Bài: Vũ Đ́nh Trọng (tường
tŕnh từ
Indonesia) và
Lưu Sơn/Việt Herald
H́nh:
Vũ Đ́nh Trọng/Việt Herald
TERAMPAH, Indonesia (VH):
Ngày 5 tháng 4, đoàn về Bến
Tự Do 8 có một ngày nghỉ
ngơi gần như cả ngày. Buổi
sáng, đoàn đi thăm một ngôi
trường tiểu học tại một ḥn
đảo nhỏ, trước khi đến một
ḍng suối tuyệt đẹp và một
đảo hoang để vui chơi, tắm
biển. Buổi chiều, chúng tôi
ghé thăm hai ngôi mộ trên
núi đảo Terampah. Buổi tối,
đoàn tham dự một buổi tiệc
do chính quyền quần đảo
Anambas và đảo Terampah
khoản đăi.
Tôi
không tham dự chương tŕnh
buổi sáng để ở nhà viết bài
kỳ 8. Được một ngày thong
thả, vừa viết, vừa nghỉ ngơi
dưỡng sức, chứ tôi sợ đi
chơi mà “tiêu hao lực lượng”
th́ c̣n sức đâu mà “chiến
đấu” khi qua đảo Galang.
Cái nghiệp làm báo cực
lắm. Khi người khác làm
việc, ḿnh cũng làm việc,
khi người ta nghỉ ngơi th́
đến lúc ḿnh phải viết bài.
Lịch làm việc như thế cũng
đă 10 ngày rồi, ráng thêm
vài ngày nữa là kết thúc
chuyến đi, trở về Mỹ đi
“cày” tiếp!
Thăm ngôi trường nghèo
Phần này, tôi ghi lại
theo lời tường thuật của anh
Lưu Dân.
Trước khi đến một con
suối và một băi biển rất đẹp
để anh em trong đoàn có thời
gian vui chơi, nghỉ ngơi,
chúng tôi ghé thăm một
trường tiểu học tại một ḥn
đảo nhỏ kế bên Terampah.
Ngôi trường nhỏ xinh xắn
gồm 6 lớp học với khoảng
trên 100 học sinh. Cuộc thăm
viếng không hẹn trước này đă
khiến ḥn đảo xôn xao, vui
nhộn hơn ngày thường.
Chúng tôi được các thầy
cô vui vẻ đón tiếp. Sau khi
tŕnh bày ư định, thầy cô đă
cho các em ra sân chào đón
chúng tôi. Như một lũ ong
con, các em ào ra sân tíu
tít nói cười bằng tiếng
Indonesia làm
chúng tôi chẳng hiểu ǵ cả,
nhưng cũng khoa chân múa tay
nói bằng tiếng Anh. Tuy thế,
hai bên có vẻ “hiểu nhau”
lắm!
Các anh chị trong đoàn
thấy một quán nhỏ gần
trường, thế là cả nhóm kéo
ra đó mua như muốn vét hết
kẹo bánh ở quán. Chủ quán
được một ngày “trúng mánh.”
Chúng tôi chia nhau phát
quà cho các em, rồi dạy các
em một vài câu nói thông
thường bằng tiếng Anh. Đổi
lại, các em dạy chúng tôi
vài câu chào hỏi bằng tiếng
mẹ đẻ. Cuộc trao đổi ngôn
ngữ đă làm cho chúng tôi và
các em gần nhau hơn.
Rời trường, chúng tôi đến
một ḥn đảo có thác nước 7
tầng rất đẹp. Khung cảnh ḥn
đảo này thật nên thơ và vẫn
mang vẻ hoang dại v́ không
có người ở. Nước suối trong
vắt khiến nhiều người chưa
muốn tắm cũng phải nhào
xuống ngụp lặn và để cho
ḍng nước “massage.”
Khoảng hai tiếng sau,
đoàn chúng tôi xuống tàu
tiếp tục cuộc hành tŕnh đến
đảo Thiên Đàng. Đây là tên
do anh em đặt ngay khi bước
chân xuống băi cát trắng
phau không dấu chân người.
Một anh bạn nói: “Chơi
cho bơ những ngày cơ cực.”
Quả là bơ những ngày “cơ
cực” thiệt khi vừa tắm biển,
vừa dùng bữa trưa với cá
nướng và vài chai bia ướp
lạnh.
Mát trời ông Địa!
Hai mảnh đời
Buổi
chiều, đứng tại pḥng ăn
khách sạn nh́n ra cầu tàu,
tôi thấy hai thuyền viên
chiếc tàu đánh cá BĐ 95605TS
đang chèo thuyền thúng ra
tàu. Nh́n hai anh, tôi liên
tưởng đến hai nấm mộ nằm
trên núi đảo này.
Cái nghèo đă khiến hai
anh có mặt tại đây với thân
phận tù tội.
V́ mất tự do, v́ không
được hưởng quyền làm người,
có hai người vượt biển để
rồi nằm tại nơi này.
Hai thuyền viên bị bắt
giữ, rồi sẽ có ngày trở về.
Hai người vượt biển sẽ măi
măi nằm lại đây. Mảnh đời
nào xót xa hơn?
Mộ hai thuyền nhân vô
danh nằm trên núi, nh́n ra
biển. Đường đi lên thật khó
và chỉ có thể đi bằng xe gắn
máy.
Ai yếu tim th́ chắc chưa
lên đến nơi đă đ̣i xuống v́
đường đi hẹp, một bên là
núi, bên là vực. Có rất
nhiều chỗ dốc tới 45 độ,
thêm ổ gà và lởm chởm đá nên
chỉ có quay xuống hoặc ôm
chặt anh tài xế xe ôm rồi
“muốn tới đâu th́ tới,” th́
mới tới nơi.
Hai
ngôi một được chăm sóc chu
đáo. Người địa phương cho
biết khoảng hai tuần trước
có một nhóm người lên thăm,
nên trên hai ngôi mộ được
phủ những tấm giấy bạc dùng
để đốt cho người chết.
Chúng tôi đốt một ít vàng
mă và thắp nhang đèn cho hai
ngôi mộ. Vài người dọn ít cỏ
chung quanh cho sạch, rồi
chúng tôi làm một lễ cầu
nguyện ngắn.
V́ không có ai theo đạo
Công Giáo nên chúng tôi chỉ
niệm chú Di Đà. Cái cảm giác
rợn sống lưng và nổi gai ốc
lại đến với tôi một lần nữa
khi đứng trước hai ngôi mộ
và niệm Phật.
Có phải tôi đă thành tâm
cầu nguyện cho những thuyền
nhân xấu số sớm được siêu
thoát hay không?
Những lần đến chùa niệm
Phật cầu xin b́nh yên cho
chính ḿnh và gia đ́nh, tôi
chưa lần nào có cảm giác như
thế cả.
Anh Lưu Dân cho biết
ngoài hai ngôi mộ này, c̣n
một số ngôi mộ vô danh khác
nằm bên kia núi. Do chưa có
đường đi bằng xe ôm bên này
núi nên mỗi lần đến đây, các
anh chỉ gởi tiền và nhang
đèn cho người địa phương,
nhờ họ lên đó thắp nhang và
dọn cỏ.
Những ngôi mộ này được
một mục sư chôn cất vào
khoảng năm 1978-1979. Ngọn
núi này thuộc quyền sở hữu
của ông. Ông đă qua đời và
để lại di chúc hiến ngọn núi
này làm bệnh viện nhưng giữ
lại đỉnh núi. Mộ của ông
được xây cạnh hai ngôi mộ vô
danh.
Như thế, những ngôi mộ
thuyền nhân vô danh này, sẽ
măi măi nằm lại cạnh ông mục
sư tốt bụng.
Buổi tiệc chiêu đăi
của chính quyền địa phương
Trước
khi rời đảo Terampah để đến
Batam, chúng tôi đă được
chính quyền địa phương mời
tham dự một buổi tiệc khá
long trọng, với sự có mặt
của hầu hết chức sắc đại
diện quần đảo Anambas.
Mục đích chính của buổi
tiệc là nhằm thắt chặt hơn
mối quan hệ giữa Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam
(VKTNVN) và chính quyền tại
đây. Họ muốn VKTNVN giúp
phát triển ngành du lịch tại
quần đảo Anambas, khi cam
kết bảo vệ những ḥn đảo,
nơi thuyền nhân Việt Nam đă
từng cư ngụ, và những nghĩa
trang trên các đảo này, đồng
thời sẽ công nhận đây là
những di sản thuyền nhân cần
được bảo tồn.
Nhân
dịp này, anh Trần Đông, giám
đốc VKTNVN, đă trao tặng
chính quyền địa phương một
Bảng Tri Ân về sự giúp đỡ,
cưu mang những thuyền nhân
Việt
Nam khi đến đây
tị nạn.
Buổi tiệc kết thúc bằng
một chương tŕnh ca nhạc
mang đậm nét dân tộc
Indonesia .
Câu chuyện nửa ṿng
trái đất
Trở lại câu chuyện những
thuyền viên trên tàu đánh cá
BĐ 95605TS. Tôi đă gặp một
trong những thuyền viên này,
anh Đinh Văn Phú, xin tạm
gọi là “thuyền nhân năm
2010,” coi như đang bị giam
giữ tại đảo Terampah, v́ tàu
đánh cá của anh đi lạc vào
đảo mấy tháng nay.
Theo
anh Phú kể, anh sinh năm
1979 tại Quảng Nham, Thanh
Hóa, vào B́nh Định đi đánh
cá trên tàu. Toàn bộ thủy
thủ đoàn 9 người, trong đó
có một tài công, đi ra biển
ngày 19 tháng chạp âm lịch
năm 2009. Chuyến đi này kéo
dài và phải ăn Tết trên tàu.
Mới đầu đánh cá tại hải phận
Việt Nam nhưng không thu
hoạch nhiều cá, cho nên họ
phải di chuyển xuống vùng
biễn của Indonesia đánh cá
đến ngày 24 tháng 2, dự định
trở về.
Nhưng đến 2 giờ chiều
cùng ngày th́ tàu bị hải
quân
Indonesia bắt
được. Họ cập vào mạn tàu và
lên tàu xét giấy tờ và phạt
vi phạm lănh hải
Indonesia 7 hải
lư. Trong lúc đó, anh em
cũng biết là ḿnh vi phạm
lănh hải cho nên chấp hành
lệnh của hải quân. Họ cho
tài công và một người chạy
chiếc tàu vô đảo Terampah,
c̣n 7 người kia phải lên tàu
của họ.
Tất cả đều bị nhốt nhưng
họ cho 2 người thuyền viên
ra ngoài trong đó có Đinh
Văn Phú và lên tàu để nấu
cơm cho mấy người kia ăn. Họ
có điện thoại về chủ tàu và
chủ tàu cho biết sẽ lo giấy
tờ để mang tàu về, nhưng đến
giờ chưa thấy ǵ cả. Nghe
nói là người tài công sẽ bị
đưa ra ṭa.
Cuộc sống trong trại giam
cũng được đối xử đàng hoàng
không bị đánh đập. Người dân
có công việc như bốc vác hay
phụ xây dựng nếu cần nhân
công th́ quản giáo cũng cho
các anh em ra làm việc mỗi
ngày được trả công 40,000
ringit (khoảng $5).
Anh Phú có vợ hiện đang ở
Mỹ Tho, phụ bán bánh ướt ở
chợ, mỗi tháng kiếm được
900,000 đồng. Vợ anh đang bị
u nang buồng trứng đă mổ 2
lần, sức khỏe rất yếu.
Ngoài việc phụ hồ, bốc
vác anh Phú c̣n làm thêm
viêc đóng các thùng nước
mang đến từng nhà để kiếm
thêm tiền. Nguyện vọng của
anh Phú là mong đại sứ quán
Việt
Nam ở
Jakarta sớm liên lạc với chính quyền
địa phương để giải quyết vụ
việc và để cho các thuyền
viên sớm về lại quê hương.
Sau khi tôi gọi điện
thoại về ṭa soạn nhật báo
Việt Herald, phóng viên Lưu
Sơn đă lập tức gọi ngay về
Mỹ Tho để hỏi thăm chị Hằng,
chị của anh Phú.
Khi nói chuyện, chị Hằng
vô cùng ngạc nhiên, không
biết tại sao phóng viên Lưu
Sơn có số điện thoại của
chị. Chị vừa khóc vừa nói:
“Tôi có nhận được một cái
thư của Phú gởi về Việt
Nam lâu lắm rồi.
Từ đó đến bây giờ mất liên
lạc không biết em trai tôi
sống chết ra sao.”
Thế là phóng viên Lưu Sơn
nhờ chị Hằng liên lạc với vợ
của anh Phú dùm, chị hẹn 20
phút sau sẽ có mặt vợ của
anh Phú, cũng tên Hằng.
Sau đó, khoảng 11 giờ tối
tại
California, phóng viên Lưu Sơn lại
gọi về và lần này may mắn
gặp vợ của anh Phú. Qua điện
thoại, chị hỏi thăm sức khỏe
của anh Phú và nhờ ṭa soạn
giúp đỡ cho chồng của chị.
Chị cũng nhờ tôi, qua
phóng viên Lưu Sơn, nói anh
Phú cứ yên tâm giữ ǵn sức
khỏe, phần chị vẫn lo đi làm
và cố gắng kiếm thêm tiền để
điều trị bịnh u nang buồng
trứng.
Theo lời phóng viên Lưu
Sơn cho biết, chị nghẹn ngào
đứt quăng trong từng lời
nói: “Hai vợ chồng tôi từ
Thanh Hóa vào miền
Nam để làm ăn
kiếm miếng sống. Anh Phú
phải theo tàu biển bán thân
cho sóng nước, tôi đi làm
phụ tiệm bán bánh ướt không
đủ tiền để chữa trị cái bệnh
u nang, bây giờ biết anh c̣n
sống là tôi mừng như chết đi
sống lại. Cầu trời khấn phật
cho chồng tôi sớm được thả
về. Tôi xin cảm ơn mấy ông
nhà báo đă cho biết tin tức
về chồng tôi. Xin cảm ơn các
ông rất nhiều, tôi nghèo quá
không biết lấy ǵ đền đáp
lại ơn nghĩa này.”
Trước khi chia tay, một
số anh chị em trong đoàn Về
Bến Tự Do 8 đă gom được một
ít tiền đưa anh Phú để anh
mua thêm thức ăn cho những
anh em khác trong trại giam.
Đêm qua tôi về nhà không
ngủ được, cứ miên man nghĩ
về đôi vợ chồng trẻ này. Sao
mà nhiều cảnh đời oan nghiệt
quá, chỉ v́ muốn kiếm thêm
tiền để lo chữa bệnh cho
người vợ trẻ mà người chồng
phải làm bạn ghe hầu kiếm
thêm chút tiền.
Chỉ nghĩ đến cái Tết năm
vừa qua vào ngày giao thừa
có hàng vạn gia đ́nh quây
quần bên mâm cúng, chỉ riêng
gia đ́nh chị Hằng và anh Phú
phải chia tay nhau. Người vợ
không biết người chồng ra
sao, sống chết thế nào trên
biển cả mênh mông. Người
chồng th́ dơi mắt nh́n về
quê hương qua hàng dây thép
gai trong trại tạm giam trên
xứ lạ quê người cách nhau
một đại dương. (V.Đ.T. &
L.S.)