Vũ Đ́nh Trọng/Việt Herald
(tường tŕnh từ Indonesia)
Sáng 2 tháng 4, đoàn chúng
tôi rời bến xuống tàu qua
đảo Letung, tàu chưa ghé bến
chúng tôi đă nghe vang tiếng
nhạc từ cầu tàu chính của
thị trưởng, ông bà Adanamar
(chúa đảo) cùng một số quan
chức địa phương và đoàn nhạc
đă đợi sẵn. Sau khi trao hai
ṿng hoa chào mừng cho anh
Trần Đông, giám đốc VKTNVN,
và chị Hương, chúng tôi cùng
nhau múa hát theo điệu nhạc
dân tộc Indonesia để đáp lại
thịnh t́nh của chúa đảo và
dân địa phương.
Không
như Terampah, Letung có một
con đường chính bằng xi măng
cốt thép, khoảng 80% các căn
nhà nơi đây xây trên những
cọc xi măng cốt thép hoặc
cọc gỗ. Từ ngoài đường chính
một cây cầu hầu hết bằng ván
nối liền từng nhà có thể nói
đây là một thành phố trên
biển.
Cuộc sống ở đây rất thanh
b́nh và cư dân hiếu khách.
Vào những năm cuối thập niên
1970, ḥn đảo này đă cưu
mang hằng chục ngàn thuyền
nhân Việt Nam không có một
sự trợ giúp của quốc tế, dù
cuộc sống của họ khá thấp.
Sau màn chào đón và chụp
h́nh lưu niệm với người dân
trên đảo, chúng tôi xuống
tàu đến đảo Kuku. Những
người đă từng sống ở đảo
trong những ngày đầu tị nạn
có vẻ xúc động khi bước
xuống băi biển sau 32 năm từ
giă nơi này. Họ cố lục lọi
trong kư ức những h́nh ảnh
xưa, nhưng không thể t́m lại
được, v́ cảnh vật thay đổi
hầu như hoàn toàn. Chỉ c̣n
lại băi trực thăng của Cao
Ủy Liên Hiệp Quốc là vẫn c̣n
trơ gan cùng tuế nguyệt.
Lần theo con đường ṃn cỏ
mọc um tùm, chúng tôi leo
lên băi trực thăng lưng
chừng núi. Không khí oi bức
mùa hè cộng thêm phải leo
núi khiến nhiều người đổ mồ
hôi như tắm và mệt nhoài khi
lên đến nơi.
Phía sau băi trực thăng
là một nghĩa trang với
khoảng 20 ngôi mộ. Chúng tôi
thắp nhang từng ngôi mộ và
dọn dẹp.
Khu mộ thứ hai chúng tôi
t́m tới nằm sâu trong núi và
phải qua một con suối khá
lớn.
Ông Nguyễn Hồng Đức, cư
ngụ tại Hoa Kỳ, là người đă
từng sống tại trại Kuku chia
sẻ: “Trước đây tôi là bác sĩ
quân y, Liên Đoàn 31 Biệt
Động Quân. V́ là bác sĩ cho
nên chỉ cải tạo có hơn 2
năm. Ra tù chỉ 2 tuần là tôi
móc nối đi liền và bị bắt.
Với bản án tù 2 năm rưỡi,
khi ra tù là tôi thành một
người vô gia đ́nh vô tổ
quốc. Tôi và vợ tôi tiếp tục
t́m đường đi nữa, nhưng bị
bắt thêm nhiều lần. Sau đó,
tôi bàn với vợ tôi là hai vợ
chồng đi riêng rẽ. Thế là cô
ấy đi thoát. Khi tôi nhận
được tin vợ tôi đă tới
Galang an toàn là tôi theo
một chuyến kế đi ngay, nhưng
lại bị bắt nữa. Vừa ra tù là
người anh đă tổ chức đi
tiếp.”
“Đó là chuyến cuối cùng
và tôi đến được bến bờ tự
do. Kể cho anh biết cái cảm
giác hồi đó cặp bến Kuku
mạnh mẽ và nó lạ lắm, nhất
là những người từng vào tù
ra khám như tôi. Tôi đă nhất
quyết phải đi, một là chết
hai là tự do. May mắn tôi
nhận được phần tự do,” ông
Đức tiếp.
“Nay
đến đây tôi ngậm ngùi nghĩ
đến những người không may
mắn như ḿnh được gặp lại
gia đ́nh. C̣n lại những
người không may để lại nấm
mồ vô chủ ở nghĩa trang. Ở
Malaysia, hầu hết những nấm
mồ được cải táng và xây dựng
đàng hoàng. Đàng này, tại
đây, có nhiều ngôi mộ chỉ là
những tảng đá chất chồng lên
nhau không tên tuổi không
giới tính,” ông Đức chia sẻ
tiếp.
Nếu tin rằng có một thế
giới cho người chết và ngôi
mộ như mái nhà thứ hai khi
từ giă dương thế th́ những
ngôi mộ vô chủ trên như một
mái nhà của người tiền sử
trong đó có một linh hồn trơ
trọi đói khát và buồn thảm.
Với nhang đèn, tôi không
biết có sưởi ấm được những
linh hồn u uất đó hay không.
Tôi không biết họ có dùng
được để ấm ḷng không?
Tôi tin rằng, chúng tôi,
những người đang sống, và
những người đă chết đang
được chia sẻ một cái ǵ đó
nói lên sự hiện hữu của hai
thế giới hữu h́nh và vô
h́nh.
Tôi về với một tâm trạng
khắc khoải.
Mỗi ngày đều có người
chết
Sau khi rời Kuku, chúng
tôi đến băi biển Kuku 2 với
băi cát vàng và hàng dừa đầy
trái. Nước biển nơi đây mát
lạnh, một cái lạnh “tê ḷng
người.” Sau hai giờ vui
chơi, chúng tôi lên tàu trở
về Letung.
Điện tại đây được dùng
rất hạn chế. Chính quyền chỉ
cho phát điện từ 6 giờ chiều
cho đến 6 giờ sáng. Ban
ngày, nhà nào muốn dùng phải
xài máy điện riêng.
Trong buổi cơm chiều, tôi
được làm quen với ông bà
Nguyễn Đ́nh Duật. Những ngày
đầu tị nạn, gia đ́nh ông bà
đă sống tại Letung. Bà
Hương, vợ ông, nói: “Chúng
tôi đến Letung với 3 đứa
con, 5, 8 và 12 tuổi. Chúng
tôi ở một hàng hiên của một
căn nhà gần cầu tàu Letung.
Chỉ buổi tối mới được vào
hàng hiên ngủ thôi. Ban ngày
phải ra ngoài cầu tàu. Hồi
đó đông người tị nạn quá,
chính quyền chỉ phát có chút
gạo. Tôi nhặt lấy cái lon
sắt và làm cái bếp dă chiến
để nấu cháo cho cả nhà ăn
hai bữa. Chỉ có chai x́ dầu
làm đậm đà thêm bữa ăn cháo
loăng.”
Bà kể tiếp: “Tôi c̣n nhớ
lúc ngủ ở hàng hiên, tôi
không dám ngủ nhiều v́ phải
quạt cho các con để muỗi
khỏi cắn tụi nó.”
Qua câu chuyện, tôi hiểu
bà sợ điều ǵ, những cơn sốt
rét ác tính và tiêu chảy đă
cướp đi không ít sinh mạng
của thuyền nhân trên đảo này
và các đảo khác.
Ông Duật nói: “Trong mỗi
trại hằng ngày đều có người
chết, có ngày tôi đếm được 5
hay 6 xác được đem đi.”
Đảo Ruồi Behala
Trước giờ cơm chiều,
chúng tôi tản bộ từ đảo
Letung qua đảo Behala kế
bên. Hai đảo hiện nay được
nối liền bằng cây cầu dài.
Đảo Behala nhỏ, nếu đứng một
chỗ cũng nh́n thấy được toàn
bộ khu đất trên đảo và hai
ngọn núi. Nếu tính toàn bộ
nhà và khu đất trống trên
đảo th́ chứa được 600 người.
Nhưng theo anh Ewel, cư dân
của đảo Behala, cho biết,
năm 1979 trên đảo có khoảng
3,000 người tị nạn.
Anh chỉ vào băi đất trống
nói: “Họ ở đây.” Rồi anh chỉ
lên hai ngọn núi nói: “Họ ở
tuốt trên kia.” Và anh chỉ
vào những hốc đá tối tăm
nói: “Họ ở cả trong đó.”
Anh
dẫn chúng tôi và anh Trần
Đông đến một số địa điểm mà
anh cho là có mộ thuyền nhân
Việt Nam, nhưng không c̣n mộ
bia nào cả, muốn t́m cho ra
phải tốn nhiều th́ giờ và
tiền bạc.
Những năm chưa có cây cầu
nối liền hai đảo, người tị
nạn bên đảo Behala muốn qua
đảo Letung phải đợi nước
ṛng. Người tị nạn qua bên
Letung để nhận gạo và thực
phẩm. V́ sống chen chúc như
thế với điều kiện vệ sinh là
con số không, tiêu tiểu bất
cứ nơi nào, nên ruồi phát
sinh rất nhanh, chẳng mấy
chút tràn ngập trên đảo.
Ông Duật cho biết: “Chỉ
cần để một chén cơm xuống
rồi khua tay là bắt được một
nắm ruồi. Chính v́ thế mà
bệnh tiêu chảy đă tàn phá
cộng đồng này đến kiệt quệ.
Tôi thử làm con tính trong
thời gian 3 tháng sống cô
lập bên Letung và Behala,
trước khi Liên Hiệp Quốc
biết đến để giúp đỡ, mỗi
ngày có khoảng 2 người chết
v́ tiêu chảy và sốt rét ác
tính, th́ con số tử vong đă
lên đến 400 người. Những
ngôi mộ này một phần được
chôn trên những triền núi ở
đây, số c̣n lại được chôn
trên đảo Airaya.”
Thế nhưng, cho đến nay,
VKTNVN vẫn không biết được
chính xác nơi chôn, v́ qua
nhiều năm tháng, cây cối mọc
um tùm che hết dấu tích. Mặt
khác, để có thể thực hiện
công việc này, cần rất nhiều
thời gian, công sức và tiền
bạc.
Anh Trần Đông cho biết:
“Hiện nay, VKTNVN đă lập kế
hoạch t́m kiếm mộ thuyền
nhân với sự giúp đỡ của dân
địa phương. Một số ngôi mộ
đă t́m được. Nếu chúng ta
không làm ngày hôm nay, 5
hay 10 năm sau, những ngôi
mộ này sẽ không c̣n nữa. Thế
hệ sau muốn t́m hiểu về cội
nguồn cũng không có đường để
t́m về. Do đó, đây là bổn
phận và trách nhiệm của cộng
đồng người Việt hải ngoại
chúng ta.” (V.Đ.T.)