Bài và h́nh: Vũ Đ́nh
Trọng/Việt Herald (tường
tŕnh từ
Indonesia)
TERAMPAH, Indonesia (VH):
Sáng 4 tháng 4, trước khi từ
giă đảo Letung, đoàn Về Bến
Tự Do 8 chia làm hai nhóm,
đi hai nơi với hai mục đích
khác nhau.
Nhóm
thứ nhất lên đồi thăm mộ
thuyền nhân. Mười một ngôi
mộ, trong đó có hai mộ không
tên nh́n xuống biển như vẫn
mong chờ nước thứ ba đón
nhận. Anh Lưu Dân, phó đoàn,
cho biết đa số những người
này chết vào tháng 5, 1978.
Theo lời dân địa phương, hôm
đó có một số người từ trại
Kuku ghé qua Letung mua đồ,
gặp hôm biển động nên ghe bị
ch́m giữa biển. Một số xác
trôi vào bờ và được bác sĩ
Đức, lúc đó đang ở trên đảo
Letung, hô hấp nhân tạo,
nhưng vẫn không thể cứu được
họ.
Vài ngày sau, một vài xác
nữa mới trôi vào, v́ vậy,
trên những tấm bia mộ ghi
ngày tháng chết khác nhau.
Theo phong tục, người
Indonesia ghi
ngày chết là ngày t́m được
xác.
Tôi
chọn theo nhóm thứ hai, cùng
ông bà Duật ra cầu tàu
Letung t́m ngôi nhà trước
kia cho gia đ́nh ông bà trú
ngụ nơi hàng hiên.
Đến chiều, gặp cô Ngọc
Lan (nhật báo Người Việt)
mới biết trên đồi có mộ
người em anh Lê Giang Trần.
Tôi sững sờ và hối tiếc v́
không lên đó thắp một nén
nhang cho em một người bạn.
Đáng lẽ tôi có thể kể cho
anh ấy nghe chuyện anh chị
Trần, chuyện gia đ́nh anh
giờ này ra sao.
Đáng lẽ tôi có thể chia
sẻ với anh nhiều điều như
một người thân.
Một cuộc t́m kiếm ân
nhân
Nhóm
chúng tôi đi bộ dọc con
đường chính dẫn ra cầu tàu.
Cũng may là trong nhóm có
anh Vinh, người Việt gốc
Hoa, nên mọi chuyện rất
thuận tiện. Anh nhờ một ông
già địa phương người
Indonesia gốc Hoa tên Paijo
thông dịch giùm lời chủ nhà
qua tiếng Hoa, anh sẽ thuật
lại cho ông bà Duật, đồng
thời anh làm công việc ngược
lại.
Căn nhà gỗ cũ kỹ nằm sát
cạnh cầu tàu Letung. Trong
nhà bày biện đơn giản và
chẳng có ǵ đáng giá, chứng
tỏ cuộc sống chủ nhà không
mấy dễ chịu. Tiếp đón chúng
tôi là một phụ nữ khoảng 40
tuổi, tên Zainur Rasyid. Cô
cho biết căn nhà này là của
cha cô, ông đă mất nhiều năm
trước, và cô ở đây từ nhỏ.
Cô cũng cho biết hồi đó cha
cô cũng cho nhiều người ở
lắm. Cô cho chúng tôi xem
một số h́nh chụp những
thuyền nhân đă ở nhà cô
trong những năm 1978-1980.
Sau khi được xem h́nh cha
cô Rasyid và nh́n hàng hiên
xưa, ông Duật xác nhận đúng
là ngôi nhà ḿnh đă được tá
túc. Hai ông bà nghẹn ngào
ôm lấy cô Rasyid.
Khi từ giă cô Rasyid, tôi
thấy bà Duật dúi vào tay cô
một số tiền thay lời cảm tạ.
Sự cách biệt về ngôn ngữ
khiến cô không thể nói ǵ
nhiều.
Nh́n vẻ mặt đôi vợ chồng
già trở về thăm chốn xưa,
tôi thấy được sự măn nguyện
nơi họ. Ước mơ quay quắt hơn
30 năm giờ đă được thực
hiện. Tiền bạc chỉ là phương
tiện để ông bà tỏ chút ḷng
thành, chứ nợ ân t́nh nặng
ḷng lắm, lấy ǵ mà trả hết
được.
“Terima kasi”
Rời
Letung về Terampah, với
những cái vẫy tay chào của
những người không quen, tôi
cảm thấy buồn, như phải rời
xa nơi chốn thân quen. Chỉ
hai ngày ở đảo, tính hiền
ḥa chân thật của người địa
phương đă để lại trong ḷng
không riêng ǵ tôi, một t́nh
cảm đậm đà, nhất là gia đ́nh
chủ nhà nghỉ Citra Balkis.
Họ đối xử với đoàn chúng
tôi như người thân, không
khách sáo và lúc nào gặp
cũng nở nụ cười trên môi.
Khi th́ sửa giùm chiếc dép
dứt quai, khi th́ giặt quần
áo, khi th́ chuẩn bị mâm dưa
hấu cho chúng tôi mát dạ,
khi th́ bịch bánh tự làmà Họ
chia sẻ và giúp đỡ với tất
cả những ǵ họ có.
Ra về, chúng tôi chỉ biết
siết chặt tay từng người và
nói “Terima kasi! Terima
kasi!” (Cảm ơn).
Tàu chúng tôi rời xa bến
Letung, nhưng ở đó vẫn c̣n
những cánh tay vẫn chàoà
Keramut, bến bờ của
t́nh thương
Trên
đường về Terampah, chúng tôi
ghé thăm ḥn đảo nhỏ
Keramut. Đảo này nằm ở cực
Bắc Indonesia nên được xem
là điểm gần Việt Nam nhất.
Hơn 30 năm trước, ḥn đảo
nhỏ này cũng tràn ngập
thuyền nhân tị nạn Việt Nam.
Họ phải ở tạm tại đây trước
khi lập hồ sơ tới trại Kuku.
Trên đảo có hai ngôi mộ
thuyền nhân không tên tuổi.
Người dân cho biết họ vớt
được vào khoảng năm 1978.
Một gia đ́nh ở gần hai nấm
mộ được phân công chăm sóc,
và họ đă làm công việc không
công này suốt hơn 30 năm
qua.
Năm ngoái, VKTNVN mới
biết và tổ chức thăm viếng
lần đầu. Nhân dịp đó, anh em
trong đoàn cũng gởi đến gia
đ́nh chăm sóc hai ngôi mộ
một số tiền cảm tạ.
Anh Lưu Dân cho biết, qua
lời dân địa phương, trên núi
c̣n khoảng 7 ngôi một nữa.
Qua khảo sát, các anh chưa
thể đến nơi để xác nhận v́
dốc núi cheo leo. Anh Trần
Đông cho rằng có thể họ lên
bằng một con đường khác,
đằng sau vách núi này.
Đón tiếp chúng tôi là
những người với cái gật đầu
chào hiền lành. Trẻ con th́
xem đây là một “chuyện lớn”
nên chạy theo chúng tôi chỉ
đường tới mộ.
Chúng tôi đi ngang một
nhà máy bỏ hoang nhỏ, nay
được dùng làm nơi phơi quần
áo, trong đó có một máy tàu
“Yanmar 3 block” cũ kỹ, hư
hỏng. Người địa phương cho
biết, chiếc máy này được
tháo từ một chiếc tàu vượt
biên, họ dùng nó làm máy sản
xuất nước đá cho người dân
trên đảo, nhưng nó đă hư từ
lâu rồi v́ không có đồ thay
thế.
Vượt qua một băi biển nhỏ
dơ bẩn, chúng tôi đến được
nơi chôn cất hai thuyền nhân
xấu số. Hai nấm mộ nằm khuất
sau một lùm cây, mỗi nấm mộ
gồm hai cục đá đặt ở hai
đầu. Có lẽ, nếu không được
biết trước, chẳng ai có thể
h́nh dung đó là một ngôi mộ
cả.
Khi tôi quay trở ra th́
thấy một đám trẻ em bu quanh
các anh chị trong đoàn. Đến
nơi tôi được biết vợ chồng
anh chị Chính (Úc) đă chuẩn
bị cho chuyến đi này một ít
quần áo trẻ em cũ. Gọi là cũ
v́ đă mặc qua, nhưng vẫn c̣n
khá mới. Các anh chị đang
lựa áo, vừa với em nào th́
cho em đó.
Cũng trong chuyến đi này,
các chị đă chuẩn bị sẵn một
số kẹo bánh, và sau phần
phát áo quần, phần phát kẹo
bánh cũng chộn rộn không
kém.
Nh́n những gương mặt sáng
rỡ khi nhận được quà của các
em, ai cũng thấy thương.
Để
giúp đỡ gia đ́nh đă lo mộ
phần cho hai thuyền nhân từ
bao năm nay, và giúp trẻ em
nghèo trên đảo có thêm chút
quà, anh chị em trong đoàn
đă tự quyên góp tại chỗ được
1,220,000 rupi (khoảng
$120). Ông Duật đại diện
đoàn, trao số tiền này cho
xă trưởng tại đây, và bày tỏ
ḷng biết ơn đối với t́nh
cảm của người dân nơi đây
dành cho những người đă
khuất.
Cơn mưa khá lớn bất chợt
ập đến. Chúng tôi được mời
vào một căn nhà nhỏ nhưng ấm
cúng. Trong nhà bày biện khá
tươm tất, chứng tỏ chủ nhà
là người ăn nên làm ra. Ông
chủ nhà tỏ ra hào phóng khi
đăi chúng tôi một ấm trà
lớn, một b́nh cà phê đủ cho
mỗi người uống hai ly, và
một thùng bánh donut. Chúng
tôi xin gởi tiền nhưng ông
nhất quyết không nhận.
Ngồi bệt xuống sàn trong
căn nhà nhỏ ấm cùng này,
chúng tôi cùng tṛ chuyện
rôm rả. Tôi chợt liên tưởng
đến những người vượt biển
ngồi chật cứng trong khoang
tàu. Cũng diện tích chật
chội như thế, chỉ khác là
nơi đây đầy ắp tiếng nói
cười.
Căn
nhà như một con thuyền nhỏ,
chúng tôi như những thuyền
nhân vượt biển, và đă đến
được một bến bờ của t́nh
thương. (V.Đ.T.)