Hát cho nhau nghe bài hát
quê hương
Nghe “Một
ngày trên Bi-Đông” của Hà
Thúc Sinh ngay trên đảo
Bidong mới thấm thía nỗi
ḷng của thuyền nhân. Tôi
không ngờ một ca khúc với
giai điệu và ca từ b́nh
thường lại có sức thu hút
đến thế. Hà Thúc Sinh từng
là thyền nhân, từng ở Bidong
nên anh mới có được cái ray
rứt này. Ba mươi năm sau,
chúng tôi hát giữa sóng,
giữa gió Bidong vẫn thấy tê
người khi nghĩ đến những
người nằm xuống tại đây, xa
gia đ́nh, xa tổ quốc.
Chếch
về bên phải cầu tàu Jetty,
tượng Ông Già Bidong và cô
cháu gái đă chết trên tay
vẫn c̣n đó, trơ trọi và buồn
bă. Ông già và những người
đă chết, sẽ ở măi trên ḥn
đảo này để làm một nhân
chứng thuyền nhân muôn đời.
Tượng Ông Già Bidong, do
điêu khắc gia Nguyễn Văn
Thân thực hiện, không ai nhớ
rơ được làm năm nào, và câu
chuyện về ông già này được
kể với nhiều chi tiết khác
nhau. Ông là một trong những
thuyền nhân tới đảo này đầu
tiên, trước khi có chương
tŕnh cứu trợ thuyền nhân
của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc.
Thuyền của ông gặp hải
tặc, những cô gái trên tàu
bị hăm hiếp trong đó có con
gái và cháu ngoại ông. Tàu
hết xăng dầu, hết lương thực
và chết rất nhiều người. Khi
đến được đảo, ông kéo cháu
ngoại ông vào bờ, nhưng cô
gái ấy đă chết trên tay ông.
Có truyền thuyết cho rằng
ông mệt quá nên khi kéo được
người cháu vào bờ th́ cũng
chết. Có câu chuyện kể rằng
ông bị một quả dừa rơi trúng
đầu nên chết với người cháu
gái trên tay.
Trong những buổi tối xa
nhà, một nhóm anh em chúng
tôi thường tụ nhau lại ở một
pḥng nào đó hát cho nhau
nghe. Chiếc đàn guitar thùng
chúng tôi hùn tiền nhau mua
trở thành môt người bạn tri
âm. Anh bạn Lưu Dân đă
“thủ”sẵn những tập nhạc
t́nh, và đặc biệt là tập ca
khúc của hai nhạc sĩ Hà Thúc
Sinh và Nguyễn Đức Quang.
Không có ly nhỏ, chúng
tôi chuyền tay nhau nắp rượu
rồi người hát, kẻ đàn. Chúng
tôi bồng bềnh trôi theo ḍng
nhạc Hà Thúc Sinh “Thà chết
trên biển Đông,” “Nếu tôi
c̣n sống mà trở về,” “Đêm
Việt Nam”à mà ḷng rực lửa.
Chúng tôi cùng hát vang
“Việt Nam quê hương ngạo
nghễ,” “Anh em tôi,” “Hy
vọng đă vươn lên,” “Về với
mẹ cha”à của nhạc sĩ Nguyễn
Đức Quang mà thấy ḷng sục
sôi t́nh yêu nước, thương
ṇi. Bao nhiêu năm qua, ḍng
nhạc này đă tiếp lửa cho
nhiều thế hệ, kể cả những
thanh niên trong nước hôm
nay xuống đường biểu t́nh
chống Trung Quốc, nay ḍng
nhạc này khiến những người
từ bốn phương trời tụ về đây
cảm thấy gần gũi, thân thiết
như anh em một nhà.
Galang 3, “Thành phố
buồn” buồn hơn cả nỗi buồn
Nghĩa trang thuyền nhân
tại Galang được gọi là
Galang 3.
Thường
người ta gọi nghĩa trang là
“thành phố buồn.” Thế nhưng,
h́nh như “thành phố buồn”
này buồn hơn cả nỗi buồn mà
loài người đă biết!
“Thành phố” này có 503
“ngôi nhà” mà hầu hết bị
xiêu vẹo, đổ nát hay nếu có
lành lặn th́ cũng bị rong
rêu phủ đầy. Tôi có cảm
tưởng như người thân của
những người nằm xuống tại
đây đă quên họ rồi.
Có những ngôi mộ của
người già, trung niên, thanh
niên và cả trẻ con, có em bé
chưa được một ngày tuổi. Tôi
nhẩm đếm những ngôi mộ trẻ
thơ này và chợt nghĩ nếu thế
giới bên kia có lập một nhà
trẻ th́ chắc đông đúc lắm.
Những em bé mặt mũi tèm lem
cùng chơi đùa với gió và
cát, v́ tôi chẳng thấy một
món đồ chơi nào trên nấm mộ
của các em cả, cho dù đă cũ
kỹ, rách nát.
Tôi không biết cha mẹ của
các em có trở lại đây dù chỉ
một lần để thăm lại đứa con
xấu số của ḿnh không. Nếu
có th́ chắc các em mừng lắm,
c̣n nếu không, tôi chắc rằng
những Thiên Thần bé nhỏ đó
sẽ chẳng bao giờ biết giận,
biết hờn.
Một ngôi mộ có cây thánh
giá trên mặt bị sụp đất, tấm
bia ngôi mộ khác có chữ Vạn
nhà Phật nằm xiêu vẹo. Không
biết Chúa có giận, Phật có
buồn hay không?
Số phận nào cay nghiệt
hơn?
Những người đến Singapore
thường chuyền miệng nhau câu
nói “Singapore is the FINE
country.” Có thể hiểu đây là
một đất nước tuyệt đẹp,
nhưng cũng có thể hiểu đây
là một đất nước phạt vạ.
Xả rác, nhổ bậy, hút
thuốc nơi công cộngà đều có
thể bị phạt. Nhờ đó, những
đường phố chính ở Singapore
đều sạch sẽ. Tuy nhiên,
khách sạn 81 đường Geylang,
nơi đoàn chúng tôi ở cách xa
khu trung tâm nên h́nh như
những điều cấm này ít phát
huy tác dụng.
Đi dạo nơi này giống như
lạc vào Chợ Lớn. Cửa hàng
san sát, lối đi chật hẹp,
hàng hóa bày tràn ra lề
đường.
Nếu quư vị là người thích
hút thuốc, khi ghé một quán
ăn hay quán nước nào đó th́
nhớ hỏi chủ quán bàn nào
được hút thuốc. Cũng trong
quán, dù bày bàn ngoài trời,
chớ có ngồi vào bàn có dán
h́nh điếu thuốc gạch ngang,
mà ph́ phèo điếu thuốc. Chủ
quán sẽ chỉ cho quư vị một
bàn, cạnh đó thôi, không có
tấm bảng cấm. Ở đó, quư vị
có thể ăn nhậu và ph́ phà
khói qua bàn bên cạnh!
Buổi tối ở đây nhộn nhịp
lắm, có một khu bán đĩa sex
và đánh bài suốt đêm ngoài
đường. Nơi đó, tôi đă gặp
một vài anh chàng Việt Nam,
nói giọng Bắc đặc sệt. Cảnh
sát chắc cũng chán cảnh bắt
rồi thả nên cứ bỏ mặc, khi
nào có đánh nhau, mà đánh
nhau xong họ mới xuất hiện
làm biên bản.
Tại cửa một quán bar, tôi
thấy 3 tờ giấy học tṛ ghi
bằng tiếng Việt, đại khái
như thế này:
“Con gái Việt Nam không
được mang nước vào quán, nếu
không tuân sẽ bị phạt S$10”
“Con gái Việt Nam không
được đứng ngoài quán đón
khách.”
“Con gái Việt Nam không
được đánh nhau, nếu đánh
nhau sẽ bị đuổi.”
Nội dung ba tờ giấy đó
phần nào nói lên được thực
trạng những cô gái Việt Nam
qua đây làm việc như thế
nào.
Anh bạn người địa phương
cho biết con gái Việt qua
đây “làm việc” như thế này
nhiều lắm. Ma cũ bắt nạt ma
mới, nên đánh nhau tranh
giành khách là chyuện
thường. Một số cô qua đây
tính chỉ làm tiếp viên thôi
chứ không “đi khách,” thế
nhưng, vài tháng sau cũng
buộc phải thay đổi cách “làm
việc.” Thứ nhất là “ế độ,”
không được khách mời, trong
khi đó tiền sinh hoạt nơi
đây khá đắt đỏ th́ làm ǵ để
sống nếu không dùng “vốn tự
có?” Thứ hai, gặp khách xộp
vung tiền th́ sau hai ba lần
từ chối rồi cũng ngă ḷng.
Những cô gái Việt
Nam “ăn sương”
trên đất
Singapore ngày
nay và những thuyền nhân nằm
lại trên đảo Galang, số phận
nào cay nghiệt hơn? (V.Đ.T.)