Kỳ 6: Những nấm mồ vô chủ trên đảo Kuku

(04/03/2010)
Vũ Đ́nh Trọng/Việt Herald (tường tŕnh từ Indonesia) 

 

Sáng 2 tháng 4, đoàn chúng tôi rời bến xuống tàu qua đảo Letung, tàu chưa ghé bến chúng tôi đă nghe vang tiếng nhạc từ cầu tàu chính của thị trưởng, ông bà Adanamar (chúa đảo) cùng một số quan chức địa phương và đoàn nhạc đă đợi sẵn. Sau khi trao hai ṿng hoa chào mừng cho anh Trần Đông, giám đốc VKTNVN, và chị Hương, chúng tôi cùng nhau múa hát theo điệu nhạc dân tộc Indonesia để đáp lại thịnh t́nh của chúa đảo và dân địa phương.

Không như Terampah, Letung có một con đường chính bằng xi măng cốt thép, khoảng 80% các căn nhà nơi đây xây trên những cọc xi măng cốt thép hoặc cọc gỗ. Từ ngoài đường chính một cây cầu hầu hết bằng ván nối liền từng nhà có thể nói đây là một thành phố trên biển.

Cuộc sống ở đây rất thanh b́nh và cư dân hiếu khách. Vào những năm cuối thập niên 1970, ḥn đảo này đă cưu mang hằng chục ngàn thuyền nhân Việt Nam không có một sự trợ giúp của quốc tế, dù cuộc sống của họ khá thấp.

Sau màn chào đón và chụp h́nh lưu niệm với người dân trên đảo, chúng tôi xuống tàu đến đảo Kuku. Những người đă từng sống ở đảo trong những ngày đầu tị nạn có vẻ xúc động khi bước xuống băi biển sau 32 năm từ giă nơi này. Họ cố lục lọi trong kư ức những h́nh ảnh xưa, nhưng không thể t́m lại được, v́ cảnh vật thay đổi hầu như hoàn toàn. Chỉ c̣n lại băi trực thăng của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc là vẫn c̣n trơ gan cùng tuế nguyệt.

Lần theo con đường ṃn cỏ mọc um tùm, chúng tôi leo lên băi trực thăng lưng chừng núi. Không khí oi bức mùa hè cộng thêm phải leo núi khiến nhiều người đổ mồ hôi như tắm và mệt nhoài khi lên đến nơi.

Phía sau băi trực thăng là một nghĩa trang với khoảng 20 ngôi mộ. Chúng tôi thắp nhang từng ngôi mộ và dọn dẹp.

Khu mộ thứ hai chúng tôi t́m tới nằm sâu trong núi và phải qua một con suối khá lớn.

Ông Nguyễn Hồng Đức, cư ngụ tại Hoa Kỳ, là người đă từng sống tại trại Kuku chia sẻ: “Trước đây tôi là bác sĩ quân y, Liên Đoàn 31 Biệt Động Quân. V́ là bác sĩ cho nên chỉ cải tạo có hơn 2 năm. Ra tù chỉ 2 tuần là tôi móc nối đi liền và bị bắt. Với bản án tù 2 năm rưỡi, khi ra tù là tôi thành một người vô gia đ́nh vô tổ quốc. Tôi và vợ tôi tiếp tục t́m đường đi nữa, nhưng bị bắt thêm nhiều lần. Sau đó, tôi bàn với vợ tôi là hai vợ chồng đi riêng rẽ. Thế là cô ấy đi thoát. Khi tôi nhận được tin vợ tôi đă tới Galang an toàn là tôi theo một chuyến kế đi ngay, nhưng lại bị bắt nữa. Vừa ra tù là người anh đă tổ chức đi tiếp.”

“Đó là chuyến cuối cùng và tôi đến được bến bờ tự do. Kể cho anh biết cái cảm giác hồi đó cặp bến Kuku mạnh mẽ và nó lạ lắm, nhất là những người từng vào tù ra khám như tôi. Tôi đă nhất quyết phải đi, một là chết hai là tự do. May mắn tôi nhận được phần tự do,” ông Đức tiếp.

“Nay đến đây tôi ngậm ngùi nghĩ đến những người không may mắn như ḿnh được gặp lại gia đ́nh. C̣n lại những người không may để lại nấm mồ vô chủ ở nghĩa trang. Ở Malaysia, hầu hết những nấm mồ được cải táng và xây dựng đàng hoàng. Đàng này, tại đây, có nhiều ngôi mộ chỉ là những tảng đá chất chồng lên nhau không tên tuổi không giới tính,” ông Đức chia sẻ tiếp.

Nếu tin rằng có một thế giới cho người chết và ngôi mộ như mái nhà thứ hai khi từ giă dương thế th́ những ngôi mộ vô chủ trên như một mái nhà của người tiền sử trong đó có một linh hồn trơ trọi đói khát và buồn thảm. Với nhang đèn, tôi không biết có sưởi ấm được những linh hồn u uất đó hay không. Tôi không biết họ có dùng được để ấm ḷng không?

Tôi tin rằng, chúng tôi, những người đang sống, và những người đă chết đang được chia sẻ một cái ǵ đó nói lên sự hiện hữu của hai thế giới hữu h́nh và vô h́nh.

Tôi về với một tâm trạng khắc khoải.

Mỗi ngày đều có người chết

Sau khi rời Kuku, chúng tôi đến băi biển Kuku 2 với băi cát vàng và hàng dừa đầy trái. Nước biển nơi đây mát lạnh, một cái lạnh “tê ḷng người.” Sau hai giờ vui chơi, chúng tôi lên tàu trở về Letung.

Điện tại đây được dùng rất hạn chế. Chính quyền chỉ cho phát điện từ 6 giờ chiều cho đến 6 giờ sáng. Ban ngày, nhà nào muốn dùng phải xài máy điện riêng.

Trong buổi cơm chiều, tôi được làm quen với ông bà Nguyễn Đ́nh Duật. Những ngày đầu tị nạn, gia đ́nh ông bà đă sống tại Letung. Bà Hương, vợ ông, nói: “Chúng tôi đến Letung với 3 đứa con, 5, 8 và 12 tuổi. Chúng tôi ở một hàng hiên của một căn nhà gần cầu tàu Letung. Chỉ buổi tối mới được vào hàng hiên ngủ thôi. Ban ngày phải ra ngoài cầu tàu. Hồi đó đông người tị nạn quá, chính quyền chỉ phát có chút gạo. Tôi nhặt lấy cái lon sắt và làm cái bếp dă chiến để nấu cháo cho cả nhà ăn hai bữa. Chỉ có chai x́ dầu làm đậm đà thêm bữa ăn cháo loăng.”

Bà kể tiếp: “Tôi c̣n nhớ lúc ngủ ở hàng hiên, tôi không dám ngủ nhiều v́ phải quạt cho các con để muỗi khỏi cắn tụi nó.”

Qua câu chuyện, tôi hiểu bà sợ điều ǵ, những cơn sốt rét ác tính và tiêu chảy đă cướp đi không ít sinh mạng của thuyền nhân trên đảo này và các đảo khác.

Ông Duật nói: “Trong mỗi trại hằng ngày đều có người chết, có ngày tôi đếm được 5 hay 6 xác được đem đi.”

Đảo Ruồi Behala

Trước giờ cơm chiều, chúng tôi tản bộ từ đảo Letung qua đảo Behala kế bên. Hai đảo hiện nay được nối liền bằng cây cầu dài. Đảo Behala nhỏ, nếu đứng một chỗ cũng nh́n thấy được toàn bộ khu đất trên đảo và hai ngọn núi. Nếu tính toàn bộ nhà và khu đất trống trên đảo th́ chứa được 600 người. Nhưng theo anh Ewel, cư dân của đảo Behala, cho biết, năm 1979 trên đảo có khoảng 3,000 người tị nạn.

Anh chỉ vào băi đất trống nói: “Họ ở đây.” Rồi anh chỉ lên hai ngọn núi nói: “Họ ở tuốt trên kia.” Và anh chỉ vào những hốc đá tối tăm nói: “Họ ở cả trong đó.”

Anh dẫn chúng tôi và anh Trần Đông đến một số địa điểm mà anh cho là có mộ thuyền nhân Việt Nam, nhưng không c̣n mộ bia nào cả, muốn t́m cho ra phải tốn nhiều th́ giờ và tiền bạc.

Những năm chưa có cây cầu nối liền hai đảo, người tị nạn bên đảo Behala muốn qua đảo Letung phải đợi nước ṛng. Người tị nạn qua bên Letung để nhận gạo và thực phẩm. V́ sống chen chúc như thế với điều kiện vệ sinh là con số không, tiêu tiểu bất cứ nơi nào, nên ruồi phát sinh rất nhanh, chẳng mấy chút tràn ngập trên đảo.

Ông Duật cho biết: “Chỉ cần để một chén cơm xuống rồi khua tay là bắt được một nắm ruồi. Chính v́ thế mà bệnh tiêu chảy đă tàn phá cộng đồng này đến kiệt quệ. Tôi thử làm con tính trong thời gian 3 tháng sống cô lập bên Letung và Behala, trước khi Liên Hiệp Quốc biết đến để giúp đỡ, mỗi ngày có khoảng 2 người chết v́ tiêu chảy và sốt rét ác tính, th́ con số tử vong đă lên đến 400 người. Những ngôi mộ này một phần được chôn trên những triền núi ở đây, số c̣n lại được chôn trên đảo Airaya.”

Thế nhưng, cho đến nay, VKTNVN vẫn không biết được chính xác nơi chôn, v́ qua nhiều năm tháng, cây cối mọc um tùm che hết dấu tích. Mặt khác, để có thể thực hiện công việc này, cần rất nhiều thời gian, công sức và tiền bạc.

Anh Trần Đông cho biết: “Hiện nay, VKTNVN đă lập kế hoạch t́m kiếm mộ thuyền nhân với sự giúp đỡ của dân địa phương. Một số ngôi mộ đă t́m được. Nếu chúng ta không làm ngày hôm nay, 5 hay 10 năm sau, những ngôi mộ này sẽ không c̣n nữa. Thế hệ sau muốn t́m hiểu về cội nguồn cũng không có đường để t́m về. Do đó, đây là bổn phận và trách nhiệm của cộng đồng người Việt hải ngoại chúng ta.” (V.Đ.T.)