Kỳ 11: Galang và lịch sử không nên quên

(04/08/2010)
Miếu Ba Cô tại Galang

Lúc đầu, nơi đây chỉ có hai ngôi miếu, về sau, thêm một người nữa mượn sợi dây oan nghiệt để rửa sạch tiếng đời.

Hai cô là hai chị em, thuyền nhân của một chiếc ghe xuất phát từ miền Tây Việt Nam. Họ là nạn nhân của nhiều vụ hải tặc tấn công tàn bạo trong một cuộc vượt biển bi thảm. Là hai cô gái có nhan sắc, họ đă cắn răng mang lấy sự bất hạnh của đời ḿnh sau những tai biến hăi hùng đó, nhưng lại không chịu đựng nổi tiếng đời thị phi, nghiệt ngă. Ánh mắt lạnh nhạt kinh rẻ, lời b́nh phẩm hoặc chọc ghẹo ác độc của những người cùng thân phận tị nạn nhưng may mắn hơn đă đẩy họ vào một tâm trạng tủi nhục và cô độc tận cùng trong hoàn cảnh tạm cư hỗn tạp.

Giọt nước tràn ly khiến cả hai chị em cùng quyết định kết liễu cuộc đời là khi họ bị vu oan về một vụ mất cắp chiếc ví của một nhân viên Cao Ủy. Trớ trêu thay, ngày hôm sau họ có tên trong danh sách được đi định cư. Kẻ cắp chiếc ví về sau đă thú nhận hành động của ḿnh và bị điên loạn trong thời gian c̣n lại ở đảo. Cuối cùng ông cũng được một nước Âu Châu chấp nhận theo diện nhân đạo, nhưng nghe đâu cũng đă qua đời một thời gian ngắn sau đó trong một bệnh viện tâm thần.

Thời gian sau, một người con gái khác cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự, t́m đến cái chết tại đây. Từ đó, người tị nạn trên đảo gọi là miếu ba cô.

(Theo Lưu Dân/VKTNVN)

GALANG, Indonesia (VH): Tiếp tục những ngày đi thăm các di tích thuyền nhân Việt Nam tại Galang, Indonesia, đoàn Về Bến Tự Do 8 càng đi càng khám phá nhiều điều mà có lẽ ít ai biết tới trong trang sử tị nạn Việt Nam.

Miếu Ba Cô, hồn thiêng c̣n đó

Rời Kỳ Viên Tự và nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm, chúng tôi đến miếu Ba Cô th́ trời đổ mưa. Trước đó, anh Hùng Nguyễn (thành viên trong đoàn) và người bạn Indonesia tên Abu đă đến trước sửa soạn. Abu là một thanh niên bản xứ, nhưng nói tiếng Việt rất giỏi. Tôi sẽ đề cập đến anh sau.

Miếu Ba Cô nằm dưới một cây bồ đề rậm mát, hơi chếch phía đối diện văn pḥng Cao Ủy Tị Nạn LHQ khi xưa. Trước ba ngôi miếu có cổng chào và một tấm bảng ghi ḍng chữ “Body Tree.”

Anh Lưu Dân cho biết trước đây tấm bảng ngày ghi là “Bode Tree,” tức là cây bồ đề. Không biết v́ lư do nào mà nay lại đổi thành cây treo người như vậy.

Nhiều người nói rằng nơi đây rất linh thiêng, ai thành tâm đến miếu khấn vái cầu nguyện cho hoàn cảnh của ḿnh đều được linh ứng.

Chúng tôi mau chóng xuống xe vào miếu và sửa soạn nhang đèn, bánh trái để cúng. May nhờ tàng cây bồ đề khác rộng nên không bị ướt nhiều.

Miếu Ba Cô vừa được Hùng và Abu sửa chữa và sơn lại nên trông rất mới và sạch. Chi phí mua vật dụng sửa chữa do anh chị Chính (Úc) và một số người khác cho, phần c̣n thiếu anh Hùng chịu.

Anh Hùng cho biết: “Năm ngoái, tôi theo đoàn VKTNVN đến đây thấy miếu Ba Cô điêu tàn quá nên tự hứa sẽ sửa chữa thôi chứ không cầu xin điều ǵ. Tôi nhờ Abu hàng ngày đến làm. Trong đợt đi lần này, tôi đến đây trước làm chung với Abu được 4 ngày rồi về Singapore nhập đoàn.”

Abu cho biết anh c̣n đang nghĩ cách làm thế nào để bầy khỉ đứng ra phá đồ cúng, “chắc phải làm cánh cửa,” anh nghĩ vậy, nhưng chưa biết lấy tiền ở đâu ra làm.

Abu cho biết một trong những lần làm một ḿnh tại miếu Ba Cô, anh đă thấy ba người con gái treo lơ lửng giữa tàng cây bồ đề. Anh hoảng hồn bỏ cả dụng cụ chạy về nhà. Sau đó, anh không dám làm một ḿnh như trước nữa, mà luôn nhờ một người bạn đi cùng.

Anh Hùng nói: “Tại Abu làm mà không nói trước với Ba Cô. Chứ cúng rồi làm th́ đâu có sao. Phải xin phép chứ.”

Tôi cũng được nghe một số người kể về sự linh thiêng tại miếu Ba Cô, trong đó có một ông đến cầu xin nếu được định cư sẽ ở lại một thời gian chăm sóc miếu. Có thể trường hợp xét định cư của ông khó khăn lắm nên mới đến cầu xin như thế. Thời gian sau, ông có tên trong danh sách được định cư, và giữ lời hứa xin ở lại một năm để nhang khói miếu Ba Cô. Nếu câu chuyện là sự thật, th́ chắc đây là trường hợp duy nhất được đi nhưng lại xin hoăn.

C̣n chuyện hồn thiêng của Ba Cô có c̣n đó hay không, là tùy sự cảm nhận của mỗi người.

Viện bảo tàng Thuyền Nhân Việt Nam và tấm bia miệng ngàn năm

Viện bảo tàng Thuyền Nhân Việt Nam có một khu đất khá rộng tại Galang 1. Ngoài pḥng trưng bày những hiện vật của thuyền nhân tại Galang, viện bảo tàng c̣n có một khu trưng bày một số chiếc tàu vượt biển, và hai barrack, nơi cư ngụ của thuyền nhân ngày trước.

Pḥng trưng bày đơn giản và có khá ít hiện vật được trưng bày. Một số người am tường cho rằng c̣n khá nhiều hiện vật chưa được đưa ra, trong đó có tấm bia tưởng niệm bị đục bỏ vào tháng 5, 2005.

Sau khi đi xem một ṿng các kỷ vật, chúng tôi đứng ngoài hiên nói chuyện, th́ anh Safril, một trong hai hướng dẫn viên của đoàn, đến bắt tay từ giă. Anh cho biết đến đây là anh đă làm xong nhiệm vụ hướng dẫn, phần c̣n lại của chương tŕnh chỉ cần anh Ady là đủ. Chúng tôi lần lượt siết chặt tay anh từ giă và không quên “Terima kasi” anh.

Sáu ngày qua cũng đủ làm cả đoàn mến hai anh “tour guide” hoạt bát và dễ thương này. Nhiệt t́nh, chịu khó và có chút máu “tiếu lâm,” hai anh đă đem đến cho chúng tôi những giây phút thoải mái và một số hiểu biết về quê hương này. Chưa dứt chương tŕnh mà đă phải chia tay khiến chúng tôi không khỏi bùi ngùi.

Rời pḥng trưng bày, chúng tôi đến khu trưng bày một số tàu vượt biển. Vào tháng 3, 2005, VKTNVN đă dựng một tấm bia tưởng niệm thuyền nhân tại đây và tại đảo Bidong. Hai tấm bia thay mặt cộng đồng người Việt hải ngoại, giống nhau với những ḍng chữ:

“Tưởng niệm hàng trăm ngàn người Việt đă bỏ ḿnh trên con đường đi t́m tự do (1975-1996).

Dù họ chết v́ đói khát, v́ bị hăm hiếp, v́ kiệt sức hay v́ bất cứ lư do nào khác, chúng ta thảy đều cầu nguyện để họ được yên nghỉ dài lâu.

Sự hy sinh của họ sẽ không bao giờ bị lăng quên.”

Và:

“Tri ân những nỗ lực của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, của Hội Hồng Thập Tự và Hội Hồng Nguyệt Mă Lai/Nam Dương cùng các tổ chức cứu trợ quốc tế khác, chính phủ và nhân dân Mă Lai/Nam Dương cũng như các quốc gia tạm dung và các quốc gia định cư.

Chúng tôi cũng tri ân hàng ngàn người đă làm việc tận lực để giúp đỡ cho người tị nạn Việt Nam.”

Tôi ghi lại nội dung tấm bia để thấy rằng đập bỏ hai tấm bia trên là một sự phi lư cùng cực. Thế nhưng đó là sự thật. Với áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội, chỉ hai tháng sau khi hai tấm bia được dựng lên, chính quyền địa phương đă đập bỏ không thương tiếc lời cảm tạ của cộng đồng người Việt hải ngoại đối với chính phủ Malaysia/Indonesia trong việc cưu mang những thuyền nhân Việt Nam tị nạn.

Trong khu đất trưng bày cũng có một tấm pano lớn ghi một ḍng chữ bằng tiếng Anh, tạm dịch là: “Galang, kư ức của một quá khứ đau thương” cũng bị gỡ bỏ trong thời gian này.

Trước đây, tấm bia ở Galang chỉ bị đục bỏ tấm đá hoa cương khắc chữ phần nội dung, nhưng hôm chúng tôi đến th́ toàn bộ tấm bia đă không c̣n vết tích. Nh́n xuống mặt đất, chúng tôi vẫn c̣n thấy được một phần móng của tấm bia, thế nhưng thế hệ sau có biết được nơi đây đă có một tấm bia với lời lẽ nhân bản đă bị hủy hoại?

Tôi tin rằng không một thế lực nào có thể xóa bỏ một kư ức đau thương của chúng ta. Tấm bia đá không c̣n, thế nhưng tấm bia miệng vẫn c̣n măi đến ngàn đời, nếu như hôm nay, chúng ta về đây nhắc nhở kư ức, kể cho con cháu nghe một trang lịch sử đau thương của dân tộc, và nhắc nhở với con cháu rằng “trong cuộc đời hăy một lần về đây để chứng kiến, và truyền lại cho đời sau kư ức đau thương này.”

Được như thế, Galang, kư ức của một quá khứ đau thương, sẽ không bao giờ chết!

Nghĩa trang Galang 3: Đừng xóa bỏ lịch sử của chính ḿnh

Ở đó có 503 nấm mộ hầu hết bị xiêu vẹo, đổ nát hay rêu phong vây kín v́ không được chăm sóc thường xuyên. Trong số đó, có vài chục ngôi mộ của những người tự tử chống lại chính sách hồi hương.

V́ mối quan hệ ngoại giao giữa Indonesia và Việt Nam nên chính quyền địa phương đă cho sơn lại ba sọc xi măng của cây cột xây h́nh lá cờ VNCH thành màu đen! Điều này cũng chẳng thay đổi được tính chất của nghĩa trang này - nghĩa trang của những người vượt biển t́m tự do - mà c̣n cho thấy rơ dă tâm muốn xóa bỏ lịch sử của chính quyền Hà Nội.

Chúng tôi cùng thắp nhang tại bàn thờ chung và chia nhau đến từng ngôi mộ, nhờ đó thấy rơ hơn sự hoang tàn của nghĩa trang này.

Tôi tự hỏi liệu 10 hay 20 năm nữa, “thành phố” này có c̣n không, khi rất nhiều “ngôi nhà” bị sụp đất, đổ tường. Tôi cũng tự hỏi bao nhiêu người đă định cư tại nước ngoài quay trở lại đây sơn sửa mộ phần và thắp cho thân nhân họ một nén nhang?

Thương nhất là mộ những em bé chào đời, chết tại ḥn đảo này, và có lẽ đă lâu lắm không được gặp cha mẹ, trong đó có mộ em Dương Thái Bảo Chương.

Em sinh vào tháng 10, 1982, mất tháng 12 cùng năm. Mộ của một đứa bé hai tháng tuổi th́ nhỏ lắm, nhưng trên đó lại mọc một cây có lá giống như lá me. Giờ th́ cái cây ấy đă đè hoàn toàn vào ngôi nhà nhỏ bé của Chương.

Ngần ấy năm, chắc hẳn ba mẹ em không quay lại đây, v́ nếu có quay trở lại, ông bà sẽ nhổ cái cây đó cho em? Hay ông bà đă quay lại, nhưng theo lời thầy phong thủy cứ để yên như vậy để làm ăn được phát đạt?

Không có câu trả lời đích xác, thôi th́ cứ cho rằng cha mẹ em không có điều kiện về thăm em, nhưng vẫn nhớ em nhiều lắm.

Tuy nhiên, điều đau ḷng là khi chúng ta không quay trở lại nghĩa trang này hay không chăm sóc hàng trăm ngôi mộ thuyền nhân nằm rải rác khắp các nước Đông Nam Á, có nghĩa là chúng ta đă tự xóa bỏ lịch sử của chính ḿnh. (V.Đ.T.)