-
Ngọc Lan/Người Việt
AIR RAYA, INDONESIA (NV) - Hành tŕnh
“Về Bến Tự Do” bước sang ngày thứ năm với b́nh minh trên
một xóm nhà sàn ở Letung trong lành, thanh tịnh và kết
thúc bằng một buổi “nhảy múa dân tộc” rất đặc biệt của
dân địa phương nhân dịp cúng lễ thanh minh của họ, và
cũng là để tặng riêng cho đoàn thuyền nhân.
Sau khi ăn sáng bằng cháo và bánh nếp
nướng, một thứ bánh gói có nhân như chà bông, ngoài bọc lá
chuối và nướng trên lửa than, đoàn thuyền nhân lại kéo nhau
xuống tàu, một chiếc tàu “rất giống kiểu tàu vượt biên” để
đến đảo Air Raya, cũng từng là nơi dung chứa những người
vượt biên xưa. Có điều, chuyến đi này có thêm sự tháp tùng
của vợ chồng “trưởng đảo” và đại diện của công ty du lịch
Terempa.

Một tảng đá bị vêu ṃn đặt trước
phần mộ được nhận diện bằng những nắm đá nhỏ,
có ḍng chữ “Jos Ng. C. Toàn 61-79.” (H́nh: Ngọc Lan/Người
Việt)
Đảo Air Raya, “y như ngày đầu
mới đặt chân đến”
Trời không chút gió và nắng như đổ lửa.
Hầu hết những người đàn ông đều leo lên mui tàu phơi cho đen
da cháy tóc, c̣n lại phụ nữ ngồi trong khoang, và quạt liên
tục. Chị Nguyệt Hương, ở Canada, kể, “Hồi đó đi vượt biên cũng
đi tàu vậy nè. Có điều trong khoang này là dành cho gia đ́nh
chủ tàu, c̣n tụi ḿnh th́ phải nằm dưới ḷng tàu. Cứ hai
người nằm đâu đầu nhau và liền liền nhau như vậy.”
Chiếc tàu đang chở khoảng hơn 25 người,
nhưng những tàu vượt biên thường chở số người đông hơn
nhiều, như khoảng 40, 50 người trên con tàu hồi đó chị
Nguyệt Hương đi, và trên cả trăm người trên chuyến tàu của
anh Quốc, một thuyền nhân hiện đang ở Úc.
Đến đảo Air Raya, tàu không vào băi tận
nơi như những lần trước mà đậu ngoài xa. Một chiếc xuồng
được bỏ xuống, cứ năm người lần lượt xuống thuyền chèo vào
bờ. Đứng từ trong bờ nh́n ra, cô Hương Lê cứ xuưt xoa, “Y
chang cảnh hồi xưa. Lúc đến cũng y như vậy. Trên tàu mọi
người đứng lố nhố, rồi nhảy xuống bơi vào bờ, trong bờ cũng
đứng nh́n ra chờ xem có người thân, người quen ǵ không.”
Giữa biển bao la, nh́n những người c̣n
đang đứng ngồi trên tàu, háo hức chờ vào bờ, có thể “giống y
chang” cảnh ngày xưa đó, nhưng lại khác nhiều lắm ở thân
phận của kẻ ra đi và người trở lại.

Chuẩn bị xuống xuồng chèo vào đảo
Air Raya. “Y chang cảnh hồi xưa. Lúc đến cũng y như vậy.
Trên tàu mọi người đứng lố nhố, rồi nhảy xuống bơi vào bờ, |
trong bờ cũng đứng nh́n ra chờ xem có người thân, người quen
ǵ không.” (H́nh: Ngọc Lan/Người Việt)
Đứng nh́n khu trại tị nạn năm nào, giờ
cũng là mênh mông cỏ dại và ít hàng dừa, cô Hương, một trong
những cư dân đầu tiên của Air Raya, bồi hồi, “Ngày mới đến,
nơi đây cũng y chang vậy nè, cũng toàn là rừng và cỏ. Rồi
mới bắt đầu chặt cây, tưới lá dừa đan lại làm mái nhà, sống
lá kết lại làm giường. Vậy mà cũng ngủ được. Vậy mà cũng
xong.”
Chú Duật, chồng cô Hương, kể chi tiết
hơn, “Hồi đó lúc mới đến, tàu tụi tui cặp vào đảo khác.
Nhưng bên đó chật quá, đông quá nên họ mới chở đi t́m một
đảo nào xem coi có thể dời sang bớt không. Cuối cùng chúng
tôi chọn ở đây.”
Cũng như những trại tị nạn khác, chỉ ít
tháng sau khi có sự hiện diện của người vượt biên, những khu
đảo vắng rừng hoang lại biến thành vùng đất đông đúc, có
nhiều sinh hoạt mua bán để duy tŕ cuộc sống chờ ngày được
phỏng vấn đến nước thứ ba.
Cô Hương Lê cứ hỏi chồng, “Chỗ nhà ḿnh
đâu anh?”
“Phía đằng này, nhưng không chắc chính
xác là chỗ nào,” chú Duật trả lời vợ.
Cô quay sang nói với tôi, “Cô nhớ phía
trước nhà cô có hai cây dừa và cây sầu riêng, có con khỉ cứ
nhảy lên nhảy xuống ở đó. Bây giờ chỗ này có hai cây dừa
thôi, không có cây sầu riêng.”
Tôi theo chân cô đi t́m những ǵ c̣n
sót lại của ngày xưa. Chẳng c̣n ǵ. Người tị nạn đi hết. Xóm
đảo lại trở về như thời ban sơ.
Khi đoàn người đă lên bờ hết bằng
xuồng, trong lúc nhiều người đứng xem dân địa phương trèo
dừa, hái dừa để chặt cho mọi người uống, th́ nơi một góc bờ,
anh Vinh, ở Arizona, lặng lẽ bày biện đồ cúng.

Đoàn thuyền nhân năm xưa trở về
trại tị nạn Air Raya cúng tạ ơn trời đất, những người đă cưu
mang ḿnh,
và cũng để viếng linh hồn người đă khuất trên chuyến hải
hành. (H́nh: Ngọc Lan/Người Việt)
Ngay từ ngày đầu đặt chân trở lại đảo
Tanjung Penang ở Indonesia, anh Vinh, cô Hương Lê cùng mọi
người trong nhóm đă quyết định sẽ tổ chức một lễ cúng nhỏ
nhằm cám ơn nơi đă cưu mang ḿnh, cũng là để tưởng niệm
những người đă mất trên những chuyến hải hành t́m chốn dung
thân.
Để có được mâm đồ cúng chỉnh chu, có đủ
gà luộc, trái cây, trà, rượu, nhang đèn, anh Vinh đă phải
khá tất bật trong việc chạy nhờ những người dân địa phương ở
Letung t́m mua cho đủ mọi thứ.
Bằng cặp mắt và gương mặt đầy tâm sự,
anh Vinh chia sẻ, “Đă nói là phải thực hiện. Ḿnh phải biết
thể hiện ḷng biết ơn. Biết ơn trời đất, con người đă cưu
mang ḿnh. Không có họ th́ giờ này ḿnh đâu được thế này.
Tôi mong đợi chuyến đi này biết bao lâu rồi. Tôi không thể
nào quên được thời gian sống ở đây.”
Anh đang xúc động mạnh, hai tay nổi đầy
gai. Anh lặng im nh́n những thứ đang bày ra trước mặt. Kư ức
hơn 30 năm trước có đang hiện lên trong đó?
Cả đoàn người đứng tụ lại trước mâm
cúng. Những bó nhang được thắp lên và chuyền cho nhau. Chú
Thái châm thêm 2 điếu thuốc cắm xuống mâm lễ. Chú Trần Đông,
giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân, trưởng đoàn, thành kính hướng
dẫn mọi người cùng cầu nguyện cho những người đă vĩnh viễn
gửi thân nơi biển cả hay các trại tị nạn.
Sự thành kính và đau thương hiện trên
khuôn mặt mỗi người. Có người rơi nước mắt, có người mím
chặt môi. Tôi không dám đưa máy ảnh chụp h́nh ngay lúc đó.
Có những khoảng khắc mà sự im lặng cần được tôn trọng đến
tuyệt đối.
Trong ŕ rào biển cả và rừng sâu, hương
hồn những người đă khuất có lẽ cũng chút ấm ḷng bởi bao năm
rồi, họ vẫn trong tim những người đang sống.
“Không biết phải nói như thế nào cho
hết ḷng biết ơn của chúng tôi đối với người dân Indonesia
nơi đây đă cưu mang, bảo bọc trong những năm tháng chúng tôi
tạm sống ở đây. Chúng tôi luôn ghi nhớ, cám ơn và trân trọng
tất cả nghĩa cử đó của người dân và chính quyền địa phương,”
Anh Vinh thay mặt cả đoàn cám ơn những viên chức địa phương
Letung có mặt.
Nơi nằm lại của những người
trên trại tị nạn Air Raya
Sau khi cúng xong, đoàn người tiến vào
rừng để viếng mộ những người nằm lại. Đường đi không quá dễ
dàng, ẩm và trơn và dốc.
Khoảng 50 nấm mồ được người dân địa
phương t́m thấy trong rừng sâu.
Nếu như “nghĩa trang Thuyền Nhân” ở
Kuku c̣n có ít ỏi bước chân thân nhân đă t́m về để xây lại
mộ phần, th́ ở đây, chưa hề có dấu tích của sự t́m nhau.
Hoang tàn.
Lạnh lẽo.
Thê lương.
Ở đây, một tảng đá bị vêu ṃn đặt trước
phần mộ được nhận diện bằng những nắm đá nhỏ, có ḍng chữ
“Jos Ng. C. Toàn 61-79.”
Đằng kia, một tấm bia không thoát khỏi
sự bào ṃn của thời gian chỉ ghi vỏn vẹn “Phần mộ Vương Tuấn
Minh.”
Trước ngôi mộ đă hoàn toàn bị sụp là
tấm bia c̣n khá nguyên vẹn, chỉ bị sự bao phủ của rong rêu
“Ms. HoangMai Nguyễn - Vietnamese Refugee - Born on 11. 10.
48 - Died on 7. 21. 79 - Boat 3204.”

Vợ chồng cô Hương và chú Duật,
những cư dân đầu tiên của đảo Air Raya đứng trước khu vực
ngày xưa có thể là “nhà của ḿnh.” (H́nh: Ngọc Lan/Người
Việt)
Góc sâu bên trong, lại một ngôi mộ được
dân địa phương t́m thấy. Sau khi dùng nước rửa tấm bia, ḍng
chữ bằng sơn trắng dần hiện ra, “Từ trần Trần T. Mai - Sanh
năm 1955 A6L - Tử 3. 5. 79 - Chồng lập mộ Ng. V. Bảy, V.N”
Ngôi mộ này chỉ c̣n vương lại vài ḥn đá nhỏ.
Góc đằng kia, cạnh hai cây lớn, là một
ngôi mộ được đắp bằng đá nhỏ bên trên có vẻ c̣n kiên cố.
Nhưng cục đá ghi tên người mất lại rất nhạt nḥa. Nghĩ rằng
có thể đọc được, vợ chồng anh Quế Chi và chị Nguyệt Hương cố
gắng lấy nước tưới lên, lấy tay kỳ cọ, chà rửa. Cuối cùng,
những chữ sơn màu vàng phai ố cũng đă đọc được “Trần T. Bằng
- sinh năm 1947 - Mất ngày 29. 9 Kỷ Mùi.”
Tôi cố h́nh dung ra thân phận người nằm
xuống qua những tên, những tuổi và cách đề trên bia mộ. Có
người là vợ, là người thân, có gia đ́nh cùng sống ở đây. Có
người côi cút một ḿnh. Ra đi và nằm xuống, người chung
quanh chỉ biết họ qua mỗi cái tên.
Dẫu sao đó vẫn c̣n là những cái tên có
thể nhận diện nếu ai đó nơi xa xôi có ḷng hướng về những
ruột thịt của ḿnh để t́m kiếm. C̣n lại, phần lớn các ngôi
mộ phải chịu sự tàn phá không thương tiếc của thời gian.
Không thể biết ai là người đă nằm xuống bên dưới những nấm
mồ mà dấu tích c̣n lại chỉ là những nhóm đá nhỏ, những mảnh
bia đă bị bào ṃn gần sát đất.
Tôi cứ đi và chụp.
Chụp lại, tất cả những cái có vẻ như
từng là, hay chính xác là, một ngôi mộ của ai đó.
Cứ đi. Và chụp.
Để làm ǵ?
Chứng tích cho sự có mặt của những
người Việt phải bỏ xứ ra đi?
Chứng tích cho sự ghẻ lạnh của thời
gian, của không gian?
Hay chứng tích cho sự phai nhạt của
ḷng người?
Để làm ǵ. Tôi cũng không biết.
Những bó nhang lại được thắp lên,
chuyền nhau và cắm xuống.
Chúng tôi lại đứng lên, cầu nguyện, cho
người đă khuất.
Dẫu biết rằng phong tục Indonesia không
cho phép chuyện bốc mộ, bởi họ quan niệm cho dù là Phật
giáo, Công Giáo, Tin Lành, hay bất kỳ tín ngưỡng nào, nhưng
khi đă chết trên mảnh đất của người Hồi Giáo th́ họ cũng
được xem là người Hồi Giáo. Người Hồi Giáo không có tục lệ
bốc mộ.
Nhưng, quay về chốn ḿnh từng trải qua
những ngày gian khó, quay về thắp lên một nén nhang cho
người nằm xuống, âu cũng là chuyện nên làm cho trọn vẹn hai
chữ “trước sau.”
Lễ hội dân gian của người địa
phương
Sau buổi đi thăm trại tị nạn Air Raya
trở về, quá trưa, cả đoàn từng người một được “xe ôm” chở ra
biển bởi “đường đang sửa nên không thể đi xe hơi.”
“Xe ôm” ở đây cũng y như “xe ôm” ở Việt
Nam, người khách không ôm người chạy mà ôm chặt, nắm chặt
lấy yên xe để khỏi văng xuống đường. Con đường ngoằn ngoèo
dốc, và cát, và ổ gà cuối cùng dẫn đến một băi biển khá đẹp
c̣n rất hoang sơ.
Thuyền nhân xuống tắm biển, trong khi
một số dân địa phương đi theo chuẩn bị “barbecue” bằng cá
nướng. Rất bất ngờ khi một số khách không mời cũng kéo nhau
dự tiệc cá và dừa. Đó là những chú dê con từ trên núi đánh
hơi chạy xuống!
Được thông báo trước, buổi tối ai cũng
phải mặc quần áo cho lịch sự một chút để tham dự “dance
intraditional” của người địa phương. Một sân khấu dă chiến
như kiểu ở những vùng quê nghèo hay dựng lên khi có quan
chức đến đọc diễn văn, với hàng ghế xếp chữ “U.” Phía ngoài
sợi dây nilong được quấn quanh khu vực ghế ngồi, như một
kiểu ngăn cách với bên ngoài, dân cả xóm đảo già trẻ lớn bé
đàn ông đàn bà trong nhiều kiểu trang phục Âu lẫn Hồi Giáo
kéo ra xem, đông nghịt.
Đoàn người chúng tôi h́nh như cũng là
cái họ muốn xem. Có điều, họ rất thân thiện. Chúng tôi đi,
chào họ bằng câu chào của người Indonesia, họ cười thích
thú, chào lại ngay lập tức.
Hai màn nhảy múa rất lạ lùng của họ,
với những người trong trang phục đen, đeo mặt nạ bằng vải
trắng, tay cầm đèn pin, nhún nhảy, xoay ṿng nhẹ nhàng, và
những người hóa trang thành đủ loại ma quái, h́nh thù, như
kiểu “Halloween.” Tôi không hiểu lắm về ư nghĩa những màn
nhảy múa này, chỉ thấy người dân địa phương bên ngoài cười
như nắc nẻ khi thấy “diễn viên” xuất hiện. Họ chỉ trỏ và
cười và nói và cười. Có lẽ họ nhận ra ai đó là bạn bè hay
người quen, bởi không có một gương mặt nào lộ ra ngoài, chỉ
có những mặt nạ. Tôi th́ chỉ nh́n thấy những bàn chân. Những
bàn chân đất thô kệch, đen đúa, hằn những nét lam lũ, đang
rất uyển chuyển theo điệu nhạc.
Và khi những “con ma” mời đoàn thuyền
nhân ra nhảy múa theo họ th́ tiếng cười của người dân xóm
đảo lại c̣n gịn tan hơn nữa.
Những người trong đoàn, trước đó, người
nhiều người ít, cùng góp chung hơn $300 tặng cho “Trung tâm
thanh thiếu niên” của xóm đảo Letung, như một nghĩa cử thể
hiện ḷng biết ơn những ǵ họ đă dành cho thuyền nhân.
Đêm đă khuya, buổi văn nghệ cũng dứt.
Nhưng dư âm của nó sẽ vẫn c̣n măi, như lời anh Hùng, ở Thụy
Điển, đă tham gia hành tŕnh “Về bến Tự Do” lần thứ 4,
“Chuyến đi này đặc biệt quá. Những điều này chưa từng có
trong những chuyến đi trước.”
|