Kỳ 9: Thuyền nhân năm xưa và thuyền nhân ngày nay

(04/06/2010)
Bài: Vũ Đ́nh Trọng (tường tŕnh từ Indonesia) và Lưu Sơn/Việt Herald

H́nh: Vũ Đ́nh Trọng/Việt Herald

 

TERAMPAH, Indonesia (VH): Ngày 5 tháng 4, đoàn về Bến Tự Do 8 có một ngày nghỉ ngơi gần như cả ngày. Buổi sáng, đoàn đi thăm một ngôi trường tiểu học tại một ḥn đảo nhỏ, trước khi đến một ḍng suối tuyệt đẹp và một đảo hoang để vui chơi, tắm biển. Buổi chiều, chúng tôi ghé thăm hai ngôi mộ trên núi đảo Terampah. Buổi tối, đoàn tham dự một buổi tiệc do chính quyền quần đảo Anambas và đảo Terampah khoản đăi.

Tôi không tham dự chương tŕnh buổi sáng để ở nhà viết bài kỳ 8. Được một ngày thong thả, vừa viết, vừa nghỉ ngơi dưỡng sức, chứ tôi sợ đi chơi mà “tiêu hao lực lượng” th́ c̣n sức đâu mà “chiến đấu” khi qua đảo Galang.

Cái nghiệp làm báo cực lắm. Khi người khác làm việc, ḿnh cũng làm việc, khi người ta nghỉ ngơi th́ đến lúc ḿnh phải viết bài. Lịch làm việc như thế cũng đă 10 ngày rồi, ráng thêm vài ngày nữa là kết thúc chuyến đi, trở về Mỹ đi “cày” tiếp!

Thăm ngôi trường nghèo

Phần này, tôi ghi lại theo lời tường thuật của anh Lưu Dân.

Trước khi đến một con suối và một băi biển rất đẹp để anh em trong đoàn có thời gian vui chơi, nghỉ ngơi, chúng tôi ghé thăm một trường tiểu học tại một ḥn đảo nhỏ kế bên Terampah.

Ngôi trường nhỏ xinh xắn gồm 6 lớp học với khoảng trên 100 học sinh. Cuộc thăm viếng không hẹn trước này đă khiến ḥn đảo xôn xao, vui nhộn hơn ngày thường.

Chúng tôi được các thầy cô vui vẻ đón tiếp. Sau khi tŕnh bày ư định, thầy cô đă cho các em ra sân chào đón chúng tôi. Như một lũ ong con, các em ào ra sân tíu tít nói cười bằng tiếng Indonesia làm chúng tôi chẳng hiểu ǵ cả, nhưng cũng khoa chân múa tay nói bằng tiếng Anh. Tuy thế, hai bên có vẻ “hiểu nhau” lắm!

Các anh chị trong đoàn thấy một quán nhỏ gần trường, thế là cả nhóm kéo ra đó mua như muốn vét hết kẹo bánh ở quán. Chủ quán được một ngày “trúng mánh.”

Chúng tôi chia nhau phát quà cho các em, rồi dạy các em một vài câu nói thông thường bằng tiếng Anh. Đổi lại, các em dạy chúng tôi vài câu chào hỏi bằng tiếng mẹ đẻ. Cuộc trao đổi ngôn ngữ đă làm cho chúng tôi và các em gần nhau hơn.

Rời trường, chúng tôi đến một ḥn đảo có thác nước 7 tầng rất đẹp. Khung cảnh ḥn đảo này thật nên thơ và vẫn mang vẻ hoang dại v́ không có người ở. Nước suối trong vắt khiến nhiều người chưa muốn tắm cũng phải nhào xuống ngụp lặn và để cho ḍng nước “massage.”

Khoảng hai tiếng sau, đoàn chúng tôi xuống tàu tiếp tục cuộc hành tŕnh đến đảo Thiên Đàng. Đây là tên do anh em đặt ngay khi bước chân xuống băi cát trắng phau không dấu chân người.

Một anh bạn nói: “Chơi cho bơ những ngày cơ cực.” Quả là bơ những ngày “cơ cực” thiệt khi vừa tắm biển, vừa dùng bữa trưa với cá nướng và vài chai bia ướp lạnh.

Mát trời ông Địa!

Hai mảnh đời

Buổi chiều, đứng tại pḥng ăn khách sạn nh́n ra cầu tàu, tôi thấy hai thuyền viên chiếc tàu đánh cá BĐ 95605TS đang chèo thuyền thúng ra tàu. Nh́n hai anh, tôi liên tưởng đến hai nấm mộ nằm trên núi đảo này.

Cái nghèo đă khiến hai anh có mặt tại đây với thân phận tù tội.

V́ mất tự do, v́ không được hưởng quyền làm người, có hai người vượt biển để rồi nằm tại nơi này.

Hai thuyền viên bị bắt giữ, rồi sẽ có ngày trở về. Hai người vượt biển sẽ măi măi nằm lại đây. Mảnh đời nào xót xa hơn?

Mộ hai thuyền nhân vô danh nằm trên núi, nh́n ra biển. Đường đi lên thật khó và chỉ có thể đi bằng xe gắn máy.

Ai yếu tim th́ chắc chưa lên đến nơi đă đ̣i xuống v́ đường đi hẹp, một bên là núi, bên là vực. Có rất nhiều chỗ dốc tới 45 độ, thêm ổ gà và lởm chởm đá nên chỉ có quay xuống hoặc ôm chặt anh tài xế xe ôm rồi “muốn tới đâu th́ tới,” th́ mới tới nơi.

Hai ngôi một được chăm sóc chu đáo. Người địa phương cho biết khoảng hai tuần trước có một nhóm người lên thăm, nên trên hai ngôi mộ được phủ những tấm giấy bạc dùng để đốt cho người chết.

Chúng tôi đốt một ít vàng mă và thắp nhang đèn cho hai ngôi mộ. Vài người dọn ít cỏ chung quanh cho sạch, rồi chúng tôi làm một lễ cầu nguyện ngắn.

V́ không có ai theo đạo Công Giáo nên chúng tôi chỉ niệm chú Di Đà. Cái cảm giác rợn sống lưng và nổi gai ốc lại đến với tôi một lần nữa khi đứng trước hai ngôi mộ và niệm Phật.

Có phải tôi đă thành tâm cầu nguyện cho những thuyền nhân xấu số sớm được siêu thoát hay không?

Những lần đến chùa niệm Phật cầu xin b́nh yên cho chính ḿnh và gia đ́nh, tôi chưa lần nào có cảm giác như thế cả.

Anh Lưu Dân cho biết ngoài hai ngôi mộ này, c̣n một số ngôi mộ vô danh khác nằm bên kia núi. Do chưa có đường đi bằng xe ôm bên này núi nên mỗi lần đến đây, các anh chỉ gởi tiền và nhang đèn cho người địa phương, nhờ họ lên đó thắp nhang và dọn cỏ.

Những ngôi mộ này được một mục sư chôn cất vào khoảng năm 1978-1979. Ngọn núi này thuộc quyền sở hữu của ông. Ông đă qua đời và để lại di chúc hiến ngọn núi này làm bệnh viện nhưng giữ lại đỉnh núi. Mộ của ông được xây cạnh hai ngôi mộ vô danh.

Như thế, những ngôi mộ thuyền nhân vô danh này, sẽ măi măi nằm lại cạnh ông mục sư tốt bụng.

Buổi tiệc chiêu đăi của chính quyền địa phương

Trước khi rời đảo Terampah để đến Batam, chúng tôi đă được chính quyền địa phương mời tham dự một buổi tiệc khá long trọng, với sự có mặt của hầu hết chức sắc đại diện quần đảo Anambas.

Mục đích chính của buổi tiệc là nhằm thắt chặt hơn mối quan hệ giữa Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) và chính quyền tại đây. Họ muốn VKTNVN giúp phát triển ngành du lịch tại quần đảo Anambas, khi cam kết bảo vệ những ḥn đảo, nơi thuyền nhân Việt Nam đă từng cư ngụ, và những nghĩa trang trên các đảo này, đồng thời sẽ công nhận đây là những di sản thuyền nhân cần được bảo tồn.

Nhân dịp này, anh Trần Đông, giám đốc VKTNVN, đă trao tặng chính quyền địa phương một Bảng Tri Ân về sự giúp đỡ, cưu mang những thuyền nhân Việt Nam khi đến đây tị nạn.

Buổi tiệc kết thúc bằng một chương tŕnh ca nhạc mang đậm nét dân tộc Indonesia .

Câu chuyện nửa ṿng trái đất

Trở lại câu chuyện những thuyền viên trên tàu đánh cá BĐ 95605TS. Tôi đă gặp một trong những thuyền viên này, anh Đinh Văn Phú, xin tạm gọi là “thuyền nhân năm 2010,” coi như đang bị giam giữ tại đảo Terampah, v́ tàu đánh cá của anh đi lạc vào đảo mấy tháng nay.

Theo anh Phú kể, anh sinh năm 1979 tại Quảng Nham, Thanh Hóa, vào B́nh Định đi đánh cá trên tàu. Toàn bộ thủy thủ đoàn 9 người, trong đó có một tài công, đi ra biển ngày 19 tháng chạp âm lịch năm 2009. Chuyến đi này kéo dài và phải ăn Tết trên tàu. Mới đầu đánh cá tại hải phận Việt Nam nhưng không thu hoạch nhiều cá, cho nên họ phải di chuyển xuống vùng biễn của Indonesia đánh cá đến ngày 24 tháng 2, dự định trở về.

Nhưng đến 2 giờ chiều cùng ngày th́ tàu bị hải quân Indonesia bắt được. Họ cập vào mạn tàu và lên tàu xét giấy tờ và phạt vi phạm lănh hải Indonesia 7 hải lư. Trong lúc đó, anh em cũng biết là ḿnh vi phạm lănh hải cho nên chấp hành lệnh của hải quân. Họ cho tài công và một người chạy chiếc tàu vô đảo Terampah, c̣n 7 người kia phải lên tàu của họ.

Tất cả đều bị nhốt nhưng họ cho 2 người thuyền viên ra ngoài trong đó có Đinh Văn Phú và lên tàu để nấu cơm cho mấy người kia ăn. Họ có điện thoại về chủ tàu và chủ tàu cho biết sẽ lo giấy tờ để mang tàu về, nhưng đến giờ chưa thấy ǵ cả. Nghe nói là người tài công sẽ bị đưa ra ṭa.

Cuộc sống trong trại giam cũng được đối xử đàng hoàng không bị đánh đập. Người dân có công việc như bốc vác hay phụ xây dựng nếu cần nhân công th́ quản giáo cũng cho các anh em ra làm việc mỗi ngày được trả công 40,000 ringit (khoảng $5).

Anh Phú có vợ hiện đang ở Mỹ Tho, phụ bán bánh ướt ở chợ, mỗi tháng kiếm được 900,000 đồng. Vợ anh đang bị u nang buồng trứng đă mổ 2 lần, sức khỏe rất yếu.

Ngoài việc phụ hồ, bốc vác anh Phú c̣n làm thêm viêc đóng các thùng nước mang đến từng nhà để kiếm thêm tiền. Nguyện vọng của anh Phú là mong đại sứ quán Việt NamJakarta sớm liên lạc với chính quyền địa phương để giải quyết vụ việc và để cho các thuyền viên sớm về lại quê hương.

Sau khi tôi gọi điện thoại về ṭa soạn nhật báo Việt Herald, phóng viên Lưu Sơn đă lập tức gọi ngay về Mỹ Tho để hỏi thăm chị Hằng, chị của anh Phú.

Khi nói chuyện, chị Hằng vô cùng ngạc nhiên, không biết tại sao phóng viên Lưu Sơn có số điện thoại của chị. Chị vừa khóc vừa nói: “Tôi có nhận được một cái thư của Phú gởi về Việt Nam lâu lắm rồi. Từ đó đến bây giờ mất liên lạc không biết em trai tôi sống chết ra sao.”

Thế là phóng viên Lưu Sơn nhờ chị Hằng liên lạc với vợ của anh Phú dùm, chị hẹn 20 phút sau sẽ có mặt vợ của anh Phú, cũng tên Hằng.

Sau đó, khoảng 11 giờ tối tại California, phóng viên Lưu Sơn lại gọi về và lần này may mắn gặp vợ của anh Phú. Qua điện thoại, chị hỏi thăm sức khỏe của anh Phú và nhờ ṭa soạn giúp đỡ cho chồng của chị.

Chị cũng nhờ tôi, qua phóng viên Lưu Sơn, nói anh Phú cứ yên tâm giữ ǵn sức khỏe, phần chị vẫn lo đi làm và cố gắng kiếm thêm tiền để điều trị bịnh u nang buồng trứng.

Theo lời phóng viên Lưu Sơn cho biết, chị nghẹn ngào đứt quăng trong từng lời nói: “Hai vợ chồng tôi từ Thanh Hóa vào miền Nam để làm ăn kiếm miếng sống. Anh Phú phải theo tàu biển bán thân cho sóng nước, tôi đi làm phụ tiệm bán bánh ướt không đủ tiền để chữa trị cái bệnh u nang, bây giờ biết anh c̣n sống là tôi mừng như chết đi sống lại. Cầu trời khấn phật cho chồng tôi sớm được thả về. Tôi xin cảm ơn mấy ông nhà báo đă cho biết tin tức về chồng tôi. Xin cảm ơn các ông rất nhiều, tôi nghèo quá không biết lấy ǵ đền đáp lại ơn nghĩa này.”

Trước khi chia tay, một số anh chị em trong đoàn Về Bến Tự Do 8 đă gom được một ít tiền đưa anh Phú để anh mua thêm thức ăn cho những anh em khác trong trại giam.

Đêm qua tôi về nhà không ngủ được, cứ miên man nghĩ về đôi vợ chồng trẻ này. Sao mà nhiều cảnh đời oan nghiệt quá, chỉ v́ muốn kiếm thêm tiền để lo chữa bệnh cho người vợ trẻ mà người chồng phải làm bạn ghe hầu kiếm thêm chút tiền.

Chỉ nghĩ đến cái Tết năm vừa qua vào ngày giao thừa có hàng vạn gia đ́nh quây quần bên mâm cúng, chỉ riêng gia đ́nh chị Hằng và anh Phú phải chia tay nhau. Người vợ không biết người chồng ra sao, sống chết thế nào trên biển cả mênh mông. Người chồng th́ dơi mắt nh́n về quê hương qua hàng dây thép gai trong trại tạm giam trên xứ lạ quê người cách nhau một đại dương. (V.Đ.T. & L.S.)