Miếu Ba Cô tại Galang
Lúc đầu, nơi đây chỉ có
hai ngôi miếu, về sau, thêm
một người nữa mượn sợi dây
oan nghiệt để rửa sạch tiếng
đời.
Hai cô là hai chị em,
thuyền nhân của một chiếc
ghe xuất phát từ miền Tây
Việt
Nam.
Họ là nạn nhân của nhiều vụ
hải tặc tấn công tàn bạo
trong một cuộc vượt biển bi
thảm. Là hai cô gái có nhan
sắc, họ đă cắn răng mang lấy
sự bất hạnh của đời ḿnh sau
những tai biến hăi hùng đó,
nhưng lại không chịu đựng
nổi tiếng đời thị phi,
nghiệt ngă. Ánh mắt lạnh
nhạt kinh rẻ, lời b́nh phẩm
hoặc chọc ghẹo ác độc của
những người cùng thân phận
tị nạn nhưng may mắn hơn đă
đẩy họ vào một tâm trạng tủi
nhục và cô độc tận cùng
trong hoàn cảnh tạm cư hỗn
tạp.
Giọt nước tràn ly
khiến cả hai chị em cùng
quyết định kết liễu cuộc đời
là khi họ bị vu oan về một
vụ mất cắp chiếc ví của một
nhân viên Cao Ủy. Trớ trêu
thay, ngày hôm sau họ có tên
trong danh sách được đi định
cư. Kẻ cắp chiếc ví về sau
đă thú nhận hành động của
ḿnh và bị điên loạn trong
thời gian c̣n lại ở đảo.
Cuối cùng ông cũng được một
nước Âu Châu chấp nhận theo
diện nhân đạo, nhưng nghe
đâu cũng đă qua đời một thời
gian ngắn sau đó trong một
bệnh viện tâm thần.
Thời gian sau, một
người con gái khác cũng lâm
vào hoàn cảnh tương tự, t́m
đến cái chết tại đây. Từ đó,
người tị nạn trên đảo gọi là
miếu ba cô.
(Theo Lưu Dân/VKTNVN)
GALANG, Indonesia (VH):
Tiếp tục những ngày đi thăm
các di tích thuyền nhân Việt
Nam tại Galang, Indonesia,
đoàn Về Bến Tự Do 8 càng đi
càng khám phá nhiều điều mà
có lẽ ít ai biết tới trong
trang sử tị nạn Việt Nam.
Miếu Ba Cô, hồn thiêng
c̣n đó
Rời Kỳ Viên Tự và nhà thờ
Đức Mẹ Vô Nhiễm, chúng tôi
đến miếu Ba Cô th́ trời đổ
mưa. Trước đó, anh Hùng
Nguyễn (thành viên trong
đoàn) và người bạn Indonesia
tên Abu đă đến trước sửa
soạn. Abu là một thanh niên
bản xứ, nhưng nói tiếng Việt
rất giỏi. Tôi sẽ đề cập đến
anh sau.
Miếu Ba Cô nằm dưới một
cây bồ đề rậm mát, hơi chếch
phía đối diện văn pḥng Cao
Ủy Tị Nạn LHQ khi xưa. Trước
ba ngôi miếu có cổng chào và
một tấm bảng ghi ḍng chữ
“Body Tree.”
Anh Lưu Dân cho biết
trước đây tấm bảng ngày ghi
là “Bode Tree,” tức là cây
bồ đề. Không biết v́ lư do
nào mà nay lại đổi thành cây
treo người như vậy.
Nhiều người nói rằng nơi
đây rất linh thiêng, ai
thành tâm đến miếu khấn vái
cầu nguyện cho hoàn cảnh của
ḿnh đều được linh ứng.
Chúng tôi mau chóng xuống
xe vào miếu và sửa soạn
nhang đèn, bánh trái để
cúng. May nhờ tàng cây bồ đề
khác rộng nên không bị ướt
nhiều.
Miếu Ba Cô vừa được Hùng
và Abu sửa chữa và sơn lại
nên trông rất mới và sạch.
Chi phí mua vật dụng sửa
chữa do anh chị Chính (Úc)
và một số người khác cho,
phần c̣n thiếu anh Hùng
chịu.
Anh Hùng cho biết: “Năm
ngoái, tôi theo đoàn VKTNVN
đến đây thấy miếu Ba Cô điêu
tàn quá nên tự hứa sẽ sửa
chữa thôi chứ không cầu xin
điều ǵ. Tôi nhờ Abu hàng
ngày đến làm. Trong đợt đi
lần này, tôi đến đây trước
làm chung với Abu được 4
ngày rồi về Singapore nhập
đoàn.”
Abu cho biết anh c̣n đang
nghĩ cách làm thế nào để bầy
khỉ đứng ra phá đồ cúng,
“chắc phải làm cánh cửa,”
anh nghĩ vậy, nhưng chưa
biết lấy tiền ở đâu ra làm.
Abu cho biết một trong
những lần làm một ḿnh tại
miếu Ba Cô, anh đă thấy ba
người con gái treo lơ lửng
giữa tàng cây bồ đề. Anh
hoảng hồn bỏ cả dụng cụ chạy
về nhà. Sau đó, anh không
dám làm một ḿnh như trước
nữa, mà luôn nhờ một người
bạn đi cùng.
Anh Hùng nói: “Tại Abu
làm mà không nói trước với
Ba Cô. Chứ cúng rồi làm th́
đâu có sao. Phải xin phép
chứ.”
Tôi cũng được nghe một số
người kể về sự linh thiêng
tại miếu Ba Cô, trong đó có
một ông đến cầu xin nếu được
định cư sẽ ở lại một thời
gian chăm sóc miếu. Có thể
trường hợp xét định cư của
ông khó khăn lắm nên mới đến
cầu xin như thế. Thời gian
sau, ông có tên trong danh
sách được định cư, và giữ
lời hứa xin ở lại một năm để
nhang khói miếu Ba Cô. Nếu
câu chuyện là sự thật, th́
chắc đây là trường hợp duy
nhất được đi nhưng lại xin
hoăn.
C̣n chuyện hồn thiêng của
Ba Cô có c̣n đó hay không,
là tùy sự cảm nhận của mỗi
người.
Viện bảo tàng Thuyền
Nhân Việt Nam và tấm bia
miệng ngàn năm
Viện
bảo tàng Thuyền Nhân Việt
Nam có một khu đất khá rộng
tại Galang 1. Ngoài pḥng
trưng bày những hiện vật của
thuyền nhân tại Galang, viện
bảo tàng c̣n có một khu
trưng bày một số chiếc tàu
vượt biển, và hai barrack,
nơi cư ngụ của thuyền nhân
ngày trước.
Pḥng trưng bày đơn giản
và có khá ít hiện vật được
trưng bày. Một số người am
tường cho rằng c̣n khá nhiều
hiện vật chưa được đưa ra,
trong đó có tấm bia tưởng
niệm bị đục bỏ vào tháng 5,
2005.
Sau khi đi xem một ṿng
các kỷ vật, chúng tôi đứng
ngoài hiên nói chuyện, th́
anh Safril, một trong hai
hướng dẫn viên của đoàn, đến
bắt tay từ giă. Anh cho biết
đến đây là anh đă làm xong
nhiệm vụ hướng dẫn, phần c̣n
lại của chương tŕnh chỉ cần
anh Ady là đủ. Chúng tôi lần
lượt siết chặt tay anh từ
giă và không quên “Terima
kasi” anh.
Sáu ngày qua cũng đủ làm
cả đoàn mến hai anh “tour
guide” hoạt bát và dễ thương
này. Nhiệt t́nh, chịu khó và
có chút máu “tiếu lâm,” hai
anh đă đem đến cho chúng tôi
những giây phút thoải mái và
một số hiểu biết về quê
hương này. Chưa dứt chương
tŕnh mà đă phải chia tay
khiến chúng tôi không khỏi
bùi ngùi.
Rời
pḥng trưng bày, chúng tôi
đến khu trưng bày một số tàu
vượt biển. Vào tháng 3,
2005, VKTNVN đă dựng một tấm
bia tưởng niệm thuyền nhân
tại đây và tại đảo Bidong.
Hai tấm bia thay mặt cộng
đồng người Việt hải ngoại,
giống nhau với những ḍng
chữ:
“Tưởng niệm hàng trăm
ngàn người Việt đă bỏ ḿnh
trên con đường đi t́m tự do
(1975-1996).
Dù họ chết v́ đói khát,
v́ bị hăm hiếp, v́ kiệt sức
hay v́ bất cứ lư do nào
khác, chúng ta thảy đều cầu
nguyện để họ được yên nghỉ
dài lâu.
Sự hy sinh của họ sẽ
không bao giờ bị lăng quên.”
Và:
“Tri ân những nỗ lực của
Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc, của Hội Hồng Thập Tự
và Hội Hồng Nguyệt Mă
Lai/Nam Dương cùng các tổ
chức cứu trợ quốc tế khác,
chính phủ và nhân dân Mă
Lai/Nam Dương cũng như các
quốc gia tạm dung và các
quốc gia định cư.
Chúng tôi cũng tri ân
hàng ngàn người đă làm việc
tận lực để giúp đỡ cho người
tị nạn Việt Nam.”
Tôi ghi lại nội dung tấm
bia để thấy rằng đập bỏ hai
tấm bia trên là một sự phi
lư cùng cực. Thế nhưng đó là
sự thật. Với áp lực của nhà
cầm quyền Cộng Sản Hà Nội,
chỉ hai tháng sau khi hai
tấm bia được dựng lên, chính
quyền địa phương đă đập bỏ
không thương tiếc lời cảm tạ
của cộng đồng người Việt hải
ngoại đối với chính phủ
Malaysia/Indonesia trong
việc cưu mang những thuyền
nhân Việt Nam tị nạn.
Trong khu đất trưng bày
cũng có một tấm pano lớn ghi
một ḍng chữ bằng tiếng Anh,
tạm dịch là: “Galang, kư ức
của một quá khứ đau thương”
cũng bị gỡ bỏ trong thời
gian này.
Trước đây, tấm bia ở
Galang chỉ bị đục bỏ tấm đá
hoa cương khắc chữ phần nội
dung, nhưng hôm chúng tôi
đến th́ toàn bộ tấm bia đă
không c̣n vết tích. Nh́n
xuống mặt đất, chúng tôi vẫn
c̣n thấy được một phần móng
của tấm bia, thế nhưng thế
hệ sau có biết được nơi đây
đă có một tấm bia với lời lẽ
nhân bản đă bị hủy hoại?
Tôi tin rằng không một
thế lực nào có thể xóa bỏ
một kư ức đau thương của
chúng ta. Tấm bia đá không
c̣n, thế nhưng tấm bia miệng
vẫn c̣n măi đến ngàn đời,
nếu như hôm nay, chúng ta về
đây nhắc nhở kư ức, kể cho
con cháu nghe một trang lịch
sử đau thương của dân tộc,
và nhắc nhở với con cháu
rằng “trong cuộc đời hăy một
lần về đây để chứng kiến, và
truyền lại cho đời sau kư ức
đau thương này.”
Được như thế, Galang, kư
ức của một quá khứ đau
thương, sẽ không bao giờ
chết!
Nghĩa
trang Galang 3: Đừng xóa bỏ
lịch sử của chính ḿnh
Ở đó có 503 nấm mộ hầu
hết bị xiêu vẹo, đổ nát hay
rêu phong vây kín v́ không
được chăm sóc thường xuyên.
Trong số đó, có vài chục
ngôi mộ của những người tự
tử chống lại chính sách hồi
hương.
V́ mối quan hệ ngoại giao
giữa Indonesia và Việt Nam
nên chính quyền địa phương
đă cho sơn lại ba sọc xi
măng của cây cột xây h́nh lá
cờ VNCH thành màu đen! Điều
này cũng chẳng thay đổi được
tính chất của nghĩa trang
này - nghĩa trang của những
người vượt biển t́m tự do -
mà c̣n cho thấy rơ dă tâm
muốn xóa bỏ lịch sử của
chính quyền Hà Nội.
Chúng tôi cùng thắp nhang
tại bàn thờ chung và chia
nhau đến từng ngôi mộ, nhờ
đó thấy rơ hơn sự hoang tàn
của nghĩa trang này.
Tôi tự hỏi liệu 10 hay 20
năm nữa, “thành phố” này có
c̣n không, khi rất nhiều
“ngôi nhà” bị sụp đất, đổ
tường. Tôi cũng tự hỏi bao
nhiêu người đă định cư tại
nước ngoài quay trở lại đây
sơn sửa mộ phần và thắp cho
thân nhân họ một nén nhang?
Thương
nhất là mộ những em bé chào
đời, chết tại ḥn đảo này,
và có lẽ đă lâu lắm không
được gặp cha mẹ, trong đó có
mộ em Dương Thái Bảo Chương.
Em sinh vào tháng 10,
1982, mất tháng 12 cùng năm.
Mộ của một đứa bé hai tháng
tuổi th́ nhỏ lắm, nhưng trên
đó lại mọc một cây có lá
giống như lá me. Giờ th́ cái
cây ấy đă đè hoàn toàn vào
ngôi nhà nhỏ bé của Chương.
Ngần ấy năm, chắc hẳn ba
mẹ em không quay lại đây, v́
nếu có quay trở lại, ông bà
sẽ nhổ cái cây đó cho em?
Hay ông bà đă quay lại,
nhưng theo lời thầy phong
thủy cứ để yên như vậy để
làm ăn được phát đạt?
Không có câu trả lời đích
xác, thôi th́ cứ cho rằng
cha mẹ em không có điều kiện
về thăm em, nhưng vẫn nhớ em
nhiều lắm.
Tuy nhiên, điều đau ḷng
là khi chúng ta không quay
trở lại nghĩa trang này hay
không chăm sóc hàng trăm
ngôi mộ thuyền nhân nằm rải
rác khắp các nước Đông Nam
Á, có nghĩa là chúng ta đă
tự xóa bỏ lịch sử của chính
ḿnh. (V.Đ.T.)