Chuyện bên lề trong chuyến Về Bến Tự Do 8: Alcoh Wong Yahao, đại ân nhân trên đất Malaysia

(04/16/2010)

 

Trong lịch tŕnh chặng 1 - Malaysia - của chuyến đi Về Bến Tự Do 8, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) tổ chức vào cuối tháng 3 vừa qua, tôi luôn được nghe các anh trong ban tổ chức nhắc đến tên ông Alcoh Wong Yahao.

Họ nhắc đến ông với tất cả sự kính trọng v́ những việc ông đă làm cho thuyền nhân Việt Nam tại Malaysia.

Alcoh Wong là một công chức tiểu bang Terengganu, đồng thời là một sử gia. Khi trại Bidong mở cửa năm 1978, ông làm thiện nguyện viên cho Hội Hồng Nguyệt Mă Lai (MRCS) lo về người tị nạn, đặc biệt lo cho thuyền nhân Việt Nam.

Khi các trại tị nạn bị đóng cửa theo chính sách Hành Động Toàn Diện (CPA) của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, ông tiếp tục làm việc với cương vị là nhà nghiên cứu về tị nạn Việt Nam cho đến khi qua đời, vào tháng 8, 2006.

Suốt thời gian đó, ông đi từ Bắc chí Nam Malaysia t́m kiếm và thu nhận những xác thuyền nhân người Việt vô thừa nhận về mai táng trong những nghĩa trang tập thể. Nhờ là người Malaysia gốc Hoa, lại có chân trong các bang hội tương tế, nên ông có điều kiện thuận tiện xin đất nghĩa trang mai táng thuyền nhân. Ngoài ra, ông c̣n can thiệp với các chính quyền địa phương để được nhận xác thuyền nhân chết tại bệnh viện về mai táng trong nghĩa trang thuyền nhân. Tất cả chi phí hoạt động của ông được hội người Hoa tại Malaysia tài trợ và tiền túi của ông.

Trước khi qua đời, ông cũng kịp hoàn thành tác phẩm gởi tặng thân nhân những thuyền nhân đă khuất và được chôn cất tại Malaysia, đó là cuốn “The Guidebook of the graveyards of the Vietnamese Boat People (VBP) along the East Coast of Malaysia Peninsula.”

Ngoài một số tài liệu và h́nh ảnh về thuyền nhân Việt Nam, nội dung chính cuốn sách bao gồm trên 750 tên thuyền nhân đă chết, địa điểm chôn cất tại nhiều nghĩa trang dọc theo bờ biển phía Đông Malaysia.

Anh Lưu Dân, phó đoàn, cho rằng đây là cố gắng rất lớn của một cá nhân trong việc hệ thống đầy đủ danh sách những thuyền nhân đă chết tại Malaysia.

Anh chia sẻ: “Điểm đặc biệt của ông Wong là dù không liên hệ ǵ với người Việt những ông luôn giúp đỡ họ tận t́nh. Có khi nửa đêm biết tin thuyền tị nạn bị đắm, xác trôi dạt vào bờ là ông tức tốc đi liền, t́m mọi cách mai táng họ và thiết lập hồ sơ để sau này thân nhân người chết có thể t́m được.”

“Một trong những di sản ông để lại là công tŕnh trùng tu ba nghĩa trang A, B, và C Terengganu, nơi chôn cất hơn 1,000 người kể cả một số nấm mộ tập thể. Mỗi lần có nhóm cựu tị nạn về đây, ông đều xin nghỉ phép để hướng dẫn đoàn đi thăm viếng,” anh nói tiếp.

Đoàn chúng tôi đă hân hạnh được gặp bà Alcoh Wong Yahao, hôm chúng tôi ghé thăm khu A nghĩa trang Terengganu (29 tháng 3). Bà cho biết đang ở Kuala Lumpur, nhưng thấy sốt ruột quá nên về liền, về đến nơi th́ biết có đoàn chúng tôi hiện ở đây nên đến thăm. Tại đây, bà đă trao cho VKTNVN 1,000 cuốn sách nêu trên nhờ phổ biến để làm tṛn trách nhiệm của bà đối với ư nguyện của người chồng quá cố. Từ hôm đó đến ngày chúng tôi rời Malaysia, bà Wong luôn có mặt hướng dẫn đoàn, việc mà trước đây ông Wong luôn làm như thế.

Ông bà Alcoh Wong Yahao và những vị ân nhân khác trên đất nước Malaysia đă xóa bỏ h́nh ảnh xấu xa trong tôi khi nghĩ về đất nước này, nơi chính quyền đă từng nhẫn tâm đẩy ngược hàng trăm chiếc thuyền tị nạn ra biển. Chính hành động này của chính quyền Malaysia đă khiến nhiều nấm mồ không tên nữa mọc lên trên chính đất nước họ và trôi dạt đến tận Indonesia.

 

 

Những mẩu chuyện dọc đường

(Lưu Dân, trích từ Kỷ Yếu Về Bến Tự Do Bidong ố Galang 2005 ố VKTNVN)

Tôi cũng không thể nào quên được ông Wong, một nhà nghiên cứu về lịch sử di dân Malaysia được nhớ ơn như một đại ân nhân của thuyền nhân tị nạn Việt Nam. Lần này, ông cũng quanh quẩn bên đoàn, đưa chúng tôi đến những ngôi mộ tập thể mới phát hiện ở các tiểu bang miền Bắc Malaysia mà vài chục năm qua không người trông nom thăm viếng nhang khói.

Động cơ nào đă thúc đẩy ông kiên tŕ t́m kiếm, lập danh sách, xây bia mộ, làm trang web, trả lời từng lá thư hỏi thăm cho các cựu thuyền nhân Việt Nam muốn t́m dấu tích các thân nhân bất hạnh của họ?

Một điều tôi biết chắc chắn: Ông làm việc đó không phải v́ quyền lợi vật chất hay danh vọng. Một quăng thời gian lớn trong đời ông âm thầm làm việc này có ai biết đến? Sự hy sinh và mất mát cá nhân của ông lớn hơn gấp vạn lần những ǵ mà bất cứ ai trong chúng ta có thể đền bù. Và nay, ông trao lại tất cả gia tài tinh thần vô giá đó cho VKTNVN mà không ràng buộc một điều kiện nào...

C̣n phải kể đến ông Yusof, Giám Đốc Viện Bảo Tàng Terengganu lớn nhất Đông Nam Á. Trong hơn 20 năm trời, ông đă chắt chiu từng h́nh ảnh, tài liệu, di vật của bao lớp thuyền nhân như một kỷ niệm thân thương trong cuộc đời ḿnh. Ông là người chứng kiến từ đầu các đợt thuyền nhân Việt Nam đến Bidong và cũng là người cuối cùng thực hiện công tác thu thập di sản của cuộc vượt biển t́m tự do vĩ đại đó để lưu trữ trong văn khố quốc gia Malaysia, lúc nhà chức trách địa phương thực hiện cuộc “hỏa thiêu” tổng vệ sinh trước khi trại đóng cửa.

Trong nhiều năm sau đó, ông đă vẫn động chính phủ công nhận Bidong là một di tích lịch sử, một địa điểm cần được bảo tŕ như biểu tượng của khát vọng tự do cho mọi cộng đồng trên toàn thế giới. Có nhiều lúc, cuộc vận động của ông bị ch́m trong quên lăng giữa những nhu cầu thiết thân hơn của Malaysia nhưng nay, tiếng gào tưởng chừng như tuyệt vọng đó đă bật lên một âm thanh hy vọng với những bước chân trở về của các đoàn cựu thuyền nhân. Sau hơn nửa đời người làm việc trong công tác bảo tàng, ông kể bằng một giọng bùi ngùi về “di sản Bidong” như một đứa con nghèo khó mà rất thủy chung.

Và c̣n ông Fadli nữa, một nhà báo tận tụy với nghề nghiệp và hănh diện với lương tri làm người. V́ lư do dù không ai nói nhưng mọi người đều hiểu, ông mất việc sau khi công bố trên mạng Internet những tấm h́nh bia tưởng niệm ở Galang bị đục bỏ hồi tháng 5, 2005, chỉ 2 tháng sau khi phái đoàn người Việt hải ngoại trở lại viếng thăm ḥn đảo tị nạn này lần đầu tiên. Nếu không có những lời báo tin khẩn cấp đó, cả 3 triệu người Việt ở hải ngoại liệu có biết về sự kiện âm thầm trên ḥn đảo vắng vẻ này không?

Ông cười măn nguyện khi gặp lại chúng tôi: “Có lẽ những linh hồn trên đảo Galang đă xui khiến tôi trở lại đúng lúc tấm bia bị đập bỏ. Tôi có một cảm giác rất khó tả sau khi tháp tùng các bạn đến thăm đảo lần đầu và thầm nguyện với ḷng phải viết thêm về hoàn cảnh bi đát của những người nằm xuống ở đây. Tiếng gọi từ cơi vô h́nh đă kéo tôi trở lại đúng vào thời điểm đó. Bây giờ gặp lại các bạn tôi mừng lắm!”