Kỳ 10: Galang, kư ức của một quá khứ đau thương

(04/07/2010)

 

GALANG, Indonesia (VH): Ngày 6 tháng 4 có lẽ là ngày được chờ đợi nhất trong chuyến đi Indonesia của đoàn Về Bến Tự Do 8. Ngày hôm đó, chúng tôi đi thăm trại tị nạn Galang, trại của hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam đến rồi đi, hay măi măi nằm lại khu đồi Galang 3 lạnh lẽo.

Trong đoàn chúng tôi có khá nhiều anh chị đă từng ở Galang. Có người ở vài ba tháng, có người ở vài ba năm, tất cả đều náo nức trở về.

Tôi nhớ trong lần nói chuyện với anh Vinh, tị nạn tại trại Kuku. Anh chia sẻ như thế này: “Thời gian ở Kuku là thời gian khổ cực nhất trong cuộc đời tôi, nhưng tôi vẫn lưu luyến nó. Nó đă thay đổi tôi hoàn toàn, và có lẽ nó đă cho tôi một sức mạnh nào đó để tiến thân trong cuộc đời. Trước khi rời Kuku, tôi đă nghĩ đến một ngày nào đó sẽ quay về.”

Ư nghĩ đó đúng cho những người trở về Galang ngày hôm nay. Họ trở về không phải như những người “áo gấm về làng,” mà trở về để nói lời cảm tạ mảnh đất mà họ đă được sống cùng nhau, thở cùng nhau hơi thở tự do.

Cầu tàu jetty, nơi đón tiếp và tiễn đưa

Đă có nhiều giọt nước mắt rơi tại cầu tàu jetty. Người vừa đặt bước chân đầu tiên xuống cầu tàu rơi nước mắt v́ ḿnh vừa qua một kiếp nạn. Người được định cư một nước thứ ba ra đi bỏ lại bạn bè, họ khóc v́ chẳng biết bao giờ mới gặp lại. Và hôm nay, cũng có những đôi mắt đẫm nước khi trở lại nơi này.

Cầu tàu jetty, nơi chứng kiến hàng trăm cuộc đón, đưa, vẫn c̣n đó. Có người vui mừng khi thấy trạm y tế, nơi họ được tiêm chủng ngay khi đến đảo, hầu như c̣n nguyên vẹn. Bên cạnh đó, xưởng mộc dành cho thanh niên không người thân, chỉ c̣n là cái xác không hồn.

Phía bên kia đường, đối diện cầu tàu, đồi tạm biệt đă biến mất v́ cây cối um tùm. Nơi đây đă từng chứng kiến bao cảnh chia ly, người đi định cư, người ở lại, cả hai cùng khóc.

Tại cầu tàu, chúng tôi thấy một chiếc tàu nhỏ cũ kỹ nằm khuất sau một quán nước, và được anh Lưu Dân kể lại một câu chuyện đau ḷng.

Đó là chiếc tàu TV 4050TS, đến đảo khoảng năm 1986 với 5 người sống sót, trong đó có một em bé. Chiếc ghe 21 người vượt biển này đă lưu lạc trên biển gần hai tháng trời. Thực phẩm cạn, cướp biển, máy hỏng, nên tàu cứ lênh đênh trên biển như thế. Người trên tàu chết dần và người c̣n sống buộc ḷng phải ăn thịt người chết để tiếp tục sống. Cuối cùng th́ một tàu đánh cá Indonesia gặp được chiếc tàu nhỏ này. Họ lên tàu và chứng kiến một cảnh hăi hùng: Năm người như những bộ xương nằm thoi thóp thở bên cạnh những mẩu xương người.

Sau khi được đưa đến Galang, họ được Cao Ủy Tị nạn LHQ cách ly và bảo vệ trong một khu vực riêng biệt. Sau hai ba tuần được chăm sóc, khi sức khỏe được phục hồi, họ đă kể lại câu chuyện kinh hoàng này.

Câu chuyện làm mọi người xúc động, dù chúng tôi biết rằng đó không phải là câu chuyện thương tâm duy nhất được ghi nhận. Đảo Galang đă chứng kiến không biết bao nhiêu chuyện đau buồn, nhất là thời gian những người đến đảo sau năm 1984 bị cưỡng bức hồi hương. Họ phản kháng, và làm mọi chuyện để kéo dài thời gian ở lại đảo. Số người tự tử bằng nhiều cách như tự mổ bụng, treo cổ, tẩm xăng rồi đốt lên đến hàng trăm.

Nhắc lại để biết rằng Galang vẫn c̣n đó nhưng oan hồn không thể siêu thoát.

Đền ơn đáp nghĩa

Trong khi nhóm chúng tôi ở cầu tàu theo hướng dẫn của anh Lưu Dân th́ một nhóm khác theo anh Trần Đông đi thăm một trường tiểu học trong vùng.

Sau khi hai nhóm nhập lại, đoàn chúng tôi đă đi thăm hai trường trung học đệ nhất cấp và đệ nhị cấp.

Anh Trần Đông cho biết: “Mục đích của chuyến thăm viếng này là nhằm thể hiện chuyện đền ơn đáp nghĩa. V́ nếu không có sự giúp đỡ của người bản xứ th́ sẽ không có chỗ tạm cư cho thuyền nhân tị nạn Việt Nam, và nhiều người trong chúng ta sẽ không có ngày hôm nay. Cuộc thăm viếng nhằm t́m hiểu họ cần ǵ để giúp các em học tốt, và chúng ta giúp được ǵ cho họ.”

Sau cuộc thăm viếng và t́m hiểu nhu cầu cần thiết của ba trường học, anh Trần Đông cho biết: “Trường tiểu học xin chúng ta giúp một máy phát điện 5kw; một số tự điển English ố Indonesian; sách h́nh; vài ba laptop cho các em học sinh lớp 6 thực tập và hệ thống loa nói chuyện ngoài trời. Trường trung học đệ nhất cấp xin giúp một máy phát điện 5kw; một máy scan và photocopy; một máy projector và vài laptop cho giảng dạy vi tính. Trường trung học đệ nhị cấp xin giúp một máy projector, tráng xi măng cho sân chơi thể thao; môt máy scan và photocopy; sách giáo khoa.”

“Như anh đă biết, VKTNVN đă được một số đồng bào và anh em trong đoàn kỳ này đóng góp được 3,450 Úc kim. Số tiền này đủ để chúng ta mua hai máy phát điện 5kw, và trong đợt này sẽ trao tặng cho trường tiểu học và trung học đệ nhất cấp theo yêu cầu của họ,” anh Đông cho biết thêm.

Qua nhật báo Việt Heraeld, VKTNVN cũng gởi lời kêu gọi sự trợ giúp của cộng đồng người Việt hải ngoại khắp nơi, để chúng ta có thể hiện tấm ḷng “uống nước nhớ nguồn.”

Anh Trần Đông cho biết thêm: “Nếu đồng bào khắp nơi nhiệt t́nh hưởng ứng, chúng ta có thể giúp cho toàn bộ 20 trường trung, tiểu học tại quận Galang này.”

Độc giả có thể vào trang nhà www.vktnvn.com để xem thêm chi tiết và cách thức chuyển tiền giúp đỡ.

Lời kinh trong Kỳ Viên Tự và nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm

Điểm đến kế tiếp của đoàn là Kỳ Viên Tự và nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Trên đường đi, chúng tôi gặp vô số khỉ, chúng tràn ra đường mà chẳng hề sợ hăi, khiến xe chúng tôi phải đi thật chậm để chúng kịp tránh ra. Qua lời tường thuật của anh Lưu Dân, hồi trước dọc đường đi này có rất nhiều barack cho người tị nạn, nhưng nay chỉ c̣n một số cái xiêu vẹo, xác xơ. Cây cối đă che mất một mảng quá khứ, nhưng những người đă từng ở đây như anh không thể nào quên những địa điểm mang đậm dấu ấn của một thời tị nạn.

Chúng tôi ghé thăm chùa Kỳ Viên và nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm tại Galang 2. Chiếc cầu gỗ nối liền đường chính với nhà thờ đă không c̣n được sử dụng v́ quá cũ. Thay vào đó là một chiếc cầu bê tông chắc chắn được xây sau này, bên phía chùa Kỳ Viên. Cả nơi này tuy có vẻ tiêu điều những vẫn được người bản địa chăm sóc nên vẫn c̣n giữ được vẻ tôn kính, uy nghiêm.

Một số Phật tử vào chùa dâng hương và lặng lẽ niệm Phật. Không tiếng mơ, tiếng chuông, nhưng tôi nghe được tiếng ḷng của người Phật tử trở về chùa. Cũng nơi đây 30 năm trước, họ đă đến cầu nguyện để được sớm định cư. Hôm nay trở về chùa, họ mang theo lời cảm tạ tấm ḷng bồ tát của đức Phật từ bi.

Ngôi nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm sừng sững tôn nghiêm vẫn đứng vững dù đă trải qua biết bao mùa mưa nắng. Trong giáo đường, bàn ghế, thánh giá, tượng Chúa Giêsu, tượng Đức Mẹ Maria vẫn c̣n nguyên vẹn, chỉ thiếuà linh mục và tín đồ.

Ngoài sân, tượng Đức Mẹ mặc chiếc áo dài Việt Nam đang chắp tay ban phép lành cho những thuyền nhân ngoài biển khơi vẫn c̣n đó. Tôi tin rằng, dù không c̣n thuyền nhân tị nạn trên biển Đông, Đức Mẹ vẫn ban phép lành cho những người Việt xa xứ, và trong tiếng gió xôn xao, tôi chợt như nghe lời kinh Kính Mừng vọng ra từ nhà thờ.

Những đứa con của Mẹ đang trở về quỳ xin Mẹ tha thứ. (V.Đ.T.)