Kỳ 8: Bến bờ của t́nh thương

(04/05/2010)
Bài và h́nh: Vũ Đ́nh Trọng/Việt Herald (tường tŕnh từ Indonesia)



TERAMPAH, Indonesia (VH): Sáng 4 tháng 4, trước khi từ giă đảo Letung, đoàn Về Bến Tự Do 8 chia làm hai nhóm, đi hai nơi với hai mục đích khác nhau.

Nhóm thứ nhất lên đồi thăm mộ thuyền nhân. Mười một ngôi mộ, trong đó có hai mộ không tên nh́n xuống biển như vẫn mong chờ nước thứ ba đón nhận. Anh Lưu Dân, phó đoàn, cho biết đa số những người này chết vào tháng 5, 1978. Theo lời dân địa phương, hôm đó có một số người từ trại Kuku ghé qua Letung mua đồ, gặp hôm biển động nên ghe bị ch́m giữa biển. Một số xác trôi vào bờ và được bác sĩ Đức, lúc đó đang ở trên đảo Letung, hô hấp nhân tạo, nhưng vẫn không thể cứu được họ.

Vài ngày sau, một vài xác nữa mới trôi vào, v́ vậy, trên những tấm bia mộ ghi ngày tháng chết khác nhau. Theo phong tục, người Indonesia ghi ngày chết là ngày t́m được xác.

Tôi chọn theo nhóm thứ hai, cùng ông bà Duật ra cầu tàu Letung t́m ngôi nhà trước kia cho gia đ́nh ông bà trú ngụ nơi hàng hiên.

Đến chiều, gặp cô Ngọc Lan (nhật báo Người Việt) mới biết trên đồi có mộ người em anh Lê Giang Trần. Tôi sững sờ và hối tiếc v́ không lên đó thắp một nén nhang cho em một người bạn. Đáng lẽ tôi có thể kể cho anh ấy nghe chuyện anh chị Trần, chuyện gia đ́nh anh giờ này ra sao.

Đáng lẽ tôi có thể chia sẻ với anh nhiều điều như một người thân.

Một cuộc t́m kiếm ân nhân

Nhóm chúng tôi đi bộ dọc con đường chính dẫn ra cầu tàu. Cũng may là trong nhóm có anh Vinh, người Việt gốc Hoa, nên mọi chuyện rất thuận tiện. Anh nhờ một ông già địa phương người Indonesia gốc Hoa tên Paijo thông dịch giùm lời chủ nhà qua tiếng Hoa, anh sẽ thuật lại cho ông bà Duật, đồng thời anh làm công việc ngược lại.

Căn nhà gỗ cũ kỹ nằm sát cạnh cầu tàu Letung. Trong nhà bày biện đơn giản và chẳng có ǵ đáng giá, chứng tỏ cuộc sống chủ nhà không mấy dễ chịu. Tiếp đón chúng tôi là một phụ nữ khoảng 40 tuổi, tên Zainur Rasyid. Cô cho biết căn nhà này là của cha cô, ông đă mất nhiều năm trước, và cô ở đây từ nhỏ. Cô cũng cho biết hồi đó cha cô cũng cho nhiều người ở lắm. Cô cho chúng tôi xem một số h́nh chụp những thuyền nhân đă ở nhà cô trong những năm 1978-1980.

Sau khi được xem h́nh cha cô Rasyid và nh́n hàng hiên xưa, ông Duật xác nhận đúng là ngôi nhà ḿnh đă được tá túc. Hai ông bà nghẹn ngào ôm lấy cô Rasyid.

Khi từ giă cô Rasyid, tôi thấy bà Duật dúi vào tay cô một số tiền thay lời cảm tạ. Sự cách biệt về ngôn ngữ khiến cô không thể nói ǵ nhiều.

Nh́n vẻ mặt đôi vợ chồng già trở về thăm chốn xưa, tôi thấy được sự măn nguyện nơi họ. Ước mơ quay quắt hơn 30 năm giờ đă được thực hiện. Tiền bạc chỉ là phương tiện để ông bà tỏ chút ḷng thành, chứ nợ ân t́nh nặng ḷng lắm, lấy ǵ mà trả hết được.

“Terima kasi”

Rời Letung về Terampah, với những cái vẫy tay chào của những người không quen, tôi cảm thấy buồn, như phải rời xa nơi chốn thân quen. Chỉ hai ngày ở đảo, tính hiền ḥa chân thật của người địa phương đă để lại trong ḷng không riêng ǵ tôi, một t́nh cảm đậm đà, nhất là gia đ́nh chủ nhà nghỉ Citra Balkis.

Họ đối xử với đoàn chúng tôi như người thân, không khách sáo và lúc nào gặp cũng nở nụ cười trên môi. Khi th́ sửa giùm chiếc dép dứt quai, khi th́ giặt quần áo, khi th́ chuẩn bị mâm dưa hấu cho chúng tôi mát dạ, khi th́ bịch bánh tự làmà Họ chia sẻ và giúp đỡ với tất cả những ǵ họ có.

Ra về, chúng tôi chỉ biết siết chặt tay từng người và nói “Terima kasi! Terima kasi!” (Cảm ơn).

Tàu chúng tôi rời xa bến Letung, nhưng ở đó vẫn c̣n những cánh tay vẫn chàoà

Keramut, bến bờ của t́nh thương

Trên đường về Terampah, chúng tôi ghé thăm ḥn đảo nhỏ Keramut. Đảo này nằm ở cực Bắc Indonesia nên được xem là điểm gần Việt Nam nhất. Hơn 30 năm trước, ḥn đảo nhỏ này cũng tràn ngập thuyền nhân tị nạn Việt Nam. Họ phải ở tạm tại đây trước khi lập hồ sơ tới trại Kuku.

Trên đảo có hai ngôi mộ thuyền nhân không tên tuổi. Người dân cho biết họ vớt được vào khoảng năm 1978. Một gia đ́nh ở gần hai nấm mộ được phân công chăm sóc, và họ đă làm công việc không công này suốt hơn 30 năm qua.

Năm ngoái, VKTNVN mới biết và tổ chức thăm viếng lần đầu. Nhân dịp đó, anh em trong đoàn cũng gởi đến gia đ́nh chăm sóc hai ngôi mộ một số tiền cảm tạ.

Anh Lưu Dân cho biết, qua lời dân địa phương, trên núi c̣n khoảng 7 ngôi một nữa. Qua khảo sát, các anh chưa thể đến nơi để xác nhận v́ dốc núi cheo leo. Anh Trần Đông cho rằng có thể họ lên bằng một con đường khác, đằng sau vách núi này.

Đón tiếp chúng tôi là những người với cái gật đầu chào hiền lành. Trẻ con th́ xem đây là một “chuyện lớn” nên chạy theo chúng tôi chỉ đường tới mộ.

Chúng tôi đi ngang một nhà máy bỏ hoang nhỏ, nay được dùng làm nơi phơi quần áo, trong đó có một máy tàu “Yanmar 3 block” cũ kỹ, hư hỏng. Người địa phương cho biết, chiếc máy này được tháo từ một chiếc tàu vượt biên, họ dùng nó làm máy sản xuất nước đá cho người dân trên đảo, nhưng nó đă hư từ lâu rồi v́ không có đồ thay thế.

Vượt qua một băi biển nhỏ dơ bẩn, chúng tôi đến được nơi chôn cất hai thuyền nhân xấu số. Hai nấm mộ nằm khuất sau một lùm cây, mỗi nấm mộ gồm hai cục đá đặt ở hai đầu. Có lẽ, nếu không được biết trước, chẳng ai có thể h́nh dung đó là một ngôi mộ cả.

Khi tôi quay trở ra th́ thấy một đám trẻ em bu quanh các anh chị trong đoàn. Đến nơi tôi được biết vợ chồng anh chị Chính (Úc) đă chuẩn bị cho chuyến đi này một ít quần áo trẻ em cũ. Gọi là cũ v́ đă mặc qua, nhưng vẫn c̣n khá mới. Các anh chị đang lựa áo, vừa với em nào th́ cho em đó.

Cũng trong chuyến đi này, các chị đă chuẩn bị sẵn một số kẹo bánh, và sau phần phát áo quần, phần phát kẹo bánh cũng chộn rộn không kém.

Nh́n những gương mặt sáng rỡ khi nhận được quà của các em, ai cũng thấy thương.

Để giúp đỡ gia đ́nh đă lo mộ phần cho hai thuyền nhân từ bao năm nay, và giúp trẻ em nghèo trên đảo có thêm chút quà, anh chị em trong đoàn đă tự quyên góp tại chỗ được 1,220,000 rupi (khoảng $120). Ông Duật đại diện đoàn, trao số tiền này cho xă trưởng tại đây, và bày tỏ ḷng biết ơn đối với t́nh cảm của người dân nơi đây dành cho những người đă khuất.

Cơn mưa khá lớn bất chợt ập đến. Chúng tôi được mời vào một căn nhà nhỏ nhưng ấm cúng. Trong nhà bày biện khá tươm tất, chứng tỏ chủ nhà là người ăn nên làm ra. Ông chủ nhà tỏ ra hào phóng khi đăi chúng tôi một ấm trà lớn, một b́nh cà phê đủ cho mỗi người uống hai ly, và một thùng bánh donut. Chúng tôi xin gởi tiền nhưng ông nhất quyết không nhận.

Ngồi bệt xuống sàn trong căn nhà nhỏ ấm cùng này, chúng tôi cùng tṛ chuyện rôm rả. Tôi chợt liên tưởng đến những người vượt biển ngồi chật cứng trong khoang tàu. Cũng diện tích chật chội như thế, chỉ khác là nơi đây đầy ắp tiếng nói cười.

Căn nhà như một con thuyền nhỏ, chúng tôi như những thuyền nhân vượt biển, và đă đến được một bến bờ của t́nh thương. (V.Đ.T.)