Bài và h́nh: Vũ Đ́nh
Trọng/Việt Herald (tường
tŕnh từ
Indonesia)
Air Raya là một băi biển
thuộc đảo Jemaja. Đây là một
trong những nơi ở
Indonesia đón
tiếp ḍng người tị nạn Việt
Nam trong hai
năm 1976-1977. Trong một
thời gian khá dài, thuyền
nhân tại trại Air Raya sống
được nhờ sự trợ giúp của
chính quyền và dân chúng từ
đảo Letung. Khoảng đầu năm
1978, Cao Ủy Tị Nạn Liên
Hiệp Quốc mới biết sự hiện
diện của thuyền nhân Việt
Nam trên đảo và
thiết lập văn pḥng đại diện
ở trại Air Raya. Cơ quan này
cũng gom những thuyền nhân
từ những đảo khác như
Letung, Berhala về đây.
Trại Air Raya chỉ tồn tại
khoảng 3 năm, và trong thời
gian cao điểm chứa tới
30,000 người. Sau khi Cao Ủy
Tị Nạn Liên Hiệp Quốc thiết
lập văn pḥng đại diện
thường trực tại trại Kuku,
toàn bộ thuyền nhân được đưa
về đó để làm hồ sơ sơ khởi
trước khi được chuyển đến
Galang.
Theo một số tài liệu
thu thập được của Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam
(VKTNVN), trại Air Raya có
khoảng 2,000 người chết. Ông
Nola, người
Indonesia, từng
làm việc cho Cao Ủy Tị Nạn
Liên Hiệp Quốc suốt 20 năm
cho biết chính tay ông đă
chôn cất hàng trăm người.
Ông Trần Đông, giám
đốc VKTNVN, cho biết, trước
chyến đi Về Bến Tự Do 8,
VKTNVN đă liên lạc và thuê
mướn một số nhân công t́m mộ
thuyền nhân. Họ đă phát hiện
được hai khu vực với khoảng
20 ngôi mộ được xác định là
của thuyền nhân Việt
Nam.
Công tác t́m kiếm này vẫn
đang được tiếp tục.
AIR RAYA, Indonesia (VH):
Sáng 3 tháng 4, đoàn Về Bến
Tự Do 8 rời bến Letung đi
thăm trại Air Raya.
Chuyến
đi này được ban tổ chức
chuẩn bị khá kỹ lưỡng để
thiết lập một mâm cúng tươm
tất cho thuyền nhân xấu số
đă nằm xuống tại đây và các
đảo lân cận.
Do thủy triều xuống nên
tàu phải neo đậu khá xa.
Chúng tôi được đưa vào bờ
bằng những chiếc ghe “taxi”
y như những chuyến vượt
biển. Một số thành viên đă
từng sống trên đảo tỏ vẻ xúc
động ngay những bước đầu
tiên đặt chân xuống băi cát
vàng óng này. Tôi đă nh́n
thấy những giọt nước mắt đặc
quánh trên mắt họ. Họ nh́n
bờ, nh́n biển, nh́n trời
trong khi hai bàn tay nắm
chặt đè nén cảm xúc.
“Không c̣n ǵ nữa!” Tôi
chợt nghe tiếng nói đâu đó
như một tiếng thở dài.
Cầu nguyện nơi cửa ngơ
tự do
Trong khi chúng tôi vào
bờ th́ hai người dân địa
phương cũng chuẩn bị đăi
chúng tôi một chầu nước dừa
tươi mát. Họ leo tuốt trên
ngọn dừa một cách nhanh
chóng, gọn gàng, và chỉ một
vài nhát dao, những trái dừa
vừa chín tới thi nhau rơi
xuống.
Cầm trái dừa lớn bằng hai
tay đă được đục một lỗ nhỏ,
đưa lên miệng tu một hơi dài
giữa một băi biển đầy gió và
tiếng xào xạt của lá, tôi
cảm nhận được hương vị ngọt
ngào, mát rượi. Có một cái
ǵ đó rất quen thuộc khi lần
đầu đến đây, và h́nh nhưà
hơn cả sự quen thuộc.
Mâm cúng hướng ra biển
được bày biện trang trọng,
đầy đủ. Chúng tôi cầm nhang
đứng chung quanh, dâng lên
những linh hồn thuyền nhân
đă chết trên biển Đông, chết
trên những ḥn đảo quê
người, lời kinh mong cho họ
sớm siêu thoát.
Ba kinh Lạy Cha được đọc
trong sóng biển ŕ rào. Lời
kinh như được gió biển mang
theo rải xuống khắp biển
Đông và núi đồi, nơi biết
bao thuyền nhân ra đi.
Trong giây phút thiêng
liêng như muốn giao tiếp với
người đă khuất, mong họ tiếp
nhận thành tâm của chúng
tôi. Tôi cảm thấy nổi da gà
khi niệm chú A Di Đà. Cái
cảm giác lạ lùng lần đầu
tiên tôi nhận được, mặc dù
trước đây tôi đă niệm biết
bao lần khi đến chùa.
Có lẽ, trong giây phút
đó, tôi có một niềm tin mănh
liệt về tôn giáo của ḿnh.
Có lẽ, trong giây phút đó,
tôi thành tâm hơn bao giờ
hết để gởi tới đồng bào xấu
số một con đường siêu sanh
tịnh độ của Đức Phật A Di
Đà.
Men theo con đường ṃn và
qua một con suối nhỏ, chúng
tôi lên thăm khu mộ thuyền
nhân vừa t́m được. Con suối
này trước đây nước trong vắt
và được thuyền nhân dùng vừa
để nấu cơm và tắm giặt,
nhưng nay đă gần cạn.
Khoảng
20 ngôi mộ được người địa
phương t́m thấy nằm trong
một cánh rừng âm u. Tuy
nhiên, khu đất cũng được
phát quang gọn gàng. Những
ngôi mộ có tên và những ngôi
mộ không tên nằm cạnh nhau
trên phủ đầy lá vàng. Hầu
hết đất trên mộ đều bị sụp
xuống khá sâu, mà nếu không
được tu bổ, vài năm sau chắc
chắn những ngôi mộ này sẽ
biến mất.
Chúng tôi đốt một ít vàng
mă và thắp nhang cho từng
ngôi mộ. Một số người đă
từng ở Air Raya thẫn thờ đi
t́m từng vết tích. Cũng trên
đảo này, hơn 30 năm trước,
thuyền nhân phải tự ḿnh vào
rừng chặt cây về làm nhà.
Bà Hương, người mà tôi đề
cập ở bài trước, kể: “Khi
chúng tôi từ đảo Letung qua
đây, chồng tôi phải tự làm
lấy chỗ che mưa nắng cho gia
đ́nh. Ông mượn ŕu đi chặt
cây về làm cột, dựng mái.
Thân dừa th́ cưa ra làm
giường, lá dừa dùng lợp mái.
Nhà nào cũng thế cả, không
có vách. Ở đây đỡ hơn ở
Letung. Chúng tôi được ăn
cơm với cá ngừ, chứ không
phải húp cháo.”
Một thời gian sau, bà
nhận được $100 từ sự trợ
giúp của một vị linh mục. Số
tiền này đối với bà lớn lắm,
thế nhưng, bà cũng chia lại
cho người bạn cùng hoàn cảnh
$50 để mua thuốc chữa bệnh.
Số tiền c̣n lại mua rau
muống.
Bà kể: “Gia đ́nh ăn lá
rau muống thôi, c̣n tất cả
những cọng rau tôi giữ lại
trồng, để sau này có cái mà
ăn chứ tiền đâu mà mua hoài.
Được Cao Ủy phát đậu xanh,
tôi làm giá sống. Một thời
gian sau, rau muống mọc lên,
gia đ́nh tôi có thêm một món
ăn, sáng rau muống luộc,
chiều rau muống xào.”
Bà Hương đă không t́m ra
được mái nhà khi xưa nơi gia
đ́nh bà trú ngụ. Tất cả đă
không c̣n ǵ ngoài ḍng
suối. Bà đă không cầm được
nước mắt khi nh́n những cây
dừa nước, những lá dừa khi
xưa đă che mưa, che nắng cho
gia đ́nh.
Đến đây mới thấy, sức
mạnh của thời gian trong
cuộc bể dâu này.
Chung tay bảo vệ di
tích thuyền nhân Việt Nam
Có mặt trong chuyến đi
Air Raya c̣n có sự hiện diện
của một số quan chức địa
phương như ông tỉnh trưởng
Jemaja, giám đốc công ty du
lịch địa phương và cảnh sát
trưởng. Đại diện chính quyền
địa phương cho biết họ cam
kết bảo vệ những ḥn đảo,
nơi thuyền nhân Việt Nam đă
từng cư ngụ, và những nghĩa
trang trên các đảo này, đồng
thời sẽ công nhận đây là
những di sản thuyền nhân cần
được bảo tồn. Họ cũng cho
yêu cầu VKTNVN giúp ư kiến
trong việc phát triển du
lịch tại quần đảo Amabas, và
qua VKTNVN, họ mở lời kêu
gọi sự hỗ trợ của cộng đồng
người Việt hải ngoại.
Đáp lời, anh Trần Đông,
giám đốc VKTNVN, cho biết,
với trách nhiệm và quyền hạn
của ḿnh, sẽ hỗ trợ và phổ
biến nền du lịch địa phương
trên trang nhà VKTNVN, đồng
thời sẽ kêu gọi các cơ quan
ruyền thông hải ngoại giúp
đỡ.
Để chung tay bảo vệ di
tích thuyền nhân Việt Nam
tại Indonesia, anh Trần Đông
cho biết sẽ khởi đầu từ cộng
đồng người Việt bên Úc, nơi
VKTNVN đặt trụ sở chính. Sẽ
kêu gọi đồng hương đóng góp
để giúp địa phương trùng tu
những di tích này. Anh cũng
mời gọi các cơ quan truyền
thông tiếp tay phổ biến tin
tức của công cuộc bảo vệ và
trùng tu di tích này đến các
cộng đồng người Việt ở khắp
nơi trên thế giới, nhằm t́m
sự hỗ trợ.
Được biết, vào ngày Chủ
Nhật, 25 tháng 4 sắp tới,
VKTNVN sẽ có một cuộc triển
lăm tại Westminster
Community Center, 8200
Westminster Blvd.,
Westminster, CA 92683.
Trong cuộc triển lăm này,
VKTNVN sẽ tŕnh bày
slideshow, video và thuyết
tŕnh về hoạt động của hội
trong suốt thời gian qua.
Hàng trăm h́nh ảnh di tích
và sinh hoạt trại tị nạn xưa
và nay cùng một số di vật tị
nạn sẽ được trưng bày lần
đầu tiên.
Nét văn hóa độc đáo
của địa phương
Trở về Letung, đoàn chúng
tôi được chính quyền địa
phương mời tham dự một lễ
hội đặc biệt, mang đậm bản
sắc dân tộc vào tối cùng
ngày.
Nhằm tỏ ḷng biết ơn
người dân Letung đă dung
chứa thuyền nhân Việt Nam
năm xưa, đồng thời tạo mối
quan hệ cởi mở với người dân
tại đây, đoàn Về Bến Tự Do 8
đă quyên góp ngay bữa cơm
chiều một số tiền tương
đương $400. Số tiền này được
gởi tặng Trung Tâm Thanh
Niên Letung để trang bị hai
bộ lưới và banh bóng chuyền,
cùng một số dụng cụ thể thao
khác cho thanh niên trên
đảo.
Chín
giờ tối, đoàn chúng tôi đi
bộ đến trung tâm ḥn đảo.
Trên một dải đất khá rộng
được chuẩn bị chu đáo để tổ
chức lễ hội Sensus Penduduk.
Đây là một lễ hội truyền
thống của người
Indonesia được
gọi là Lễ Chiêu Hồn, giống
như lễ Thanh Minh của người
Hoa, hay lễ cúng cô hồn tại
Việt
Nam.
Người Indonesia tin rằng
có ma quỷ, và mỗi năm vào
tháng 4, họ tổ chức Lễ Chiêu
Hồn vào đúng giữa đêm. Những
bài hát, điệu múa được thể
hiện mang màu sắc huyền bí,
và không tiếp đón người
ngoài vào dự.
Năm nay, đoàn chúng tôi
có mặt vào đúng dịp này nên
chính quyền địa phương đặc
biệt mời tham gia và cho cử
hành sớm hơn thường lệ.
Có hai tiết mục chính
trong Lễ Chiêu Hồn.
Lễ Chiêu Hồn chính gồm 9
người đàn ông mặc đồ vest
xanh dương, đầu đội nón cối
trắng, mặt bịt khăn trắng
kín mít, chỉ chừa một lỗ nhỏ
ở mắt trái, tay phải cầm một
đèn pin nhỏ. Trong tiếng
nhạc âm u, họ múa chầm chậm
như những bóng ma từ cơi âm
hiện về. Trong khi múa, họ
đi đến từng người bắt tay
thân thiện như thực hiện một
cuộc giao tiếp giữa hai thế
giới.
Lễ
thứ hai là Lễ Chiêu Đăi Thần
Linh. Mười người mang mặt nạ
của các vị thần linh
Indonesia ra bắt tay quan
khách và người tham dự. Cũng
với điệu múa chẫm răi, họ
thể hiện quyền lực thần linh
sẽ mang lại ấm no cho dân
làng. Họ mời người tham dự
ra nhảy múa với họ, và một
số thành viên đoàn chúng tôi
cũng nhiệt t́nh tham gia tạo
nên một không khí vui vẻ,
hào hứng.
Chúng tôi được chia sẻ
nhiều điều với người dân tại
đây qua lễ hội này và trong
cả lúc gặp mặt b́nh thường.
Đời sống người dân tại các
đảo chân chất, mộc mạc. Đời
sống trên đảo tuy không
nghèo khó, nhưng không thể
nói là khá giả. Thế nhưng,
có một thời, họ đă tận t́nh
giúp đỡ thuyền nhân Việt
Nam tị nạn.
Đến đây tôi mới nhận ra
một điều, chẳng cần họ giúp
tôi, tôi mới mang ơn, để trở
về. Ơn nghĩa của họ lớn hơn
nhiều cho một ư nghĩa b́nh
thường. (V.Đ.T.)