Kỳ 4: Cảm nhận Palau Bidong

(03/31/2010)

 

PALAU BIDONG, Malaysia (VH): Palau Bidong hay đảo Bidong là địa danh không thể quên đối với nhiều thuyền nhân Việt Nam. Bidong mở cửa đón ḍng người tị nạn đường biển từ năm 1978, và chính thức đóng cửa năm 1991. Theo thống kê, Bidong đă tiếp đón hơn 250,000 thuyền nhân Việt Nam, và trong một thời điểm đă dung chứa cùng một lúc 59,000 người.

Trước khi đến bến tàu đi Bidong, dọc đường, đoàn chúng tôi đă ghé vào thăm mộ ông Alcoh Wong, một vị ân nhân của thuyền nhân Việt Nam tại Malaysia đă mất vào tháng 8, 2006. Cùng đi với chúng tôi c̣n có bà quả phụ Alcoh Wong.

Trong một bài viết khác, tôi sẽ nói chuyện về những công việc ông Alcoh Wong đă làm trong suốt hơn 20 năm qua cho thuyền nhân Việt Nam, nhất là đối với những người đă khuất.

Tàu xuất phát lúc 9 giờ 15 sáng Thứ Ba, 30 tháng 3. Sau hơn 45 phút vượt sóng, đoàn chúng tôi cập cầu tàu Jetty, Bidong, vào lúc 10 giờ.

Điểm đầu tiên đập vào mắt cựu thuyền nhân Bidong là chiếc cầu tàu gỗ xưa kia, nơi chứng kiến biết bao cuộc đón tiếp và tiễn đưa, nay đă biến mất. Thay vào đó là chiếc cầu tàu mới bằng xi măng cốt thép chắc chắn, rộng răi và đương nhiên, rất đẹp.

Sau khi nghỉ ngơi ít phút, đoàn chúng tôi tiến lên đồi Tôn Giáo, nơi trước đây có 3 địa điểm tâm linh là nhà thờ Công Giáo, chùa Phật Giáo và một Thánh Thất Cao Đài.

Đường đi lên trơn trượt do lá cây phủ dày dưới chân và cây cối um tùm che khuất lối đi. Sau khi bước lên 100 bậc thang, đoàn dừng lại bên nhà thờ Công Giáo tiêu điều hiu quạnh. Mái tôn nhà thờ mục nát, tất cả tượng và kinh thánh biến mất, và trên bức tường chính chỉ c̣n cây thánh giá gỗ đứng trơ trọi. Căn nhà phía sau nhà thờ cũng bị xiêu vẹo, đổ nát.

Nhà thờ này là một công tŕnh của người Việt tị nạn, được xây dựng năm 1978, với sự giúp đỡ của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc.

Chúng tôi cùng nhau dâng hoa, thắp nhang và dâng lễ cầu nguyện lên Thiên Chúa. Những ánh mắt đượm buồn hướng về cây thánh giá cô đơn, trong ḷng mỗi người Kitô hữu đều dâng trào một nỗi xót xa cho ngôi thánh đường năm xưa vang rền tiếng lễ hàng tuần.

Trước nhà thờ Công Giáo, vào tháng 4, 2005, VKTNVN đă cùng cộng đồng người Việt hải ngoại xây dựng một tấm bia tưởng niệm chung. Sau đó vài tháng, do áp lực từ nhà cầm quyền Hà Nội, tấm bia đă bị phá hủy hoàn toàn. Giờ vẫn c̣n đó những mảnh vụn xi măng và khung sắt trơ trọi giữa trời.

Tượng đài Cánh Buồm Tự Do hướng ra biển, tuy vẫn c̣n nguyên vẹn, không dấu được sự tàn phá của thời gian. Phần xi măng phía dưới hiện đang bị rạn nứt, những cánh buồm không được sơn phết hiện rơ vẻ phong trần.

Tất cả, dù không hẹn, mọi người đều hướng từ dưới tượng đài lên ngọn 5 cánh buồm với đôi mắt hănh diện. Tượng đài này là biểu tượng cho tự do và một thời nó được coi như ngọn hải đăng tàu vượt biên t́m đến. Ngày nay, nếu đứng dưới cầu tàu Jetty, chỉ c̣n thấy được phần ngọn nhỏ xíu. Ba mươi hai năm trôi qua, những cây con dưới chân đồi giờ đă vươn cao che mất tầm nh́n từ biển.

Chùa Từ Bi sau nhà thờ Công Giáo c̣n điêu tàn hơn. Những tượng phật Quan Thế Âm, Thích Ca đều bị chặt mất đầu, nhưng vẫn đứng trơ gan cùng tuế nguyệt. Nhiều chỗ dây leo chằng chịt, rêu phong phủ mờ, làm khung cảnh càng thêm thê lương. Đoàn chúng tôi dừng chân tại đây, dâng hương niệm Phật, cầu nguyện cho những linh hồn đang ở đây sớm siêu thoát.

Trên đường xuống đồi Tôn Giáo, phái đoàn cũng dừng chân tại Thánh Thất Cao Đài, cũng bị mục nát, hư hỏng rất nhiều.

Qua thăm đồi khu F, nghĩa trang chung giờ bị cây rừng, cỏ dại phủ lấp khiến khu vực này trở nên hoang tàn, lạnh lẽo hơn bao giờ. Một số người t́m đến đây với mục đích thăm bạn bè, thế nhưng, họ không thể nào t́m lại được mộ bia.

Mọi người chia nhau đi thắp nhang, tưới nước lên những ngôi mộ như để tắm mát những linh hồn đang héo tàn v́ chờ đợi. Một số người chợt rơi nước mắt khi đang cầu nguyện trong gió núi đồi vi vu.

Khi trở lại cầu tàu Jetty, áo người nào cũng ướt mồ hôi, nhưng tinh thần của họ, chắc có lẽ sảng khoái hơn bao giờ hết, bởi v́ họ đă được trở về “ngôi nhà tự do đầu tiên sau bao ngày vượt biển.”

Qua những câu chuyện, tôi nhận ra rằng, trong niềm vui được trở về, từng câu nói c̣n ẩn chứa nhiều nỗi buồn. Trong kư ức tươi đẹp của những ngày tháng sống ở đảo, họ đă được đón nhận, giúp đỡ và chia sẻ, mỗi góc đảo đều in dấu kỷ niệm, vậy mà nay trở về, những dấu vết xưa đă không c̣n.

Những ánh mắt buồn chợt tan biến và không khí trở nên chộn rộn hơn khi anh Lưu Dân và Trung Chính cùng cây đàn guitar, cất cao tiếng hát bài “Một ngày trên đảo Bidong” của nhạc sĩ Hà Thúc Sinh.

Xin chép lại lời bài hát, gởi tặng những người đă từng sống, dù chỉ một ngày trên đảo Bidong.

 

“Một ngày trên Bi-Đông, người đón người lưu vong.

Từ mù khơi quê hương, nổi trôi đi t́m sống.

Người tặng nhau môi tươi, nửa hồn thênh thang vui.

Rồi nh́n ra xa khơi, bồng bềnh như mơ thôi.

Một ngày trên Bi-Đông, người kiếm người loanh quanh.

Từng cụm mây cô đơn, t́m lấy nhau mà sống.

Hồn Trị Thiên-Nha Trang, dài từng đôi tay sang

Hồn Cà Mau-Năm Căn thành giọt nước mắt tṛn.”

 

“Giọt nước mắt ngậm ngùi, giấu nuôi từ quê hương tới.

Thuyền đến bến lạc loài, mới rơi rụng theo bước đời.”

 

“Một ngày trên Bi-Đông, mừng nắm bàn tay em.

Tưởng chừng như ta quen, từ cố hương tiền kiếp.

Rồi thuyền em ra đi, rồi ḿnh anh bơ vơ.

Ḷng chẳng nghe tương tư, mà ngùi nỗi nhớ nhà.”

 

Thuyền nhân của đảo Bidong trong một ngày

Bài viết trên được thực hiện do sự chia sẻ của anh em trong đoàn. Tôi không trực tiếp đi thăm đồi Tôn Giáo, nghĩa trang khu F mà chỉ nghe kể và ghi lại. Bài viết của tôi dưới đây sẽ trả lời lư do tại sao.

Tôi không phải là thuyền nhân, nói theo anh Lưu Dân th́ tôi là “phi nhân” v́ đến Mỹ bằng máy bay. Mà có lẽ, nếu năm xưa, chuyến vượt biên của tôi không bị “bể” th́ tôi cũng đă là một thuyền nhân. C̣n sống, chết dưới đại dương, hay nằm một chỗ trong hàng chục nghĩa trang tập thể trên đất Malaysia lại là một chuyện khác.

Tôi nghĩ tôi khó sống trong chuyến vượt biển v́ rất dễ say sóng. Tôi biết điều đó, nhưng luôn muốn cố gắng thử, để thần kinh ḿnh đối đầu được với hậu quả của những cơn sóng, nhưng lần nào cũng thất bại. Lần đi biển ra đảo Biđong là lần thất bại chắc cũng chưa phải là thất bại cuối cùng, nhưng quả thật tôi thấy hối tiếc khi mất một dịp được nh́n thấy toàn cảnh di tích lịch sử thuyền nhân này.

Khi tàu chưa ra cửa biển tôi đă cảm thấy khó chịu trong người, v́ con tàu từ đâm thẳng vào mũi sóng mà đi. Sóng hôm đó hơi lớn nên con tàu cứ nhấp nha nhấp nhổm. Khoảng 15 phút sau, trong khi mọi người cứ nói cười rôm rả th́ tôi đổ mồ hôi hột. Khi gần đến đảo th́ một cơn sóng lớn đă làm tàu như rơi xuống một cái hố voi, khiến mọi người hổng chân. Rất may là một số người ngồi ở ngoài, trên mũi tàu không ai rớt xuống biển.

Sau con sóng đó th́ tôi càng lúc càng yếu dần, đứng không vững. Tôi không dám ngồi xuống v́ biết chắc khi ngồi tôi sẽ gục hẳn. Những cơn ói cứ chực trào ra, nhưng cũng may là tôi c̣n đủ lư trí để kềm nó lại.

Khi tàu cập bến th́ một số người nh́n thấy mặt tôi như mặt xác chết trôi nên vội d́u tôi lên bờ. Tôi nằm thẳng chân trên ghế đá, tim đập loạn nhịp, mồ hôi tiếp tục đổ, tay chân tê rần và tôi không c̣n cách nào điều khiển được nó dù đầu óc tôi vẫn tỉnh táo. Mọi người xúm lại xoa dầu, hỏi han nhưng quả thật tôi không thể nào nói được.

Chính trong cơn vật vă ấy, tôi chợt nghĩ đến những người vượt biển năm xưa. Tôi chợt hiểu câu nói của một ai đó rằng sau 3 ngày say sóng, muốn chết lắm nhưng không chết được. Phải! Có lẽ trong lúc như thế, chết là cách giải thoát nhẹ nhàng nhất.

Thời gian đi từ bờ ra tới đảo chỉ có khoảng 45 phút, thế mà tôi đă chịu không nổi. Năm xưa, những người vượt biển phải chịu nỗi vật vă hơn tôi cả một tuần lễ th́ sao? Cái ǵ đă khiến họ chấp nhận ra đi để thà chết chứ không ở lại?

Tôi nằm yên, nghĩ về những nấm mồ thuyền nhân tôi đă ghé thăm. Những thuyền nhân xấu số đó không chỉ đánh động lương tâm toàn nhân loại mà c̣n cho chúng ta một bài học lớn về cái giá phải trả cho tự do.

Riêng tôi, tôi cho rằng cơn say sóng này là cái giá phải trả để tôi có thể trở thành thuyền nhân của đảo Bidong trong một ngày.