đời là cái cảm giác không
an toàn, hở hang, bất an...
Tôi lên trại xin cấp nhưng chưa có. Trại chuyển tiếp có những
nhu cầu cần thiết hơn phải được giải quyết trước. Miếng ăn, nước
uống, thuốc men, nhà vệ sinh, tất cả còn thiếu mà người tị nạn
đổ về mỗi lúc một đông. Lúc bấy giờ ở Việt Nam mà đa số là đàn
ông thanh niên bị kêu gọi tham gia "thanh niên xung phong" hoặc
bị gởi qua chiến trường Cam Bốt khốc liệt. Mọi người vội vã tìm
đường vượt biên, trại rất đông đàn ông con trai. Và đủ mọi hạng
người. Mỗi lần sáng chiều đi lãnh cơm, đi tắm, đi hứng nước hay
có loa gọi gấp lên làm giấy tờ, tôi đi giữa những hàng chòi lá
và dãy nhà tập thể, cảm nhận có những cặp mắt nhìn theo bộ ngực
vô tình nhấp nhô theo từng bước chân chạy...
Tôi vừa mất cha nên có miếng tang đeo trước ngực, không biết
người ta nhìn miếng tang cảm thông với tôi hay nhìn vào ngực và
biết tôi thiếu cái nịt ngực...Có những cái nhìn rất soi mói, như
lột trần mình ra. Con gái mới lớn, bộ ngực nở nang không làm tôi
hãnh diện mà chỉ làm tôi thêm ngại ngùng khổ sở. Ở lứa tuổi học
trò ngây thơ thủa đó, cảm giác nhận được là nhột nhạt, khó chịu,
bất an. Tôi bỏ luôn thói quen mỗi sáng tập thể dục ngoài trời,
vì khi không có nịt ngực thì những động tác nhún nhẩy có thể tạo
sự chú ý. Ngay cả những ngày hè nóng nực ở trại tị nạn cũng
không thoải mái thả mình theo sóng biển, bởi quần áo càng dính
chặt vào người, núm vú càng hiện rõ, lộ liễu. Ở cái tuổi con gái
tươi trẻ tung tăng mà tôi không hề dám tung tăng. Có hôm đang
đi, nghe tiếng huýt sáo trêu ghẹo đuổi theo, tôi ngại và mắc cỡ
quá lính quýnh đi như chạy, vấp té làm áo bị sút khuy nút. Hai
tay vội vã cố gài khuy áo, tôi đi tiếp trong những tiếng cười
tinh nghịch nham nhở. Có lần vừa sắp hàng đi hứng nước tắm về,
thì nhạc quốc ca của trại trỗi lên, mọi người đang đi đường đứng
nghiêm lại hát chào quốc kỳ. Tôi đang đứng nghiêm chỉnh bỗng
nghe tiếng cười chỉ trỏ về phía mình, Một vài thanh niên đang
ngồi trên tầng trên của chòi lá thò đấu ra nhìn tôi rồi một
người chợt nói: "Chắc tắm về để quên cái nịt ngực!" Rồi họ cười
hô hố. Một người khác tiếp theo: "Tên gì thế em! Tối nay đi chơi
trọn đêm với anh nhá?" Một người lớn tuổi đang đứng chào cờ
không xa, tỏ vẻ khó chịu. Ông ta nói vừa đủ tôi nghe: "Lần sau
có ra đường hay chào quốc kỳ thì nhớ mặc nịt ngực! Con gái lớn
ra đường ăn mặc đàng hoàng một chút!"
Tôi còn đang ngơ ngác thì tiếng quốc ca và mặc niệm chấm dứt,
mọi người tiếp tục đi. Tôi cúi xuống cầm xô nước, ngỡ ngàng.
Trời ơi! Thì ra có người tưởng tôi cố tình không mặc đồ đàng
hoàng. Đây là lần đầu tiên tôi biết điều này. Tôi cảm thấy nghẹn
không thể nói thành lời, muốn chạy đến người đàn ông khi nãy để
nói rằng là tôi không phải cố ý như thế, mà hai chân tôi cứ bước
như người không hồn, xô nước sóng sánh đổ ra mà không biết.
Dường như có giọt lệ nào, không chảy xuống mà chảy ngược vào tim
tôi, lăn mãi, và lăn mãi...
Chiều chiều trong chòi lá nghe từ loa vọng lại bài hát "Người Di
Tản Buồn", tôi thấy như bóng dáng mình trong đó..." Chiều nay có
một người đôi mắt buồn, ngày ra đi lặng câm trong đau đớn..."
Tôi ngồi bên xong cửa, thấy chiều rơi rất chậm, rồi "rưng rưng
lệ vương mắt lệ nhòa "...
Rồi tôi cũng được chuyển sang một trại tị nạn chính thức khá hơn
một chút, và xin được cái nịt ngực cũ. Cái cảm giác đầu tiên khi
được mang lại vật dụng thân thiết ấy của người nữ làm tôi thật
an toàn, yên ổn. Dù không vừa vặn nhưng thế là quá đủ!
Rồi tôi liên lạc được với người chị từ một trại khác vừa sang
Mỹ. Ngày được bảo lãnh, khi chị đón ở phi trường, tôi nhìn chị,
rồi như bị ám ảnh bởi hình ảnh của chính mình trong những ngày
đầu tị nạn, tôi len lén nhìn vào ngực chị, trong phút chốc chợt
mủi lòng, nhớ cha nhớ mẹ, nước mắt âm thầm lăn dài trên má. Chị
cũng khóc, nhưng có lẽ lúc ấy chị không hiểu đích xác cái tủi
buồn thầm kín của em mình.
Ngày hôm sau, vì trúng ngày thi cuối khóa nên chị nhờ người bạn
trai là hôn phu chở chúng tôi đi làm giấy tờ và mua ít vật dụng
cần thiết. Tôi đi trong thương xá rộng lớn, rồi bỗng sáng mắt
khi nhìn thấy quầy bán nịt ngực, Chao ơi nhiều! đủ mầu đủ số.
Tôi mân mê vuốt nhẹ lên từng phiến vải mềm, như muốn cảm nhận
được tất cả sự dịu êm của từng miếng ren vải lụa, thấy lòng hạnh
phúc reo vui như thể được cái gì quí giá lắm. Tôi chọn lấy một
cái vừa vặn và một quần lót nhỏ cùng màu. Thế nhưng đến lúc ra
quầy tính tiền, nhìn thấy người bạn trai của chị đang đứng chờ,
tôi chợt thấy ngại. Tưởng tượng phải thả cái nịt ngực và cái
quần lót nhỏ xuống trước mặt anh, tôi đã thấy ngượng. Tôi len
lén bỏ lại, mơ hồ một cảm giác luyến tiếc sâu kín...
Hai em tôi đã chọn được cặp táp, vở học, và một ít quần áo. Còn
tôi, tôi đã dành trọn thời giờ bên quầy nịt ngực...
Bây giờ tôi đã có nhiều chiếc nịt ngực, khác mầu, khác kiểu.
Nhưng trong một góc ngăn kéo, tôi vẫn còn giữ lại cái chiếc chật
cũ của những ngày tị nạn. Và trong một góc ngăn kéo rất sau thẳm
của ký ức vẫn như còn đọng lại hình dáng một chiếc nịt ngực ao
ước mãi của ngày xưa...
Sau này, khi các con tôi khôn lớn, sẽ có một lúc nào đó tôi dẫn
vào thương xá, rồi như vô tình, đi ngang quầy bán nịt ngực, tôi
sẽ kể các con nghe về chút kỷ niệm của thời mới lớn. Đơn giản
thôi các con! Chỉ là một chiếc nịt ngực, mà đã từng là niềm mơ
ước, nỗi ám ảnh của mẹ trong một khoảng đời con gái.
Giờ đây, tuổi trẻ các con lớn lên trong mệm ấm chăn êm. Thấy
những gì đang có sẵn là tự nhiên, là bình thường. Đôi khi còn
than thở, so sánh...Có biết đâu có những không gian và thời gian
mà ở đó, ngay cả những cái nhỏ bé bình thường nhất cũng có thể
là nỗi tủi nhục, niềm ao ước cháy bỏng. Đừng nói chi đến cái bầu
trời tự do để thở như ở đây thì đã là quá tuyệt diệu và đã từng
đánh đổi bằng biết bao là đau khổ chồng chất.
Có một thời gian, những câu chuyện vượt biên thống khổ như những
vết thương mà người ta muốn quên đi để bớt nhức nhối trong một
cuộc sống mới xa lạ và tất bật. Thế nhưng khi có dịp ôn lại và
tìm về những kỷ vật cũ ấy, tôi chợt nhận ra rằng những đề tài cũ
và đấy dấu tích đau khổ ấy, lại là những bài học tiêu biểu vô
cùng cho những thế hệ sau...
Và tôi hiểu ra rằng đó còn chính là bài học cho chính tôi...
Ôi thảm nạn của những cuộc hành trình vượt chết vô tiền khoáng
hậu! Ôi những chiếc tầu nhỏ bé một bloc chỉ có thể chạy trên
sông mà đã băng biển vượt sóng rồi giông tố biển khơi, hải tặc
tàn bạo, và nhục nhằn của bao người trong cuộc hành trình vượt
chết...Thế mà bây giờ, tôi ngồi đây, trong cuộc sống có thể gọi
là đầy đủ, nhiều lúc lại cho rằng đời sống sao mà khổ! Nào con
cái, việc làm, nhà cửa, sao mà bận bịu! Nào "bill", nào "Job",
nào chứng khoán trồi sụt...nhưng nghĩ cho cùng, thì có phải là
những ngày đêm dài thăm thẳm trôi dạt trên thân tầu sắp vỡ, lúc
gần chôn thây trong biển lạnh, lúc cận kề cái chết trong gang
tấc, tôi chỉ ước mơ đứng trên đất liền, được sống...Có phải là
khi ra đi tôi chỉ mong một bầu trời tự do hơn để thở, có phải là
tôi đã ngủ quên cái hạnh phúc lớn lao mà biết bao người không
may mắn có được... và, nhìn lại tủ áo, có phải là một lúc nào đó
trong đời tôi chỉ ao ước một cái nịt ngực...
Có nghe, có đọc, có nhớ, có hình dung lại những cuộc hành trình
biển đông năm xưa thì dường như ta mới cảm nhận được thấm thía
hơn tất cả cái may mắn và hạnh phúc mình đang có.
Những thống kê về di dân đã cho thấy thế hệ di dân đầu tiên, như
chúng ta, là thế hệ làm cầu nối cho các thế hệ kế tiếp vốn không
có chút kỷ niệm và ấn tượng gì về quê hương mà cha mẹ đã phải bỏ
lại. Đó là những thế hệ rất dễ ngày càng xa nguồn gốc nếu không
được học hỏi giả thích.
Tôi tự nhủ, tôi sẽ không nhất thiết phải đi làm cho thật nhiều
để các con có cuộc sống dư thừa, rồi để lại cho các con gia tài
tiền của. Nhưng, đại dương sóng sau dồn sóng trước, tôi sẽ góp
phần làm gạch nối giữa các con với những giá trị muôn đời của
cội nguồn dân tộc. Các con sẽ được chia xẻ, rút tỉa những kinh
nghiệm quí báu của cha ông đồng thời học hỏi những cái hay cái
lạ của xứ người. Cái đó mới là cái đẹp riêng, là gia tài hành
trang của các con, khi một lúc nào đó nhìn màu da khác người bản
xứ, sẽ tự hỏi: " Tôi là ai? từ đâu đến, vì sao tôi ở chốn này?"
Các con sẽ được giải thích để hiểu rõ, để tự tin, hãnh diện, và
sẽ có lúc giải thích cho các con của mình hiểu. Những lúc yếu
mềm, không nghị lực, không lối thoát, hãy lăn bành một chút về
dĩ vãng, học ở đó những bài học xương máu. Khi tìm hiểu về những
chiến trận anh hùng, những hành trình thống khổ đầy gương can
đảm, các con sẽ thấy rằng ở đời có muôn ngàn cái khổ, nhưng có
những cái khổ và cái can đảm làm rung chuyển lương tâm nhân
loại. Máu, mồ hôi, nước mắt nhiều khi liên tiếp đổ ra mà chưa
chắc đánh đổi được những gì chúng ta đang có. Rồi hãy hít thở đi
cho ngập tràn khí quản cái tự do hạnh phúc quí báu vô vàn, rồi
can đảm tiếp bước đi trên đường đời ngang dọc.
Đừng quên rằng chung quanh chúng ta, có những không gian và thời
gian mà ở đó có những điều cần thiết, tuy nhỏ bé và bình thường,
nhưng chỉ một chiếc nịt ngực thôi, cũng có thể là nỗi ước ao
triền miên của những khoảng đời cơ cực...
Amy Phương Lê
|