PALAU BIDONG, Malaysia (VH):
Palau Bidong hay đảo Bidong
là địa danh không thể quên
đối với nhiều thuyền nhân
Việt Nam. Bidong mở cửa đón
ḍng người tị nạn đường biển
từ năm 1978, và chính thức
đóng cửa năm 1991. Theo
thống kê, Bidong đă tiếp đón
hơn 250,000 thuyền nhân Việt
Nam, và trong một thời điểm
đă dung chứa cùng một lúc
59,000 người.
Trước
khi đến bến tàu đi Bidong,
dọc đường, đoàn chúng tôi đă
ghé vào thăm mộ ông Alcoh
Wong, một vị ân nhân của
thuyền nhân Việt Nam tại
Malaysia đă mất vào tháng 8,
2006. Cùng đi với chúng tôi
c̣n có bà quả phụ Alcoh
Wong.
Trong một bài viết khác,
tôi sẽ nói chuyện về những
công việc ông Alcoh Wong đă
làm trong suốt hơn 20 năm
qua cho thuyền nhân Việt
Nam, nhất là đối với những
người đă khuất.
Tàu xuất phát lúc 9 giờ
15 sáng Thứ Ba, 30 tháng 3.
Sau hơn 45 phút vượt sóng,
đoàn chúng tôi cập cầu tàu
Jetty, Bidong, vào lúc 10
giờ.
Điểm đầu tiên đập vào mắt
cựu thuyền nhân Bidong là
chiếc cầu tàu gỗ xưa kia,
nơi chứng kiến biết bao cuộc
đón tiếp và tiễn đưa, nay đă
biến mất. Thay vào đó là
chiếc cầu tàu mới bằng xi
măng cốt thép chắc chắn,
rộng răi và đương nhiên, rất
đẹp.
Sau khi nghỉ ngơi ít
phút, đoàn chúng tôi tiến
lên đồi Tôn Giáo, nơi trước
đây có 3 địa điểm tâm linh
là nhà thờ Công Giáo, chùa
Phật Giáo và một Thánh Thất
Cao Đài.
Đường đi lên trơn trượt
do lá cây phủ dày dưới chân
và cây cối um tùm che khuất
lối đi. Sau khi bước lên 100
bậc thang, đoàn dừng lại bên
nhà thờ Công Giáo tiêu điều
hiu quạnh. Mái tôn nhà thờ
mục nát, tất cả tượng và
kinh thánh biến mất, và trên
bức tường chính chỉ c̣n cây
thánh giá gỗ đứng trơ trọi.
Căn nhà phía sau nhà thờ
cũng bị xiêu vẹo, đổ nát.
Nhà
thờ này là một công tŕnh
của người Việt tị nạn, được
xây dựng năm 1978, với sự
giúp đỡ của Cao Ủy Liên Hiệp
Quốc.
Chúng tôi cùng nhau dâng
hoa, thắp nhang và dâng lễ
cầu nguyện lên Thiên Chúa.
Những ánh mắt đượm buồn
hướng về cây thánh giá cô
đơn, trong ḷng mỗi người
Kitô hữu đều dâng trào một
nỗi xót xa cho ngôi thánh
đường năm xưa vang rền tiếng
lễ hàng tuần.
Trước nhà thờ Công Giáo,
vào tháng 4, 2005, VKTNVN đă
cùng cộng đồng người Việt
hải ngoại xây dựng một tấm
bia tưởng niệm chung. Sau đó
vài tháng, do áp lực từ nhà
cầm quyền Hà Nội, tấm bia đă
bị phá hủy hoàn toàn. Giờ
vẫn c̣n đó những mảnh vụn xi
măng và khung sắt trơ trọi
giữa trời.
Tượng đài Cánh Buồm Tự Do
hướng ra biển, tuy vẫn c̣n
nguyên vẹn, không dấu được
sự tàn phá của thời gian.
Phần xi măng phía dưới hiện
đang bị rạn nứt, những cánh
buồm không được sơn phết
hiện rơ vẻ phong trần.
Tất cả, dù không hẹn, mọi
người đều hướng từ dưới
tượng đài lên ngọn 5 cánh
buồm với đôi mắt hănh diện.
Tượng đài này là biểu tượng
cho tự do và một thời nó
được coi như ngọn hải đăng
tàu vượt biên t́m đến. Ngày
nay, nếu đứng dưới cầu tàu
Jetty, chỉ c̣n thấy được
phần ngọn nhỏ xíu. Ba mươi
hai năm trôi qua, những cây
con dưới chân đồi giờ đă
vươn cao che mất tầm nh́n từ
biển.
Chùa
Từ Bi sau nhà thờ Công Giáo
c̣n điêu tàn hơn. Những
tượng phật Quan Thế Âm,
Thích Ca đều bị chặt mất
đầu, nhưng vẫn đứng trơ gan
cùng tuế nguyệt. Nhiều chỗ
dây leo chằng chịt, rêu
phong phủ mờ, làm khung cảnh
càng thêm thê lương. Đoàn
chúng tôi dừng chân tại đây,
dâng hương niệm Phật, cầu
nguyện cho những linh hồn
đang ở đây sớm siêu thoát.
Trên đường xuống đồi Tôn
Giáo, phái đoàn cũng dừng
chân tại Thánh Thất Cao Đài,
cũng bị mục nát, hư hỏng rất
nhiều.
Qua thăm đồi khu F, nghĩa
trang chung giờ bị cây rừng,
cỏ dại phủ lấp khiến khu vực
này trở nên hoang tàn, lạnh
lẽo hơn bao giờ. Một số
người t́m đến đây với mục
đích thăm bạn bè, thế nhưng,
họ không thể nào t́m lại
được mộ bia.
Mọi người chia nhau đi
thắp nhang, tưới nước lên
những ngôi mộ như để tắm mát
những linh hồn đang héo tàn
v́ chờ đợi. Một số người
chợt rơi nước mắt khi đang
cầu nguyện trong gió núi đồi
vi vu.
Khi trở lại cầu tàu
Jetty, áo người nào cũng ướt
mồ hôi, nhưng tinh thần của
họ, chắc có lẽ sảng khoái
hơn bao giờ hết, bởi v́ họ
đă được trở về “ngôi nhà tự
do đầu tiên sau bao ngày
vượt biển.”
Qua
những câu chuyện, tôi nhận
ra rằng, trong niềm vui được
trở về, từng câu nói c̣n ẩn
chứa nhiều nỗi buồn. Trong
kư ức tươi đẹp của những
ngày tháng sống ở đảo, họ đă
được đón nhận, giúp đỡ và
chia sẻ, mỗi góc đảo đều in
dấu kỷ niệm, vậy mà nay trở
về, những dấu vết xưa đă
không c̣n.
Những ánh mắt buồn chợt
tan biến và không khí trở
nên chộn rộn hơn khi anh Lưu
Dân và Trung Chính cùng cây
đàn guitar, cất cao tiếng
hát bài “Một ngày trên đảo
Bidong” của nhạc sĩ Hà Thúc
Sinh.
Xin chép lại lời bài hát,
gởi tặng những người đă từng
sống, dù chỉ một ngày trên
đảo Bidong.
“Một ngày trên
Bi-Đông, người đón người lưu
vong.
Từ mù khơi quê hương,
nổi trôi đi t́m sống.
Người tặng nhau môi
tươi, nửa hồn thênh thang
vui.
Rồi nh́n ra xa khơi,
bồng bềnh như mơ thôi.
Một ngày trên Bi-Đông,
người kiếm người loanh
quanh.
Từng cụm mây cô đơn,
t́m lấy nhau mà sống.
Hồn Trị Thiên-Nha
Trang, dài từng đôi tay sang
Hồn Cà Mau-Năm Căn
thành giọt nước mắt tṛn.”
“Giọt nước mắt ngậm
ngùi, giấu nuôi từ quê hương
tới.
Thuyền đến bến lạc
loài, mới rơi rụng theo bước
đời.”
“Một ngày trên
Bi-Đông, mừng nắm bàn tay
em.
Tưởng chừng như ta
quen, từ cố hương tiền kiếp.
Rồi thuyền em ra đi,
rồi ḿnh anh bơ vơ.
Ḷng chẳng nghe tương
tư, mà ngùi nỗi nhớ nhà.”
Thuyền nhân của đảo
Bidong trong một ngày
Bài viết trên được thực
hiện do sự chia sẻ của anh
em trong đoàn. Tôi không
trực tiếp đi thăm đồi Tôn
Giáo, nghĩa trang khu F mà
chỉ nghe kể và ghi lại. Bài
viết của tôi dưới đây sẽ trả
lời lư do tại sao.
Tôi không phải là thuyền
nhân, nói theo anh Lưu Dân
th́ tôi là “phi nhân” v́ đến
Mỹ bằng máy bay. Mà có lẽ,
nếu năm xưa, chuyến vượt
biên của tôi không bị “bể”
th́ tôi cũng đă là một
thuyền nhân. C̣n sống, chết
dưới đại dương, hay nằm một
chỗ trong hàng chục nghĩa
trang tập thể trên đất
Malaysia lại là một chuyện
khác.
Tôi
nghĩ tôi khó sống trong
chuyến vượt biển v́ rất dễ
say sóng. Tôi biết điều đó,
nhưng luôn muốn cố gắng thử,
để thần kinh ḿnh đối đầu
được với hậu quả của những
cơn sóng, nhưng lần nào cũng
thất bại. Lần đi biển ra đảo
Biđong là lần thất bại chắc
cũng chưa phải là thất bại
cuối cùng, nhưng quả thật
tôi thấy hối tiếc khi mất
một dịp được nh́n thấy toàn
cảnh di tích lịch sử thuyền
nhân này.
Khi tàu chưa ra cửa biển
tôi đă cảm thấy khó chịu
trong người, v́ con tàu từ
đâm thẳng vào mũi sóng mà
đi. Sóng hôm đó hơi lớn nên
con tàu cứ nhấp nha nhấp
nhổm. Khoảng 15 phút sau,
trong khi mọi người cứ nói
cười rôm rả th́ tôi đổ mồ
hôi hột. Khi gần đến đảo th́
một cơn sóng lớn đă làm tàu
như rơi xuống một cái hố
voi, khiến mọi người hổng
chân. Rất may là một số
người ngồi ở ngoài, trên mũi
tàu không ai rớt xuống biển.
Sau con sóng đó th́ tôi
càng lúc càng yếu dần, đứng
không vững. Tôi không dám
ngồi xuống v́ biết chắc khi
ngồi tôi sẽ gục hẳn. Những
cơn ói cứ chực trào ra,
nhưng cũng may là tôi c̣n đủ
lư trí để kềm nó lại.
Khi tàu cập bến th́ một
số người nh́n thấy mặt tôi
như mặt xác chết trôi nên
vội d́u tôi lên bờ. Tôi nằm
thẳng chân trên ghế đá, tim
đập loạn nhịp, mồ hôi tiếp
tục đổ, tay chân tê rần và
tôi không c̣n cách nào điều
khiển được nó dù đầu óc tôi
vẫn tỉnh táo. Mọi người xúm
lại xoa dầu, hỏi han nhưng
quả thật tôi không thể nào
nói được.
Chính trong cơn vật vă
ấy, tôi chợt nghĩ đến những
người vượt biển năm xưa. Tôi
chợt hiểu câu nói của một ai
đó rằng sau 3 ngày say sóng,
muốn chết lắm nhưng không
chết được. Phải! Có lẽ trong
lúc như thế, chết là cách
giải thoát nhẹ nhàng nhất.
Thời gian đi từ bờ ra tới
đảo chỉ có khoảng 45 phút,
thế mà tôi đă chịu không
nổi. Năm xưa, những người
vượt biển phải chịu nỗi vật
vă hơn tôi cả một tuần lễ
th́ sao? Cái ǵ đă khiến họ
chấp nhận ra đi để thà chết
chứ không ở lại?
Tôi nằm yên, nghĩ về
những nấm mồ thuyền nhân tôi
đă ghé thăm. Những thuyền
nhân xấu số đó không chỉ
đánh động lương tâm toàn
nhân loại mà c̣n cho chúng
ta một bài học lớn về cái
giá phải trả cho tự do.
Riêng tôi, tôi cho rằng
cơn say sóng này là cái giá
phải trả để tôi có thể trở
thành thuyền nhân của đảo
Bidong trong một ngày.