Trong lịch tŕnh chặng 1 -
Malaysia - của chuyến đi Về
Bến Tự Do 8, do Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam
(VKTNVN) tổ chức vào cuối
tháng 3 vừa qua, tôi luôn
được nghe các anh trong ban
tổ chức nhắc đến tên ông
Alcoh Wong Yahao.
Họ
nhắc đến ông với tất cả sự
kính trọng v́ những việc ông
đă làm cho thuyền nhân Việt
Nam tại Malaysia.
Alcoh Wong là một công
chức tiểu bang Terengganu,
đồng thời là một sử gia. Khi
trại Bidong mở cửa năm 1978,
ông làm thiện nguyện viên
cho Hội Hồng Nguyệt Mă Lai
(MRCS) lo về người tị nạn,
đặc biệt lo cho thuyền nhân
Việt Nam.
Khi các trại tị nạn bị
đóng cửa theo chính sách
Hành Động Toàn Diện (CPA)
của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp
Quốc, ông tiếp tục làm việc
với cương vị là nhà nghiên
cứu về tị nạn Việt Nam cho
đến khi qua đời, vào tháng
8, 2006.
Suốt thời gian đó, ông đi
từ Bắc chí Nam Malaysia t́m
kiếm và thu nhận những xác
thuyền nhân người Việt vô
thừa nhận về mai táng trong
những nghĩa trang tập thể.
Nhờ là người Malaysia gốc
Hoa, lại có chân trong các
bang hội tương tế, nên ông
có điều kiện thuận tiện xin
đất nghĩa trang mai táng
thuyền nhân. Ngoài ra, ông
c̣n can thiệp với các chính
quyền địa phương để được
nhận xác thuyền nhân chết
tại bệnh viện về mai táng
trong nghĩa trang thuyền
nhân. Tất cả chi phí hoạt
động của ông được hội người
Hoa tại Malaysia tài trợ và
tiền túi của ông.
Trước khi qua đời, ông
cũng kịp hoàn thành tác phẩm
gởi tặng thân nhân những
thuyền nhân đă khuất và được
chôn cất tại Malaysia, đó là
cuốn “The Guidebook of the
graveyards of the Vietnamese
Boat People (VBP) along the
East Coast of Malaysia
Peninsula.”
Ngoài một số tài liệu và
h́nh ảnh về thuyền nhân Việt
Nam, nội dung chính cuốn
sách bao gồm trên 750 tên
thuyền nhân đă chết, địa
điểm chôn cất tại nhiều
nghĩa trang dọc theo bờ biển
phía Đông Malaysia.
Anh Lưu Dân, phó đoàn,
cho rằng đây là cố gắng rất
lớn của một cá nhân trong
việc hệ thống đầy đủ danh
sách những thuyền nhân đă
chết tại Malaysia.
Anh chia sẻ: “Điểm đặc
biệt của ông Wong là dù
không liên hệ ǵ với người
Việt những ông luôn giúp đỡ
họ tận t́nh. Có khi nửa đêm
biết tin thuyền tị nạn bị
đắm, xác trôi dạt vào bờ là
ông tức tốc đi liền, t́m mọi
cách mai táng họ và thiết
lập hồ sơ để sau này thân
nhân người chết có thể t́m
được.”
“Một trong những di sản
ông để lại là công tŕnh
trùng tu ba nghĩa trang A,
B, và C Terengganu, nơi chôn
cất hơn 1,000 người kể cả
một số nấm mộ tập thể. Mỗi
lần có nhóm cựu tị nạn về
đây, ông đều xin nghỉ phép
để hướng dẫn đoàn đi thăm
viếng,” anh nói tiếp.
Đoàn chúng tôi đă hân
hạnh được gặp bà Alcoh Wong
Yahao, hôm chúng tôi ghé
thăm khu A nghĩa trang
Terengganu (29 tháng 3). Bà
cho biết đang ở Kuala
Lumpur, nhưng thấy sốt ruột
quá nên về liền, về đến nơi
th́ biết có đoàn chúng tôi
hiện ở đây nên đến thăm. Tại
đây, bà đă trao cho VKTNVN
1,000 cuốn sách nêu trên nhờ
phổ biến để làm tṛn trách
nhiệm của bà đối với ư
nguyện của người chồng quá
cố. Từ hôm đó đến ngày chúng
tôi rời Malaysia, bà Wong
luôn có mặt hướng dẫn đoàn,
việc mà trước đây ông Wong
luôn làm như thế.
Ông bà Alcoh Wong Yahao
và những vị ân nhân khác
trên đất nước Malaysia đă
xóa bỏ h́nh ảnh xấu xa trong
tôi khi nghĩ về đất nước
này, nơi chính quyền đă từng
nhẫn tâm đẩy ngược hàng trăm
chiếc thuyền tị nạn ra biển.
Chính hành động này của
chính quyền Malaysia đă
khiến nhiều nấm mồ không tên
nữa mọc lên trên chính đất
nước họ và trôi dạt đến tận
Indonesia.
Những mẩu chuyện dọc
đường
(Lưu Dân, trích từ Kỷ
Yếu Về Bến Tự Do Bidong ố
Galang 2005 ố VKTNVN)
Tôi cũng không thể
nào quên được ông Wong, một
nhà nghiên cứu về lịch sử di
dân Malaysia được nhớ ơn như
một đại ân nhân của thuyền
nhân tị nạn Việt Nam. Lần
này, ông cũng quanh quẩn bên
đoàn, đưa chúng tôi đến
những ngôi mộ tập thể mới
phát hiện ở các tiểu bang
miền Bắc Malaysia mà vài
chục năm qua không người
trông nom thăm viếng nhang
khói.
Động cơ nào đă thúc
đẩy ông kiên tŕ t́m kiếm,
lập danh sách, xây bia mộ,
làm trang web, trả lời từng
lá thư hỏi thăm cho các cựu
thuyền nhân Việt Nam muốn
t́m dấu tích các thân nhân
bất hạnh của họ?
Một điều tôi biết
chắc chắn: Ông làm việc đó
không phải v́ quyền lợi vật
chất hay danh vọng. Một
quăng thời gian lớn trong
đời ông âm thầm làm việc này
có ai biết đến? Sự hy sinh
và mất mát cá nhân của ông
lớn hơn gấp vạn lần những ǵ
mà bất cứ ai trong chúng ta
có thể đền bù. Và nay, ông
trao lại tất cả gia tài tinh
thần vô giá đó cho VKTNVN mà
không ràng buộc một điều
kiện nào...
C̣n phải kể đến ông
Yusof, Giám Đốc Viện Bảo
Tàng Terengganu lớn nhất
Đông Nam Á. Trong hơn 20 năm
trời, ông đă chắt chiu từng
h́nh ảnh, tài liệu, di vật
của bao lớp thuyền nhân như
một kỷ niệm thân thương
trong cuộc đời ḿnh. Ông là
người chứng kiến từ đầu các
đợt thuyền nhân Việt Nam đến
Bidong và cũng là người cuối
cùng thực hiện công tác thu
thập di sản của cuộc vượt
biển t́m tự do vĩ đại đó để
lưu trữ trong văn khố quốc
gia Malaysia, lúc nhà chức
trách địa phương thực hiện
cuộc “hỏa thiêu” tổng vệ
sinh trước khi trại đóng
cửa.
Trong nhiều năm sau
đó, ông đă vẫn động chính
phủ công nhận Bidong là một
di tích lịch sử, một địa
điểm cần được bảo tŕ như
biểu tượng của khát vọng tự
do cho mọi cộng đồng trên
toàn thế giới. Có nhiều lúc,
cuộc vận động của ông bị
ch́m trong quên lăng giữa
những nhu cầu thiết thân hơn
của Malaysia nhưng nay,
tiếng gào tưởng chừng như
tuyệt vọng đó đă bật lên một
âm thanh hy vọng với những
bước chân trở về của các
đoàn cựu thuyền nhân. Sau
hơn nửa đời người làm việc
trong công tác bảo tàng, ông
kể bằng một giọng bùi ngùi
về “di sản Bidong” như một
đứa con nghèo khó mà rất
thủy chung.
Và c̣n ông Fadli nữa,
một nhà báo tận tụy với nghề
nghiệp và hănh diện với
lương tri làm người. V́ lư
do dù không ai nói nhưng mọi
người đều hiểu, ông mất việc
sau khi công bố trên mạng
Internet những tấm h́nh bia
tưởng niệm ở Galang bị đục
bỏ hồi tháng 5, 2005, chỉ 2
tháng sau khi phái đoàn
người Việt hải ngoại trở lại
viếng thăm ḥn đảo tị nạn
này lần đầu tiên. Nếu không
có những lời báo tin khẩn
cấp đó, cả 3 triệu người
Việt ở hải ngoại liệu có
biết về sự kiện âm thầm trên
ḥn đảo vắng vẻ này không?
Ông cười măn nguyện
khi gặp lại chúng tôi: “Có
lẽ những linh hồn trên đảo
Galang đă xui khiến tôi trở
lại đúng lúc tấm bia bị đập
bỏ. Tôi có một cảm giác rất
khó tả sau khi tháp tùng các
bạn đến thăm đảo lần đầu và
thầm nguyện với ḷng phải
viết thêm về hoàn cảnh bi
đát của những người nằm
xuống ở đây. Tiếng gọi từ
cơi vô h́nh đă kéo tôi trở
lại đúng vào thời điểm đó.
Bây giờ gặp lại các bạn tôi
mừng lắm!”