Kỳ 7: Nguyện cầu cho các linh hồn trên Thái B́nh Dương

(04/04/2010)
Bài và h́nh: Vũ Đ́nh Trọng/Việt Herald (tường tŕnh từ Indonesia)



Air Raya là một băi biển thuộc đảo Jemaja. Đây là một trong những nơi ở Indonesia đón tiếp ḍng người tị nạn Việt Nam trong hai năm 1976-1977. Trong một thời gian khá dài, thuyền nhân tại trại Air Raya sống được nhờ sự trợ giúp của chính quyền và dân chúng từ đảo Letung. Khoảng đầu năm 1978, Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc mới biết sự hiện diện của thuyền nhân Việt Nam trên đảo và thiết lập văn pḥng đại diện ở trại Air Raya. Cơ quan này cũng gom những thuyền nhân từ những đảo khác như Letung, Berhala về đây.

Trại Air Raya chỉ tồn tại khoảng 3 năm, và trong thời gian cao điểm chứa tới 30,000 người. Sau khi Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thiết lập văn pḥng đại diện thường trực tại trại Kuku, toàn bộ thuyền nhân được đưa về đó để làm hồ sơ sơ khởi trước khi được chuyển đến Galang.

Theo một số tài liệu thu thập được của Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN), trại Air Raya có khoảng 2,000 người chết. Ông Nola, người Indonesia, từng làm việc cho Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc suốt 20 năm cho biết chính tay ông đă chôn cất hàng trăm người.

Ông Trần Đông, giám đốc VKTNVN, cho biết, trước chyến đi Về Bến Tự Do 8, VKTNVN đă liên lạc và thuê mướn một số nhân công t́m mộ thuyền nhân. Họ đă phát hiện được hai khu vực với khoảng 20 ngôi mộ được xác định là của thuyền nhân Việt Nam. Công tác t́m kiếm này vẫn đang được tiếp tục.

AIR RAYA, Indonesia (VH): Sáng 3 tháng 4, đoàn Về Bến Tự Do 8 rời bến Letung đi thăm trại Air Raya.

Chuyến đi này được ban tổ chức chuẩn bị khá kỹ lưỡng để thiết lập một mâm cúng tươm tất cho thuyền nhân xấu số đă nằm xuống tại đây và các đảo lân cận.

Do thủy triều xuống nên tàu phải neo đậu khá xa. Chúng tôi được đưa vào bờ bằng những chiếc ghe “taxi” y như những chuyến vượt biển. Một số thành viên đă từng sống trên đảo tỏ vẻ xúc động ngay những bước đầu tiên đặt chân xuống băi cát vàng óng này. Tôi đă nh́n thấy những giọt nước mắt đặc quánh trên mắt họ. Họ nh́n bờ, nh́n biển, nh́n trời trong khi hai bàn tay nắm chặt đè nén cảm xúc.

“Không c̣n ǵ nữa!” Tôi chợt nghe tiếng nói đâu đó như một tiếng thở dài.

Cầu nguyện nơi cửa ngơ tự do

Trong khi chúng tôi vào bờ th́ hai người dân địa phương cũng chuẩn bị đăi chúng tôi một chầu nước dừa tươi mát. Họ leo tuốt trên ngọn dừa một cách nhanh chóng, gọn gàng, và chỉ một vài nhát dao, những trái dừa vừa chín tới thi nhau rơi xuống.

Cầm trái dừa lớn bằng hai tay đă được đục một lỗ nhỏ, đưa lên miệng tu một hơi dài giữa một băi biển đầy gió và tiếng xào xạt của lá, tôi cảm nhận được hương vị ngọt ngào, mát rượi. Có một cái ǵ đó rất quen thuộc khi lần đầu đến đây, và h́nh nhưà hơn cả sự quen thuộc.

Mâm cúng hướng ra biển được bày biện trang trọng, đầy đủ. Chúng tôi cầm nhang đứng chung quanh, dâng lên những linh hồn thuyền nhân đă chết trên biển Đông, chết trên những ḥn đảo quê người, lời kinh mong cho họ sớm siêu thoát.

Ba kinh Lạy Cha được đọc trong sóng biển ŕ rào. Lời kinh như được gió biển mang theo rải xuống khắp biển Đông và núi đồi, nơi biết bao thuyền nhân ra đi.

Trong giây phút thiêng liêng như muốn giao tiếp với người đă khuất, mong họ tiếp nhận thành tâm của chúng tôi. Tôi cảm thấy nổi da gà khi niệm chú A Di Đà. Cái cảm giác lạ lùng lần đầu tiên tôi nhận được, mặc dù trước đây tôi đă niệm biết bao lần khi đến chùa.

Có lẽ, trong giây phút đó, tôi có một niềm tin mănh liệt về tôn giáo của ḿnh. Có lẽ, trong giây phút đó, tôi thành tâm hơn bao giờ hết để gởi tới đồng bào xấu số một con đường siêu sanh tịnh độ của Đức Phật A Di Đà.

Men theo con đường ṃn và qua một con suối nhỏ, chúng tôi lên thăm khu mộ thuyền nhân vừa t́m được. Con suối này trước đây nước trong vắt và được thuyền nhân dùng vừa để nấu cơm và tắm giặt, nhưng nay đă gần cạn.

Khoảng 20 ngôi mộ được người địa phương t́m thấy nằm trong một cánh rừng âm u. Tuy nhiên, khu đất cũng được phát quang gọn gàng. Những ngôi mộ có tên và những ngôi mộ không tên nằm cạnh nhau trên phủ đầy lá vàng. Hầu hết đất trên mộ đều bị sụp xuống khá sâu, mà nếu không được tu bổ, vài năm sau chắc chắn những ngôi mộ này sẽ biến mất.

Chúng tôi đốt một ít vàng mă và thắp nhang cho từng ngôi mộ. Một số người đă từng ở Air Raya thẫn thờ đi t́m từng vết tích. Cũng trên đảo này, hơn 30 năm trước, thuyền nhân phải tự ḿnh vào rừng chặt cây về làm nhà.

Bà Hương, người mà tôi đề cập ở bài trước, kể: “Khi chúng tôi từ đảo Letung qua đây, chồng tôi phải tự làm lấy chỗ che mưa nắng cho gia đ́nh. Ông mượn ŕu đi chặt cây về làm cột, dựng mái. Thân dừa th́ cưa ra làm giường, lá dừa dùng lợp mái. Nhà nào cũng thế cả, không có vách. Ở đây đỡ hơn ở Letung. Chúng tôi được ăn cơm với cá ngừ, chứ không phải húp cháo.”

Một thời gian sau, bà nhận được $100 từ sự trợ giúp của một vị linh mục. Số tiền này đối với bà lớn lắm, thế nhưng, bà cũng chia lại cho người bạn cùng hoàn cảnh $50 để mua thuốc chữa bệnh. Số tiền c̣n lại mua rau muống.

Bà kể: “Gia đ́nh ăn lá rau muống thôi, c̣n tất cả những cọng rau tôi giữ lại trồng, để sau này có cái mà ăn chứ tiền đâu mà mua hoài. Được Cao Ủy phát đậu xanh, tôi làm giá sống. Một thời gian sau, rau muống mọc lên, gia đ́nh tôi có thêm một món ăn, sáng rau muống luộc, chiều rau muống xào.”

Bà Hương đă không t́m ra được mái nhà khi xưa nơi gia đ́nh bà trú ngụ. Tất cả đă không c̣n ǵ ngoài ḍng suối. Bà đă không cầm được nước mắt khi nh́n những cây dừa nước, những lá dừa khi xưa đă che mưa, che nắng cho gia đ́nh.

Đến đây mới thấy, sức mạnh của thời gian trong cuộc bể dâu này.

Chung tay bảo vệ di tích thuyền nhân Việt Nam

Có mặt trong chuyến đi Air Raya c̣n có sự hiện diện của một số quan chức địa phương như ông tỉnh trưởng Jemaja, giám đốc công ty du lịch địa phương và cảnh sát trưởng. Đại diện chính quyền địa phương cho biết họ cam kết bảo vệ những ḥn đảo, nơi thuyền nhân Việt Nam đă từng cư ngụ, và những nghĩa trang trên các đảo này, đồng thời sẽ công nhận đây là những di sản thuyền nhân cần được bảo tồn. Họ cũng cho yêu cầu VKTNVN giúp ư kiến trong việc phát triển du lịch tại quần đảo Amabas, và qua VKTNVN, họ mở lời kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng người Việt hải ngoại.

Đáp lời, anh Trần Đông, giám đốc VKTNVN, cho biết, với trách nhiệm và quyền hạn của ḿnh, sẽ hỗ trợ và phổ biến nền du lịch địa phương trên trang nhà VKTNVN, đồng thời sẽ kêu gọi các cơ quan ruyền thông hải ngoại giúp đỡ.

Để chung tay bảo vệ di tích thuyền nhân Việt Nam tại Indonesia, anh Trần Đông cho biết sẽ khởi đầu từ cộng đồng người Việt bên Úc, nơi VKTNVN đặt trụ sở chính. Sẽ kêu gọi đồng hương đóng góp để giúp địa phương trùng tu những di tích này. Anh cũng mời gọi các cơ quan truyền thông tiếp tay phổ biến tin tức của công cuộc bảo vệ và trùng tu di tích này đến các cộng đồng người Việt ở khắp nơi trên thế giới, nhằm t́m sự hỗ trợ.

Được biết, vào ngày Chủ Nhật, 25 tháng 4 sắp tới, VKTNVN sẽ có một cuộc triển lăm tại Westminster Community Center, 8200 Westminster Blvd., Westminster, CA 92683.

Trong cuộc triển lăm này, VKTNVN sẽ tŕnh bày slideshow, video và thuyết tŕnh về hoạt động của hội trong suốt thời gian qua. Hàng trăm h́nh ảnh di tích và sinh hoạt trại tị nạn xưa và nay cùng một số di vật tị nạn sẽ được trưng bày lần đầu tiên.

Nét văn hóa độc đáo của địa phương

Trở về Letung, đoàn chúng tôi được chính quyền địa phương mời tham dự một lễ hội đặc biệt, mang đậm bản sắc dân tộc vào tối cùng ngày.

Nhằm tỏ ḷng biết ơn người dân Letung đă dung chứa thuyền nhân Việt Nam năm xưa, đồng thời tạo mối quan hệ cởi mở với người dân tại đây, đoàn Về Bến Tự Do 8 đă quyên góp ngay bữa cơm chiều một số tiền tương đương $400. Số tiền này được gởi tặng Trung Tâm Thanh Niên Letung để trang bị hai bộ lưới và banh bóng chuyền, cùng một số dụng cụ thể thao khác cho thanh niên trên đảo.

Chín giờ tối, đoàn chúng tôi đi bộ đến trung tâm ḥn đảo. Trên một dải đất khá rộng được chuẩn bị chu đáo để tổ chức lễ hội Sensus Penduduk. Đây là một lễ hội truyền thống của người Indonesia được gọi là Lễ Chiêu Hồn, giống như lễ Thanh Minh của người Hoa, hay lễ cúng cô hồn tại Việt Nam.

Người Indonesia tin rằng có ma quỷ, và mỗi năm vào tháng 4, họ tổ chức Lễ Chiêu Hồn vào đúng giữa đêm. Những bài hát, điệu múa được thể hiện mang màu sắc huyền bí, và không tiếp đón người ngoài vào dự.

Năm nay, đoàn chúng tôi có mặt vào đúng dịp này nên chính quyền địa phương đặc biệt mời tham gia và cho cử hành sớm hơn thường lệ.

Có hai tiết mục chính trong Lễ Chiêu Hồn.

Lễ Chiêu Hồn chính gồm 9 người đàn ông mặc đồ vest xanh dương, đầu đội nón cối trắng, mặt bịt khăn trắng kín mít, chỉ chừa một lỗ nhỏ ở mắt trái, tay phải cầm một đèn pin nhỏ. Trong tiếng nhạc âm u, họ múa chầm chậm như những bóng ma từ cơi âm hiện về. Trong khi múa, họ đi đến từng người bắt tay thân thiện như thực hiện một cuộc giao tiếp giữa hai thế giới.

Lễ thứ hai là Lễ Chiêu Đăi Thần Linh. Mười người mang mặt nạ của các vị thần linh Indonesia ra bắt tay quan khách và người tham dự. Cũng với điệu múa chẫm răi, họ thể hiện quyền lực thần linh sẽ mang lại ấm no cho dân làng. Họ mời người tham dự ra nhảy múa với họ, và một số thành viên đoàn chúng tôi cũng nhiệt t́nh tham gia tạo nên một không khí vui vẻ, hào hứng.

Chúng tôi được chia sẻ nhiều điều với người dân tại đây qua lễ hội này và trong cả lúc gặp mặt b́nh thường. Đời sống người dân tại các đảo chân chất, mộc mạc. Đời sống trên đảo tuy không nghèo khó, nhưng không thể nói là khá giả. Thế nhưng, có một thời, họ đă tận t́nh giúp đỡ thuyền nhân Việt Nam tị nạn.

Đến đây tôi mới nhận ra một điều, chẳng cần họ giúp tôi, tôi mới mang ơn, để trở về. Ơn nghĩa của họ lớn hơn nhiều cho một ư nghĩa b́nh thường. (V.Đ.T.)