GALANG, Indonesia (VH): Ngày
6 tháng 4 có lẽ là ngày được
chờ đợi nhất trong chuyến đi
Indonesia của
đoàn Về Bến Tự Do 8. Ngày
hôm đó, chúng tôi đi thăm
trại tị nạn Galang, trại của
hàng trăm ngàn thuyền nhân
Việt Nam đến rồi đi, hay măi
măi nằm lại khu đồi Galang 3
lạnh lẽo.
Trong
đoàn chúng tôi có khá nhiều
anh chị đă từng ở Galang. Có
người ở vài ba tháng, có
người ở vài ba năm, tất cả
đều náo nức trở về.
Tôi nhớ trong lần nói
chuyện với anh Vinh, tị nạn
tại trại Kuku. Anh chia sẻ
như thế này: “Thời gian ở
Kuku là thời gian khổ cực
nhất trong cuộc đời tôi,
nhưng tôi vẫn lưu luyến nó.
Nó đă thay đổi tôi hoàn
toàn, và có lẽ nó đă cho tôi
một sức mạnh nào đó để tiến
thân trong cuộc đời. Trước
khi rời Kuku, tôi đă nghĩ
đến một ngày nào đó sẽ quay
về.”
Ư nghĩ đó đúng cho những
người trở về Galang ngày hôm
nay. Họ trở về không phải
như những người “áo gấm về
làng,” mà trở về để nói lời
cảm tạ mảnh đất mà họ đă
được sống cùng nhau, thở
cùng nhau hơi thở tự do.
Cầu tàu jetty, nơi đón
tiếp và tiễn đưa
Đă
có nhiều giọt nước mắt rơi
tại cầu tàu jetty. Người vừa
đặt bước chân đầu tiên xuống
cầu tàu rơi nước mắt v́ ḿnh
vừa qua một kiếp nạn. Người
được định cư một nước thứ ba
ra đi bỏ lại bạn bè, họ khóc
v́ chẳng biết bao giờ mới
gặp lại. Và hôm nay, cũng có
những đôi mắt đẫm nước khi
trở lại nơi này.
Cầu tàu jetty, nơi chứng
kiến hàng trăm cuộc đón,
đưa, vẫn c̣n đó. Có người
vui mừng khi thấy trạm y tế,
nơi họ được tiêm chủng ngay
khi đến đảo, hầu như c̣n
nguyên vẹn. Bên cạnh đó,
xưởng mộc dành cho thanh
niên không người thân, chỉ
c̣n là cái xác không hồn.
Phía bên kia đường, đối
diện cầu tàu, đồi tạm biệt
đă biến mất v́ cây cối um
tùm. Nơi đây đă từng chứng
kiến bao cảnh chia ly, người
đi định cư, người ở lại, cả
hai cùng khóc.
Tại cầu tàu, chúng tôi
thấy một chiếc tàu nhỏ cũ kỹ
nằm khuất sau một quán nước,
và được anh Lưu Dân kể lại
một câu chuyện đau ḷng.
Đó là chiếc tàu TV
4050TS, đến đảo khoảng năm
1986 với 5 người sống sót,
trong đó có một em bé. Chiếc
ghe 21 người vượt biển này
đă lưu lạc trên biển gần hai
tháng trời. Thực phẩm cạn,
cướp biển, máy hỏng, nên tàu
cứ lênh đênh trên biển như
thế. Người trên tàu chết dần
và người c̣n sống buộc ḷng
phải ăn thịt người chết để
tiếp tục sống. Cuối cùng th́
một tàu đánh cá
Indonesia
gặp được chiếc tàu nhỏ này.
Họ lên tàu và chứng kiến một
cảnh hăi hùng: Năm người như
những bộ xương nằm thoi thóp
thở bên cạnh những mẩu xương
người.
Sau khi được đưa đến
Galang, họ được Cao Ủy Tị
nạn LHQ cách ly và bảo vệ
trong một khu vực riêng
biệt. Sau hai ba tuần được
chăm sóc, khi sức khỏe được
phục hồi, họ đă kể lại câu
chuyện kinh hoàng này.
Câu chuyện làm mọi người
xúc động, dù chúng tôi biết
rằng đó không phải là câu
chuyện thương tâm duy nhất
được ghi nhận. Đảo Galang đă
chứng kiến không biết bao
nhiêu chuyện đau buồn, nhất
là thời gian những người đến
đảo sau năm 1984 bị cưỡng
bức hồi hương. Họ phản
kháng, và làm mọi chuyện để
kéo dài thời gian ở lại đảo.
Số người tự tử bằng nhiều
cách như tự mổ bụng, treo
cổ, tẩm xăng rồi đốt lên đến
hàng trăm.
Nhắc lại để biết rằng
Galang vẫn c̣n đó nhưng oan
hồn không thể siêu thoát.
Đền ơn đáp nghĩa
Trong khi nhóm chúng tôi
ở cầu tàu theo hướng dẫn của
anh Lưu Dân th́ một nhóm
khác theo anh Trần Đông đi
thăm một trường tiểu học
trong vùng.
Sau khi hai nhóm nhập
lại, đoàn chúng tôi đă đi
thăm hai trường trung học đệ
nhất cấp và đệ nhị cấp.
Anh Trần Đông cho biết:
“Mục đích của chuyến thăm
viếng này là nhằm thể hiện
chuyện đền ơn đáp nghĩa. V́
nếu không có sự giúp đỡ của
người bản xứ th́ sẽ không có
chỗ tạm cư cho thuyền nhân
tị nạn Việt Nam, và nhiều
người trong chúng ta sẽ
không có ngày hôm nay. Cuộc
thăm viếng nhằm t́m hiểu họ
cần ǵ để giúp các em học
tốt, và chúng ta giúp được
ǵ cho họ.”
Sau cuộc thăm viếng và
t́m hiểu nhu cầu cần thiết
của ba trường học, anh Trần
Đông cho biết: “Trường tiểu
học xin chúng ta giúp một
máy phát điện 5kw; một số tự
điển English ố Indonesian;
sách h́nh; vài ba laptop cho
các em học sinh lớp 6 thực
tập và hệ thống loa nói
chuyện ngoài trời. Trường
trung học đệ nhất cấp xin
giúp một máy phát điện 5kw;
một máy scan và photocopy;
một máy projector và vài
laptop cho giảng dạy vi
tính. Trường trung học đệ
nhị cấp xin giúp một máy
projector, tráng xi măng cho
sân chơi thể thao; môt máy
scan và photocopy; sách giáo
khoa.”
“Như
anh đă biết, VKTNVN đă được
một số đồng bào và anh em
trong đoàn kỳ này đóng góp
được 3,450 Úc kim. Số tiền
này đủ để chúng ta mua hai
máy phát điện 5kw, và trong
đợt này sẽ trao tặng cho
trường tiểu học và trung học
đệ nhất cấp theo yêu cầu của
họ,” anh Đông cho biết thêm.
Qua nhật báo Việt
Heraeld, VKTNVN cũng gởi lời
kêu gọi sự trợ giúp của cộng
đồng người Việt hải ngoại
khắp nơi, để chúng ta có thể
hiện tấm ḷng “uống nước nhớ
nguồn.”
Anh Trần Đông cho biết
thêm: “Nếu đồng bào khắp nơi
nhiệt t́nh hưởng ứng, chúng
ta có thể giúp cho toàn bộ
20 trường trung, tiểu học
tại quận Galang này.”
Độc giả có thể vào trang
nhà www.vktnvn.com để xem
thêm chi tiết và cách thức
chuyển tiền giúp đỡ.
Lời kinh trong Kỳ Viên
Tự và nhà thờ Đức Mẹ Vô
Nhiễm
Điểm
đến kế tiếp của đoàn là Kỳ
Viên Tự và nhà thờ Đức Mẹ Vô
Nhiễm.
Trên đường đi, chúng tôi
gặp vô số khỉ, chúng tràn ra
đường mà chẳng hề sợ hăi,
khiến xe chúng tôi phải đi
thật chậm để chúng kịp tránh
ra. Qua lời tường thuật của
anh Lưu Dân, hồi trước dọc
đường đi này có rất nhiều
barack cho người tị nạn,
nhưng nay chỉ c̣n một số cái
xiêu vẹo, xác xơ. Cây cối đă
che mất một mảng quá khứ,
nhưng những người đă từng ở
đây như anh không thể nào
quên những địa điểm mang đậm
dấu ấn của một thời tị nạn.
Chúng tôi ghé thăm chùa
Kỳ Viên và nhà thờ Đức Mẹ Vô
Nhiễm tại Galang 2. Chiếc
cầu gỗ nối liền đường chính
với nhà thờ đă không c̣n
được sử dụng v́ quá cũ. Thay
vào đó là một chiếc cầu bê
tông chắc chắn được xây sau
này, bên phía chùa Kỳ Viên.
Cả nơi này tuy có vẻ tiêu
điều những vẫn được người
bản địa chăm sóc nên vẫn c̣n
giữ được vẻ tôn kính, uy
nghiêm.
Một số Phật tử vào chùa
dâng hương và lặng lẽ niệm
Phật. Không tiếng mơ, tiếng
chuông, nhưng tôi nghe được
tiếng ḷng của người Phật tử
trở về chùa. Cũng nơi đây 30
năm trước, họ đă đến cầu
nguyện để được sớm định cư.
Hôm nay trở về chùa, họ mang
theo lời cảm tạ tấm ḷng bồ
tát của đức Phật từ bi.
Ngôi
nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm sừng
sững tôn nghiêm vẫn đứng
vững dù đă trải qua biết bao
mùa mưa nắng. Trong giáo
đường, bàn ghế, thánh giá,
tượng Chúa Giêsu, tượng Đức
Mẹ Maria vẫn c̣n nguyên vẹn,
chỉ thiếuà linh mục và tín
đồ.
Ngoài sân, tượng Đức Mẹ
mặc chiếc áo dài Việt Nam
đang chắp tay ban phép lành
cho những thuyền nhân ngoài
biển khơi vẫn c̣n đó. Tôi
tin rằng, dù không c̣n
thuyền nhân tị nạn trên biển
Đông, Đức Mẹ vẫn ban phép
lành cho những người Việt xa
xứ, và trong tiếng gió xôn
xao, tôi chợt như nghe lời
kinh Kính Mừng vọng ra từ
nhà thờ.
Những đứa con của Mẹ đang
trở về quỳ xin Mẹ tha thứ.
(V.Đ.T.)