Chuyện bên lề trong chuyến Về Bến Tự Do 8: Số phận nào cay nghiệt hơn?
(04/15/2010)
Hát cho nhau nghe bài hát quê hương

Nghe “Một ngày trên Bi-Đông” của Hà Thúc Sinh ngay trên đảo Bidong mới thấm thía nỗi ḷng của thuyền nhân. Tôi không ngờ một ca khúc với giai điệu và ca từ b́nh thường lại có sức thu hút đến thế. Hà Thúc Sinh từng là thyền nhân, từng ở Bidong nên anh mới có được cái ray rứt này. Ba mươi năm sau, chúng tôi hát giữa sóng, giữa gió Bidong vẫn thấy tê người khi nghĩ đến những người nằm xuống tại đây, xa gia đ́nh, xa tổ quốc.

Chếch về bên phải cầu tàu Jetty, tượng Ông Già Bidong và cô cháu gái đă chết trên tay vẫn c̣n đó, trơ trọi và buồn bă. Ông già và những người đă chết, sẽ ở măi trên ḥn đảo này để làm một nhân chứng thuyền nhân muôn đời.

Tượng Ông Già Bidong, do điêu khắc gia Nguyễn Văn Thân thực hiện, không ai nhớ rơ được làm năm nào, và câu chuyện về ông già này được kể với nhiều chi tiết khác nhau. Ông là một trong những thuyền nhân tới đảo này đầu tiên, trước khi có chương tŕnh cứu trợ thuyền nhân của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc.

Thuyền của ông gặp hải tặc, những cô gái trên tàu bị hăm hiếp trong đó có con gái và cháu ngoại ông. Tàu hết xăng dầu, hết lương thực và chết rất nhiều người. Khi đến được đảo, ông kéo cháu ngoại ông vào bờ, nhưng cô gái ấy đă chết trên tay ông. Có truyền thuyết cho rằng ông mệt quá nên khi kéo được người cháu vào bờ th́ cũng chết. Có câu chuyện kể rằng ông bị một quả dừa rơi trúng đầu nên chết với người cháu gái trên tay.

Trong những buổi tối xa nhà, một nhóm anh em chúng tôi thường tụ nhau lại ở một pḥng nào đó hát cho nhau nghe. Chiếc đàn guitar thùng chúng tôi hùn tiền nhau mua trở thành môt người bạn tri âm. Anh bạn Lưu Dân đă “thủ”sẵn những tập nhạc t́nh, và đặc biệt là tập ca khúc của hai nhạc sĩ Hà Thúc Sinh và Nguyễn Đức Quang.

Không có ly nhỏ, chúng tôi chuyền tay nhau nắp rượu rồi người hát, kẻ đàn. Chúng tôi bồng bềnh trôi theo ḍng nhạc Hà Thúc Sinh “Thà chết trên biển Đông,” “Nếu tôi c̣n sống mà trở về,” “Đêm Việt Nam”à mà ḷng rực lửa.

Chúng tôi cùng hát vang “Việt Nam quê hương ngạo nghễ,” “Anh em tôi,” “Hy vọng đă vươn lên,” “Về với mẹ cha”à của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang mà thấy ḷng sục sôi t́nh yêu nước, thương ṇi. Bao nhiêu năm qua, ḍng nhạc này đă tiếp lửa cho nhiều thế hệ, kể cả những thanh niên trong nước hôm nay xuống đường biểu t́nh chống Trung Quốc, nay ḍng nhạc này khiến những người từ bốn phương trời tụ về đây cảm thấy gần gũi, thân thiết như anh em một nhà.

 

Galang 3, “Thành phố buồn” buồn hơn cả nỗi buồn

Nghĩa trang thuyền nhân tại Galang được gọi là Galang 3.

Thường người ta gọi nghĩa trang là “thành phố buồn.” Thế nhưng, h́nh như “thành phố buồn” này buồn hơn cả nỗi buồn mà loài người đă biết!

“Thành phố” này có 503 “ngôi nhà” mà hầu hết bị xiêu vẹo, đổ nát hay nếu có lành lặn th́ cũng bị rong rêu phủ đầy. Tôi có cảm tưởng như người thân của những người nằm xuống tại đây đă quên họ rồi.

Có những ngôi mộ của người già, trung niên, thanh niên và cả trẻ con, có em bé chưa được một ngày tuổi. Tôi nhẩm đếm những ngôi mộ trẻ thơ này và chợt nghĩ nếu thế giới bên kia có lập một nhà trẻ th́ chắc đông đúc lắm. Những em bé mặt mũi tèm lem cùng chơi đùa với gió và cát, v́ tôi chẳng thấy một món đồ chơi nào trên nấm mộ của các em cả, cho dù đă cũ kỹ, rách nát.

Tôi không biết cha mẹ của các em có trở lại đây dù chỉ một lần để thăm lại đứa con xấu số của ḿnh không. Nếu có th́ chắc các em mừng lắm, c̣n nếu không, tôi chắc rằng những Thiên Thần bé nhỏ đó sẽ chẳng bao giờ biết giận, biết hờn.

Một ngôi mộ có cây thánh giá trên mặt bị sụp đất, tấm bia ngôi mộ khác có chữ Vạn nhà Phật nằm xiêu vẹo. Không biết Chúa có giận, Phật có buồn hay không?

Số phận nào cay nghiệt hơn?

Những người đến Singapore thường chuyền miệng nhau câu nói “Singapore is the FINE country.” Có thể hiểu đây là một đất nước tuyệt đẹp, nhưng cũng có thể hiểu đây là một đất nước phạt vạ.

Xả rác, nhổ bậy, hút thuốc nơi công cộngà đều có thể bị phạt. Nhờ đó, những đường phố chính ở Singapore đều sạch sẽ. Tuy nhiên, khách sạn 81 đường Geylang, nơi đoàn chúng tôi ở cách xa khu trung tâm nên h́nh như những điều cấm này ít phát huy tác dụng.

Đi dạo nơi này giống như lạc vào Chợ Lớn. Cửa hàng san sát, lối đi chật hẹp, hàng hóa bày tràn ra lề đường.

Nếu quư vị là người thích hút thuốc, khi ghé một quán ăn hay quán nước nào đó th́ nhớ hỏi chủ quán bàn nào được hút thuốc. Cũng trong quán, dù bày bàn ngoài trời, chớ có ngồi vào bàn có dán h́nh điếu thuốc gạch ngang, mà ph́ phèo điếu thuốc. Chủ quán sẽ chỉ cho quư vị một bàn, cạnh đó thôi, không có tấm bảng cấm. Ở đó, quư vị có thể ăn nhậu và ph́ phà khói qua bàn bên cạnh!

Buổi tối ở đây nhộn nhịp lắm, có một khu bán đĩa sex và đánh bài suốt đêm ngoài đường. Nơi đó, tôi đă gặp một vài anh chàng Việt Nam, nói giọng Bắc đặc sệt. Cảnh sát chắc cũng chán cảnh bắt rồi thả nên cứ bỏ mặc, khi nào có đánh nhau, mà đánh nhau xong họ mới xuất hiện làm biên bản.

Tại cửa một quán bar, tôi thấy 3 tờ giấy học tṛ ghi bằng tiếng Việt, đại khái như thế này:

“Con gái Việt Nam không được mang nước vào quán, nếu không tuân sẽ bị phạt S$10”

“Con gái Việt Nam không được đứng ngoài quán đón khách.”

“Con gái Việt Nam không được đánh nhau, nếu đánh nhau sẽ bị đuổi.”

Nội dung ba tờ giấy đó phần nào nói lên được thực trạng những cô gái Việt Nam qua đây làm việc như thế nào.

Anh bạn người địa phương cho biết con gái Việt qua đây “làm việc” như thế này nhiều lắm. Ma cũ bắt nạt ma mới, nên đánh nhau tranh giành khách là chyuện thường. Một số cô qua đây tính chỉ làm tiếp viên thôi chứ không “đi khách,” thế nhưng, vài tháng sau cũng buộc phải thay đổi cách “làm việc.” Thứ nhất là “ế độ,” không được khách mời, trong khi đó tiền sinh hoạt nơi đây khá đắt đỏ th́ làm ǵ để sống nếu không dùng “vốn tự có?” Thứ hai, gặp khách xộp vung tiền th́ sau hai ba lần từ chối rồi cũng ngă ḷng.

Những cô gái Việt Nam “ăn sương” trên đất Singapore ngày nay và những thuyền nhân nằm lại trên đảo Galang, số phận nào cay nghiệt hơn? (V.Đ.T.)