|
Về Bến Tự Do 8
Cuộc Hành Trình Ý Nghĩa
TVNguyễn

Một năm trước đây, VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN
VIỆT NAM (VKTNVN,
www.vktnvn.com) vẫn còn là một tổ chức mới mẻ đối
với tôi. Qua sự tìm hiểu trên Internet, tôi
đươc̣ biết đây là một tổ chức bất vụ lợi, được
ông Trần Đông sáng lập, một cư dân ở
Melbourne, Úc Châu. Mục đích cuả hội là thu thập các di
tích, tin tức về thuyền nhân từ cuối thập niên 70,
đến đầu thập niên 90, và hồ sơ hóa
những dữ kiện để gửi vào các trung tâm văn khố có tầm cỡ
quốc tê làm di sản cho các thế hệ mai saú. Trong đời, tôi chưa bao giờ
tâm đắc câu nói " hữu duyên thì tự nhiên thành " như lần
này. Chỉ qua một vài
email trao đổi rất đơn giản
với ông sáng lập viên VKTNVN,
cuối tháng 3-2010, vợ chồng tôi đã
có mặt trong phái đoàn "Về Bến Tự Do Lần Thứ 8", trở
về thăm lại các trại tỵ nạn Kuku và Galang, đi hành
hương tảo mộ, và tìm di tích thuyền nhân, do chính ông
Trần Đông hướng dẫn.
Trước khi đi vào chi tiết chuyến đi,
tưởng cũng nên nói sơ qua về địa dư nước Nam Dương và vị
trí cuả các trại tạm cư này. Quần đảo
Anambas với cả ngàn hòn đảo lớn nhỏ, nằm về phía đông
bắc Singapore, đã là địa điểm gần nhất mà các ghe vượt
biển từ miền Nam VN có thể tới được, ngoài Mã Lai và
Thái Lan. Do đó, rải rác khắp vùng đảo này đều
có thể có dấu vết các trại tỵ nạn và
thuyền nhân VN, mà sau hơn một phần tư thế kỷ,
không gì minh chứng hơn là ký ức của "cựu thuyền nhân"
và những nấm mồ hoang tại các nơi này.
Kuku là một bãi
biển về hướng tây trên đảo Jemaja thuộc quần đảo Anambas
Khởi hành từ điểm hẹn là Singapore,
đoàn chúng tôi đã xuống phà để qua Nam Dương, ghé thị
trấn đầu tiên là Tanjung Pinang. Nơi đây, đoàn đã nhập
chung với phái đoàn vừa trở về từ Malaysia, nâng̀ tổng
số thành viên lên đến 24 người. Từ đây, chúng tôi sẽ
chính thức bắt đầu cuộc hành trình đến
quần đảo Anambas, trong đó có “đảo
Kuku” từng là nơi trú chân cuả hàng chục ngàn thuyền
nhân.
Đoàn người chúng tôi là những "cựu
thuyền nhân" đến từ Mỹ, Pháp, Úc, Thụy Điển, Canada.
Ngoài ra còn có sự tham gia cuả một vài
"cựu phi nhân", là thành phần
đã rời VN an toàn bằng máy bay,
vì những lý do khác, nhưng cùng chung điểm hẹn
thì âu cũng là một cái "duyên tao ngộ" vậy. Chúng tôi
dù mới gặp nhau lần đầu, nhưng đã nhanh chóng kết thân
bằng tình đồng hương và đồng hành rất vui vẻ. Thành
viên lớn tuổi nhất đến từ Úc, 71 tuổi, và thành viên
trẻ nhất là 10 tuổi, cũng là cư dân Úc.
Sau một đêm nghỉ chân tại Pinang, chúng
tôi được đưa ra phi trường để bay tới đảo Matak
mất một giờ bay. Từ đây trở đi,
phương tiện di chuyển trong quần đảo hoàn toàn là tầu
tốc hành và ghe máy dầu. Từ sân bay, một chiếc bus đã
vận chuyển chúng tôi và hành lý đến bến tầu
để xuống tầu tốc hành đi Terempa trong hai giờ
đường biển.
Dù biết trước nơi mình sẽ đến, nhưng
từ khi ngồi vào tầu, lòng tôi cũng bắt đầu khác lạ.
Nửa rất hào hứng vì cảnh đẹp hải đảo, nửa như có một
cái gì nghèn nghẹn trong tâm tư. Cũng trời này, biển
này, những hải đảo này, hơn 25 năm trước, tôi đã nhìn
thấy lần đầu tiên với một tâm trạng vô
cùng hoang mang và hoảng sợ
sau những ngày đói
khát lênh đênh trên biển. Tôi phải cố trấn tĩnh
để xua đi cảm giác nặng nề ngày cũ.
Nước mắt tự tuôn rơi… lặng lẽ…
Tầu cứ lướt đi như đẩy tôi trở về
quá khứ. Tôi biết tôi phải sẵn sàng nhìn lại chốn
cũ, rồi thì những cảm nhận sắp tới sẽ chữa lành và
chiến thắng cái ấn tượng đen tối ngày nào vẫn còn để
lại trong tiềm thức của tôi.
Và tầu cặp bến Terempa. Qua gần một
ngày di chuyển bằng máy bay, xe bus và tầu đò, ai cũng
có vẻ thấm mệt, cộng thêm một chút say sóng và cái
nắng chói chang trên đầu, đoàn người cũng bớt phần "tưng
bừng về trong sương gió". Bữa ăn chiều và… cái giường
ngủ là niềm ước mơ sau cùng.
Nói vậy nhưng không phải vậy. Sự mệt
mỏi xin đi chơi chỗ khác. Terempa đây rồi! Cái địa danh
vẫn còn như in trong trí nhớ cuả nhiều thuyền nhânVN.
Đặc biệt đây cũng là nơi đặt bước chân tự do đầu tiên
cuả vài thành viên trong chuyến đi này. Bỏ vội hành
ly,́ mọi người đều túa ra khỏi nhà trọ. Nhóm thì đi
để "trinh sát" hàng quán, nhóm thì cố tìm kiếm vết
tích năm xưa. Những chữ "đây nè", "kia kìa", "hình như",
"có phải" thỉnh thoảng lại thốt lên.
Máy chụp hình và quay phim cũng bắt đầu làm việc… cật
lực dưới những bàn tay không biết mỏi.
Không để phí thời gian, trong khi chờ
bữa chiều, hai ông trưởng đoàn và người "tour guide" Indo
đã hướng dẫn chúng tôi đi thăm một ngôi chùa Phật giáo
rất hiếm hoi trong vùng đảo mà quốc giáo là đạo Hồi.
Mọi người không bỏ lỡ dịp để thắp những nén nhang từ
tấm lòng người Việt xa xứ, cầu siêu thoát cho những vong
hồn đồng hương còn vương vất nơi đây và
cầu xin bình an cho đoàn người "trở về bến cũ".

Ngôi chùa Phật
giáo Nam tông trên đảo Jemaya giữa xứ sở Hồi giáo
Sau bữa ăn tối với toàn đặc sản Indo
nấu với... ớt, bọn chúng tôi lại hăm hở
đi thăm phố phường,
và ghé vào ngồi quán cà phê nhà
sàn trên biển đến tối mịt mới trở về nhà trọ.
Sáng hôm sau, vợ chồng tôi đã dậy rất
sớm và thả bộ quanh đảo, ngắm bình minh trên biển.
Terempa cũng chính là nơi ghe cuả chồng tôi đã cặp
bến 27 năm về trước, nên từ chiều
qua anh rất bồi hồi xúc cảm. Với máy trên tay, chúng
tôi đã chụp và quay lại những hình ảnh trông "quen quen"
cũng như "lạ hoắc" cuả nơi đây, như muốn gom hết quang
cảnh chung quanh, mà tôi biết nó sẽ vô cùng quý gía đối
với chúng tôi sau này.
Bất chợt hai chúng tôi
nhìn thấy một chiếc thuyền thúng trên bãi, mà thuyền
thúng thì chỉ có ở miền Trung Việt Nam. Và kìa, xa bờ
là một chiếc ghe đánh cá mang số "BĐ....", ghe VN! Thì
ra vậy, chiều qua , chúng tôi có nghe loáng thóang là có
ghe đánh cá từ VN bị bắt tại Terempa, có lẽ là chiếc
ghe này đây. Để xác định cho sự võ đoán, lững thững
từ bờ đi lên là một thanh niên gầy guộc, trông cũng rất
Việt Nam. Gần đó là một người lính Indo đang quan sát.
Nhờ người tour guide xin phép, chúng tôi được tiếp xúc
với người thanh niên ấy trong vài phút. Và đúng vậy,
anh ta là đồng bào cuả chúng tôi. Mới vài câu hỏi thăm,
mắt anh ta đã đỏ hoe, tôi cũng không cầm được xúc động.
Tôi xúc động là vì ở một nơi rất xa với VN, một nơi
"hóc bà tó" này đây, vậy mà cũng có bóng dáng người
Việt Nam lưu lạc chốn này, trong thân phận tù đầy. Qua
cuộc nói chuyện ngắn ngủi, tôi được biết chiếc ghe đánh
cá gồm chín người cuả anh đã vi phạm hải phận Nam Dương
và bị bắt giữ đã hơn một tháng nay. Chủ tầu và tài
công cùng năm bạn chài khác bị giam giữ trong tù, họ
chỉ cho phép hai người ở lại giữ ghe và cơm nước cho
nhau ăn. Chính quyền sở tại cũng đã cho họ liên lạc về
gia đình một lần rồi. Còn thì phía "nhà nước ta" vẫn
chưa thấy tăm hơi? Đây mới chính là những "khúc ruột...
rối rắm ngàn dặm" đang hết sức trông đợi sự can thiệp
cuả nhà nước VN. Ruột nào cũng là ruột... thịt cả,
xin hãy nhớ đến họ, thay vì cứ... bám vào “ruột thừa”
để... phá đám? Chúng tôi chỉ biết móc vội
một ít tiền có trong túi gởi tặng
anh và nói lời an ủi.

Ghe đánh
cá VN mang số BĐ...., bị giam giữ tại Terempa
Mười giờ sáng hôm đó, đoàn chúng tôi
xuống tầu đi đến thị xã Letung, thuộc đảo Jemaja. Phải
mất hơn một giờ rưỡi đường biển, tầu cặp bến Letung.
Tại cầu tầu, công ty du lịch trong vùng và chính quyền
địa phương đã dành cho đoàn chúng tôi một sự tiếp đón
rất thân thiện với vòng hoa chào mừng và nhã nhạc dân
tộc vang lừng. Đây là một dấu hiệu tốt cho chúng ta
nếu cộng đồng VN hải ngoại còn mong muốn trở về
chốn xưa với bất kỳ nhu cầu cá nhân hay lợi ích
chung. Ngành du lịch cuả quốc gia này chỉ tập trung bên
vùng biển cực Nam, như Bali, Java, còn phía Đông Bắc hầu
như còn rất hoang sơ, mặc dù phong cảnh cũng rất tuyệt
vời. Khi chính quyền sở tại biết được nhu cầu và mục
đích vô vụ lợi cuả chúng ta, họ sẽ sẵn sàng tạo điều
kiện tốt cho những chuyến hành trình trong tương lai.
Theo lịch trình, đoàn chúng tôi sẽ
đến Kuku trong ngày, và tối sẽ trở lại Letung ngủ đêm,
nên chúng tôi phải tạm từ giã Letung và hướng tầu về
Kuku. Đã phải mất một thời gian khá lâu, VKTNVN mới xác
định được vị trí đích thực cuả trại Kuku, bởi vì
Kuku là tên gọi một bãi biển trên
̉đảo Jemaja, chứ không phải "đảo Kuku" như ta vẫn lầm
tưởng. Trong chuyến trở về tháng Tư, 2009 là chuyến trở
về Kuku lần đầu tiên cuả VKTNVN, và đã tìm được một số
mộ phần thuyền nhân. Lần này, chúng tôi sẽ có dịp
viếng thăm một nghĩa trang thứ hai trên đảo, mà dân địa
phương quanh vùng đã tìm thấy và cho biết.
o0o

Kuku đã
hoàn toàn mất dấu, cầu tầu chỉ còn trơ lại một
cái cọc chơ vơ.
Kuku đã hoàn toàn không còn dấu vết
gì cuả trại tỵ nạn năm xưa!
Cây to và cỏ lau, sậy mọc kín ra đến
bờ nước, cầu tầu cũng mất dấu, còn trơ lại đúng một
chiếc cọc!
Được biết sau khi trại
chính thức đóng cửa vào khoảng đầu những năm 90,
chính quyền Indo đã tổng vệ sinh bằng cách cho đốt sạch
các vết tích còn lại tại nơi đây.
Từ trên tầu nhẩy xuống bãi, tôi định
vị trí để tìm cái "lăng bác", nơi bãi đá bên tay phải
với những tảng đá chồng lên nhau rất đẹp, là nơi dành
làm “cầu tiêu”
trên đảo. Tôi vẫn ước muốn tìm lại cái tảng đá lớn
thoai thoải trên đường tới "lăng" mà tôi đã
thường hay ngồi một mình, nhìn ra biển rộng mà lòng
buồn mênh mang vì biết rằng từ đây,
mình đã thật sự xa quê hương. Dù
lòng thương nhớ quê hương vẫn đầy ắp theo tháng năm,
nhưng đã 26 năm qua, tôi vẫn không thấy một sự thôi thúc
trở về Việt Nam? Còn gì nữa? Vui
gì đây? Ích lợi cho ai? Xin hẹn một
ngày trở lại, ngày "Việt Nam Tự Do".
Sau những phút ngỡ ngàng, chúng tôi
theo chân trưởng đoàn và tour guide người Indo băng rừng
vào khu nghĩa trang. Bàn chân nối tiếp bàn chân đạp lên
cỏ sậy, tay vẹt cây rừng mà đi. Vừa leo cầu
"khỉ" vừa ca bài "ai đang đi, trên cầu... cây, té xuống
đây ướt cái quần jean tây..." Ướt thì lại lóp ngóp bò
lên đi tiếp! Vượt qua một đoạn dốc
cao và trơn trượt, chúng tôi đã đến
nơi.
Ôi tang thương! Ôi hiu hắt!

Mộ
bia mà tên tuổi đã gần như phai mờ theo thời gian
Mộ phần cái còn, cái xụp lở, cái
gần như mất dấu, nằm rải rác quanh một cuộc đất cao,
bao bọc bởi những cây cao ngất cuả rừng rậm. Lòng mọi
người như chùng xuống, xót xa. Những dòng
nước mắt thương cảm lặng lẽ rơi.
Cũng giữa núi rừng này, hơn hai mươi năm trước, bao nhiêu
nước mắt Việt Nam đã nhỏ xuống?
Nhang, tiền vàng bạc
được đốt lên, chúng tôi
chung lời cầu nguyện siêu thoát cho
những người xấu số. Chút khói hương và những tấm lòng
Việt Nam đã đến nơi đây, xin chia xẻ tấm tình đồng hương
cho những người bạn đồng hành đã vĩnh viễn nằm lại
tại hoang đảo này. Cái giá đắt nhất cuả Tự Do là đây,
những sinh mạng mà đồng bào tôi đã trả.
Lần theo một lối khác, chúng tôi đến
một khu nghĩa địa thứ hai. Khu này cũng không khác gì
hơn. Một ít bia mộ còn rõ nét chữ Tầu, năm chết đa số
là 79- 80. Đó là thời điểm cơ cực
nhất cuả người tỵ nạn trên những đảo hoang này. Nhân
số trên đảo đã có lúc lên đến mười
ngàn người, nên số tử vong vì sốt rét và dic̣h tả rất
cao. Ông trưởng đoàn đã cẩn thận chụp lại đầy đủ hiǹh
ảnh cuả nghĩa trang để sẽ trở thành tài liệu trong
VKTNVN. Sau đó, những bó nhang được đốt và chia ra để
chúng tôi đi cắm trên từng nấm mộ, an ủi những linh hồn
bị bỏ quên đã lâu.
Chúng tôi rời Kuku khi mặt trời bắt
đầu chếch bóng.
Trên đường về, để làm lắng nỗi xúc
động, tầu đã cặp vào bãi Kuku 2 để chúng tôi tắm...
thử nước biển xứ Nam Dương. Bãi biển thật đẹp và trong
lành làm sao. Nước xanh biếc, đổi mầu từ đậm đến
turquoise, dải cát vàng mịn màng
chạy viền theo hàng dừa xanh, đong đưa trong nắng chiều.
Thiên nhiên ơi, sao vẫn vô tình và ngạo nghễ?
Nếu nước kia, trời kia, núi kia biết nói, hỏi chăng có
còn nhớ những dấu chân người Việt nam đã từng lưu lạc
chốn này? Hôm nay đây, cũng những bước chân ngày cũ, xin
một lần trở lại để gởi lời biết ơn đến đất trời xứ
người, đã dung chứa từng đoàn người lưu vong chúng tôi
ngày ấy, và là nơi gởi nắm xương tàn của hàng ngàn
đồng bào tôi đến mãi ngàn sau.
Buổi tối trước hiên nhà
trọ trên làng chài Letung, họp mặt
quây quần với các bạn đồng hành, tôi cất tiếng
hát bài Làng Tôi trong nỗi nghẹn
ngào hơn bao giờ hết...
Chương trình ngày thứ 5 cuả chuyến đi
là sẽ đến hai địa điểm khác trong vùng là Air Raya.

Trên bờ biển Air
Raya
Lần này, có lẽ ông trưởng đoàn muốn
cho mọi người.... hâm lại cái cảm giác vượt biên năm xưa,
nên đoàn chúng tôi lục tục kéo xuống một chiếc ghe đánh
cá nhỏ "y chang" như chiếc ghe tôi đã từng...
“nhắm mắt đưa chân”
dạo ấy. Tuy cùng với mọi người nói cười vui vẻ, nhưng
khi ngồi trong sạp khoang tầu, lòng tôi lại gợn lên những
cảm giác xa xưa...
Thoáng chốc, bãi Air Raya đã
hiện ra trước mắt. Nơi đây, tạo hóa cũng đã dành
lại chủ quyền! Theo lời một nhân chứng đã từng sống
tại trại Air Raya đi trong đoàn
thì vào lúc cao điểm của phong trào vượt biên, đã có
đến mười ngàn người chen chúc sống
tại đây. Thế nhưng chứng tích duy nhất còn lại
chỉ là những nấm mộ hoang nằm sâu trong núi mà thôi.
Trước khi vào khu nghĩa địa,
các thành viên trong đoàn đã cẩn thận bầy một số
lễ vật cúng vong ngay trên bãi Air Raya để
cầu siêu và cúng trời đất trong toàn vùng quần đảo.
Nghĩa địa tại Air Raya mới được người dân ph́át hiện
gần đây, cũng do sự yêu cầu cuả VKTNVN dưới hình thức
trả công tính trên mỗi mộ tìm được. Khu này có gần 20
mộ, và dĩ nhiên cũng rất hoang tàn, tang thương. Con số
mộ còn rất nhiều trên đảo, nhưng cây rừng đã mọc kín
và che mất dấu từ bao năm qua. Nguyện cầu
những nén nhang chúng tôi đốt lên và cắm xuống cho
người nằm lại sẽ nguôi đi phần nào nỗi bất hạnh cuả
đồng bào tôi. Xin cho được nhẹ nhàng siêu thoát.


Tham dự buổi lễ truyền
thống tại Letung.
Trở về Letung, tối hôm đó, đoàn
chúng tôi được mời tham dự một buổi lễ truyền thống
hàng năm cuả dân vùng hải đảo. Lễ này thường
được tổ chức vào rất khuya, như một buổi cầu siêu cho
tất cả những người đã chết trong
toàn vùng quần đảo. Khi nghe ban nhạc - là những nhạc
công có tuổi tác trong làng - đánh lên những nhịp trống
và cất cao tiếng hát, người nghe dù không hiểu nhưng
cũng nhận biết được một nguồn năng lực kỳ bí trong âm
điệu gọi hồn thoát lên, như tỏa ra khắp hải đảo. Những
em vũ công tuy rất nhỏ, nhưng rất điêu luyện trong điệu
múa dân tộc với áo quần thật đẹp mắt mà tôi ít có
dịp nhìn thấy.
Khi buổi lễ kết thúc, như đã chuẩn
bị, đoàn chúng tôi gởi tặng một số tiền - được đóng
góp trước đó - cho câu lạc bộ thiếu
niên trong làng, để mua thêm vật dụng thể thao cho trẻ em
như banh da, vợt vũ cầu, v.v... Số tiền không lớn lao gì
lắm, nhưng cũng là một nghĩa cử "đền ơn đáp nghĩa" cuả
chúng ta đối với những người "chủ nhà tốt bụng" năm
xưa. Dù sao thì "vật thực" vẫn hơn những lời cám ơn
suông.
o0o
Sang đến ngày thứ sáu thì cuộc hành
trình đã đi hơn một nửa. Sáng đó, trước khi rời Letung,
chúng tôi không quên đi viếng một số mộ thuyền nhân tại
đây. Những mộ này được chôn trên một ngọn đồi thuộc
nghĩa địa của người Hoa sống lâu đời trên đảo. Đếm được
9 hay 10 mộ có tên, ngày sinh và tử. Có thể phân biệt
đươc̣ ngay với mộ phần người bản xứ
bằng những gò đất không còn nguyên khổ dạng, trừ vài
mộ mới được người nhà "trùng tu" với xi măng mới và
hàng chữ sơn đỏ - nhưng lại ghi chú lầm là "cải táng".
Nhóm mộ này, theo tin tức thu thập và lời tường thuật
cuả một nhân chứng có mặt trong đoàn, đa số là cuả
những thuyền nhân tại Air Raya đã bỏ mạng trong một tai
nạn đắm ghe, khi họ đi qua Letung để mua thuốc men và vật
dụng cần thiết. Sự kiện được minh chứng với hơn nửa
số mộ có cùng ngày "tử", vài cái còn lại thì khác đi
vài ngày, có thể do xác được vớt trước hay sau mà
thôi. Chúng tôi cũng chỉ còn biết gởi lại những nén
nhang cho người không may mắn, và ghi chép thêm địa điểm
này vào VKTNVN, như một lời nhắn nhủ rằng từ đây, họ
sẽ không bị bỏ quên nữa. Ôi thân phận thuyền nhân ngày
ấy, dù đã đặt được bước chân đến ngưỡng cưả tự do,
nhưng nỗi chết vẫn không rời!
Trên đường về Terempa, chúng tôi ghé lại đảo Keramut.
Đó là một
xóm biển có lẽ nghèo nhất trong những xóm đã đi
qua. Nhà sàn chạy quanh co, xập xệ, rất ít nhà gạch
xây. Đoàn chúng tôi có người đã chuẩn bị kẹo và quần
áo cũ còn tốt để cho các em nhỏ trong làng.Nơi đây,
chúng tôi cũng đã được hướng dẫn đến chỗ có mộ thuyền
nhân VN. Đó thật sự là hai nấm mộ
hoang, không bia mộ, không tên tuổi.
Được biết là hai xác người Việt vô thừa nhận này
đã trôi vào bờ và chủ nhà cạnh đó đã tự nguyện chôn
cất tử tế, giữ gìn cho đến ngày nay. Tuy vậy, hai nấm
mộ nằm cách nhau một khoảng xa,
được đánh dấu bằng vài hòn đá mà
thôi, không biết được chôn cất năm nào.
Những hòn đá này cũng đã lún khá xâu, gần như bằng
ngang với mặt đất, phủ đầy lá dừa khô
và cỏ dại. Nếu người chôn không nói thì chả ai biết
đó là mộ phần. Giờ đây cho dù chỉ
còn là hai... bãi đất không tên, không tuổi
đã bị bỏ quên bao năm qua, nhưng hôm
nay chúng tôi đã biết và tới được nơi này, xin
đốt nén nhang sưởi ấm linh hồn bơ vơ cuả quý vị. Tên
cuả quý vị sẽ là 'thuyền nhân VN, yên nghỉ tại Karamut'
trong VKTNVN, hôm nay và mãi mãi.
Tại Keramut trời mưa. Chúng tôi dừng chân
một chốc trong một quán nhỏ ở góc đường. Thấy các cháu nhỏ tò mò
đến xem, môt số anh chị đã "mão" hết các bánh kẹo trong quán rồi
phân phát cho trẻ em. Nhân tiện có ông trưởng đảo đến viếng,
chúng tôi cũng gom góp chút tiền Indonesia còn lại tặng ông
Trưởng đảo mua banh cho thanh niên và trẻ em trong làng để giải
khuây.

Anh Duật
đại diện cả nhóm trao tiền cho ông Trưởng đảo.
Sau khi rời Keramut đoàn chúng tôi ghé lại
đảo "Vùng nước Thần tiên". Đó là một đảo nhỏ, nằm giữa vùng nước
sâu. Cách bờ không xa nước biển xanh đen. Bờ biển là một dãi cát
trắng phao. Nước biển trong vắt gợn màu xanh. Ánh nắng mặt trời
chiếu xuống, sóng biển phản chiếu ánh nắng tạo thành một vùng
lấp lánh như pha lê. Anh bạn Chi từ Canada vẫn còn "ém" một chai
rượu mạnh, trước cảnh trời nước hữu tình, anh mang ra chai rượu.
Thế là anh em chúng tôi rót ra từng cốc bằng nắp rượu. Trong
suốt lộ trình, anh Đinh Quang Anh Thái chưa phát biểu lời nào,
dịp này anh Trưởng đoàn đề nghị anh Thái làm nghi thức đầu tiên.
Anh cầm chai, châm vào cốc, nhìn ra xa xăm, rót xuống biển ngâm
hai câu:
“Chút rượu hồng
đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này.”
Chúng tôi tắm biển.
Lên bờ uống nước dừa. Nhắm chút rượu mạnh. Rồi gom lại, anh Đặng
Trung Chính nắm dây đàn guitar, những bài không tên, những tình
khúc vượt thời gian được trỗi lên giữa trời nước mênh mông cô
tịch.
Gần hai tiếng ngồi trên tầu về lại
Terempa, tôi lại có dịp ngắm nhìn quang cảnh hải đảo Nam
Dương. Thời tiết mùa này rất tốt, mặt biển êm lặng như
mặt hồ, trùng hợp với thời gian ghe cuả tôi đến đây 26
năm trước. Cũng là nắng đó, mây kia, núi nọ, mà giờ
đây tôi mới bắt đầu cảm nhận được cái đáng yêu cuả
thiên nhiên chung quanh, rất hiền hòa, thoát tục. Cảm
giác thanh thản giữa trời đất hôm nay đã bắt đầu lớn
dần, đang thế chỗ cho những ấn
tượng hãi hùng ngày xưa, ngày mà chiếc ghe cuả tôi lầm
lũi tiến vào vùng đất xa lạ này, đi tìm sự sống.
Rất chu đáo, hai người trưởng đoàn đã
sắp đặt chương trình có những ngày nghỉ ngơi để thành
viên có dịp vui với... nắng gió và nước biển tại vùng
quần đảo nên thơ này. Khéo tay...
nướng nắng thì bảo đảm sẽ có một nước da mầu "đồng
non" như anh Vọi để đem về Bắc Mỹ làm chiến tích khoe
phố phường trong vài tuần. Nhưng thường thì ai cũng
hơi... quá tay, nên gần thành "đồng đen" hết lượt! Hai
thắng cảnh nổi tiếng trong vùng là thác nước
bảy tầng
Tempurun và bãi biển Water of God mà chúng tôi có
cơ hội... nhúng mình cả hai thứ nước "mặn" và
"ngọt" trong một ngày, thật rất
đáng công đáng của.

Thác nước
bảy tầng

Cắm trại trên một
đảo nhỏ

Và lại tắm biển
Đi đến đâu thì đều có thức ăn bằng
hải sản địa phương cung cấp đầy đủ tới đó. Thậm chí
vừa ăn cá tươi nướng mà vừa tắm biển
mới thấy thật là gần gũi với thời “tiền
sử”, ăn xong còn xương cá lại thả ra biển... nuôi
cá khác, một lúc mà
tiện tới hai ba việc! Đặc biệt là luôn được uống
nước dừa tươi mới chặt, thiếu một điều là chỉ trái
nào... chặt trái nấy, vì cây dừa cao quá, không cách gì
lựa được trái mình muốn. Quả là "bõ những lúc cơ
cực".
Dù "vui xuân" nhưng đoàn chúng tôi vẫn
"không quên nhiệm vụ". Chiều cùng ngày,
sau khi về lại Terempa, chúng tôi đã dùng phương
tiện xe ôm trong làng để lên một ngọn đồi khá cao, nơi
có hai ngôi mộ người VN tại đây. Đây
cũng là một trường hợp xác trôi vào bờ, được vớt và
chôn bởi người địa phương, nên cũng chỉ là
hai nấm đất trơ trọi với đá viền
quanh, không bia mộ. Có thêm
một chi tiết là họ đã được chôn trên phần đất cuả một
vị mục sư trong vùng này, do chính ông ta cho chôn cất.
Dù mộ không được xây đắp hay gắn bia
cẩn thận, nhưng vì nằm trên đồi cao, nên chưa bị xụp lở,
và dễ dàng nhận biết. Điểm rất đáng nói là hai mộ
này đều nhìn ra cửa biển về hướng Bắc, nơi có quê hương
Việt Nam.
Ngày nào còn bước chân người Việt
tới nơi đây, quý vị sẽ lại được thăm viếng. Nguyện cầu
cho ai đó được siêu thoát theo khói nhang đốt lên hôm nay.
o0o
Ngày thứ tám, chúng tôi tạm biệt
Terempa. Sáng hôm ấy, trước khi khởi hành, đoàn chúng
tôi đã may mắn gặp lại hai người dân chài Việt Nam. Mọi
người rất thương cảm cho hoàn cảnh
họ, đã an ủi và tặng thêm một số
tiền giúp đỡ họ phần nào trong lúc khốn khó. Cho đến
lúc gặp lại chúng tôi, các ngư dân này vẫn chưa có đươc̣
một sự liên lạc nào từ sứ quán Việt Nam tại Nam Dương.
Không biết rồi số phận họ sẽ ra sao? Những "khúc
ruột... thừa ngàn dặm" này cũng đành bùi ngùi chia tay
những "khúc ruột... rối" kia và lên đường với lời cầu
chúc cho họ sớm đươc̣ trở về với gia đình.
Tầu lại đưa đoàn người về phi trường
Matak, mất một giờ bay tới Pinang như lúc đi,
rồi lại đổi tầu để đi đảo Batam. Ngày hôm sau sẽ theo
lộ trình di chuyển bằng bus từ thị trấn Batam về hướng
nam xuống đảo Galang.
Về đến Batam thì chúng
tôi đã thực sự trở về với "thế giới văn minh" quen
thuộc. Thành phố rất mới mẻ so với Tanjung Pinang, rất
phồn thịnh và còn đang ra sức phát triển để bắt kịp
Singapore. Chúng tôi nghỉ ba đêm tại một khách sạn ba sao
rưỡi - so với những khách sạn "không trăng sao" tại các
đảo nhỏ, nhưng cũng chưa phải ở khách sạn "ngàn sao" bao
giờ - và điểm thu hút các bà các cô nhất là nó đối
diện với một cái shopping center to đùng. Có thế chứ!
Buổi tối đầu tiên, các tay "anh chị cà phê" sáng mắt lên
khi thấy bảng hiệu "Godiva Coffee" trong shopping, nhưng hơi
tiếc là cà phê nóng chỉ còn ngon một nửa khi uống ở
xứ... quá nóng.
Hai ngày cuối cuả
chuyến đi là để thăm viếng trại Galang.
Sau một giờ đường xe,
qua sáu chiếc cầu thì chuyến bus của chúng tôi đã tới
trại Galang, điểm dừng chân cuả tất cả những ai là
thuyền nhân tại Nam dương. Xe vào tới trại rồi mà chúng
tôi vẫn không biết. "Galang I đây sao?", "Đường ra cầu tầu
đây à?", "Ban đại diện ở chỗ nào?", "Barrack đâu hết
rồi?". Câu hỏi vọng lại... cũng câu hỏ̉i mà thôi.
Galang I hoàn toàn
đã thở thành một vùng rừng rậm hoang vu. Hình ảnh quen
thuộc duy nhất còn lại là con đường tráng nhựa và
những ống dẫn nước dọc lề đường từ Galang I vào Galang
II. Xe chạy gần ra cầu tầu thì mọi người đều không còn
đủ kiên nhẫn ngồi trong xe nữa. Dù ngoài trời nắng đổ
lửa, nóng và ẩm ướt, nhưng ai nấy như muốn hối hả
xuống xe, hối hả đi tìm, tưởng chừng như bọn chúng tôi
đang cố gắng đuổi bắt chút kỷ niệm, dấu vết nào đó
còn sót lại đâu đây.
Tôi đứng tại cầu tầu hôm nay mà hồi
tưởng bộ dạng “nhếch nhác” của
mình khi được chuyển trại từ Kuku sang Galang ngày nào...
Như còn nghe vang trong không gian đâu đây tiếng nói cười
xôn xao cuả đám đông chờ đón người mới tới...
Và tôi nhớ cơn mưa như thác lũ ngày tôi rời đảo đi định
cư, cũng tại cầu tầu này! Đã quá
xa rồi, một phần tư thế kỷ! Như một sự
tái diễn cuả lịch sử khi tôi liên tưởng đến lời kể cuả
mẹ tôi khi xưa, lúc những chiếc “tầu há mồm” đưa người
di cư cặp bến Sài Gòn
hơn nửa thế kỷ trước. Vì sao dân tộc Việt Nam lại phải
“cha truyền con nối” cái số kiếp điêu linh thế này?
Ngày ấy, đến vạn ngàn lần tôi cũng
không bao giờ nghĩ mình sẽ trở lại chốn này. Trở lại
để làm gì? Câu trả lời dường như đang rõ dần sau mỗi
chặng đường tôi trở vê.

Cổng chùa Galang I, trước đây là Quan Âm Tự.

Cây cầu
gỗ dắt vào khuuôn viên Chùa và Nhà thờ Galang II.
Trên ngọn đồi cao, ngôi
chùa Quan Âm do người tỵ nạn dựng
đầu tiên tại Galang I, sau khi trại đóng cửa,
đã được tu bổ và được trụ trì bởi một hòa
thượng người Đài Loan. Chùa ngày nay
rất rộng và khang trang, thu hút một số khách
thập phương từ những nơi khá xa, vì được tiếng là linh
thiêng. Sau khi thăm chùa và lễ bàn thờ
Phật, chúng tôi lên xe vào Galng II.
Tại Galang II, một số
công sở cũ như nhà thương, Youth Center, World Relief Center,
nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm, chùa Kỳ Viên đã được chính
quyền điạ phương duy trì như là một khu di tích du lịch
trong vùng này. Với những thuyền nhân đã từng sống tại
nơi đây thì quanh cảnh hôm nay thật là ảm đạm. Hai dẫy
barracks duy nhất còn xót lại cũng đã xiêu vẹo, đổ nát,
cây cỏ mọc kín lối vào.
Giờ nghỉ trưa, đoàn chúng
tôi đã dùng bữa “dã chiến”
ngay tại khuôn viên nhà thờ. Mây đen bỗng
từ cuối rừng kéo tới, báo hiệu một cơn mưa, "mưa
Galang" ngày nào! Những giọt thật
nặng hạt, đến và đi, vừa đủ ướt đất và
ướt cả lòng người trở về.
Galang III là tên gọi mà trại viên năm
xưa đã đặt cho khu nghĩa trang của trại. Tại đây, đoàn
chúng tôi đã cử hành một lễ cầu nguyện và viếng mộ.
Ông trưởng đoàn hướng dẫn mọi người cùng đọc ba lần
kinh Kính mừng, và một đọan kinh cầu siêu trong nghi thức
đơn giản, nhưng rất xúc động. Từng bó nhang lớn và
giấy tiền vàng bạc đã được cẩn
thận mang theo trong suốt cuộc hành trình lại được đốt
lên. Chúng tôi chia nhau đi cắm từng nén nhang cho 503 ngôi
mộ, nằm kín một sườn đồi, không bỏ
sót mộ nào. Mộ phần tại đây hầu
hết đều có tên tuổi, ngày sinh và tử,
đầy đủ hơn so với những nơi chúng tôi đã đi qua.
Tuy vậy, dấu vết tàn phá cuả thời gian
càng làm tăng thêm vẻ thê lương cuả khu nghĩa
trang bị bỏ quên này. Dù những người nằm xuống
nơi đây không đơn lẻ, nhưng
cảnh hoang phế tại đây lại đưa tôi đến sự cảm
thương cho những ai có người thân yêu phải bỏ lại nơi đất
khách quê người, mà chưa một lần được trở lại viếng
thăm!
Một điều thật thất vọng là khi đến
nơi dựng tấm bia "Tưởng niệm thuyền nhân" quá cố thì
hoàn toàn đã không còn một dấu tích gì hết, ngay cả
nền móng làm chân tấm bia! Được
biết nhà cầm quyền Việt Nam đã áp lực chính quyền
Indonesia để đập bỏ tấm bia này chỉ vài tháng sau khi
được cộng đồng người Việt hải ngoại và
VKTNVN dựng lên năm 2005. Người chết có làm gì
đươc̣ mà họ cũng không tha? Vậy thì những người sống?
Những "khúc ruột ngàn dặm" của họ? "Khúc" nào đến
lúc "thừa thãi" thì có lẽ cũng sẽ bị "cắt bỏ" không
thương tiếc.
Xe lại tiếp tục
đưa chúng tôi đến thăm viếng Miếu Ba Cô,
nằm dưới gốc cây da rất lớn. Được
biết ba ngôi miếu này đã do đồng bào trên đảo lập nên,
để tưởng nhớ ba cô gái đã tự ải tại chính nơi đây, khi
đã quá đỗi tuyệt vọng vì bị từ chối đi định cư. Miếu
đã được một thành viên trong đoàn tự nguyện sơn sửa lại
trước đó, trông sáng sủa
và ấm áp hơn giữa
nơi hoang vắng này. Cầu mong một ngày nào chính người
thân cuả các cô có thể đến viếng thăm, hy vọng sẽ làm
vơi đi niềm oan khiên và linh hồn mau được siêu thoát.
Nhân chứng kể rằng đã thấy “Ba Cô” hiện về ngay giữa
ban ngày, khi anh ta đang sơn lại những ngôi miếu ấy.
Một việc làm khác rất có ý nghĩa
đã được đoàn chúng tôi, với sự điều hành cuả VKTNVN, đã
thực hiện đươc̣ trong chuyến đi này. Đó là chúng tôi đã
đóng góp cùng với cộng đồng VN tại Úc một số tiền đủ
mua được hai máy phát điện với công xuất 5kw để tặng cho
hai trường tiểu và trung hoc đệ nhất cấp̣ tại Galang.
Đây cũng là một trong những mục đích cuả cuộc "Hành
Trình Trở Về Bến Tự Do" mà VKTNVN chủ trương.

Quà tặng máy phát điện cho trường tiểu học tại
Galang.

Quà tặng máy phát điện cho trường
Trung học
Đệ I Cấp
tại Galang.
Đối với những thuyền
nhân tỵ nạn cộng sản, người dân tại đất nước tạm dung
cuả chúng ta khi xưa xứng đáng đươc̣ nhớ đến và trả ơn.
Trong thời kỳ mở cưả trại tỵ nạn, Indonesia là xứ sở
đã tỏ ra rất rộng lượng và tử tế đối với thuyền nhân
hơn cả. Dĩ nhiên không tránh khỏi những trường hợp xấu,
nhưng có tính cách cá nhân hơn là một chính sách chung.
Nhìn chung thì Nam Dương
vẫn là một nước có phần chậm phát triển. Những vùng
chúng tôi đi qua, mức sống người dân chỉ ở mức tối
thiểu, không hơn gì dân nghèo Việt Nam, nhưng họ còn may
mắn là có tự do! Việc "Ân Đền" chúng ta làm ngày hôm
nay không có gì là quá đáng. Vả lại, chúng ta còn gởi
hàng ngàn ngôi mộ cuả đồng bào VN tại đất nước họ,
mong rằng việc làm tốt cuả chúng ta sẽ khuyến khích
họ tích cực duy trì và bảo tồn những dấu tích kia
thoát khỏi những bàn tay chuyên đi "đập phá". Còn như
những nỗi "oan khiên" vì ai mà dân tộc Việt Nam lại phải
có những trang sử bi thương ngút trời về THUYỀN NHÂN
trong gần suốt
hai thập niên? Dầu "oán" kia chúng ta không muốn nhớ,
nhưng "ân" nọ thì không thể quên. Câu “Tạm biệt Galang”
hôm nay đã thay thế lời “Vĩnh biệt” khi xưa.
Có
về chốn cũ, thăm lại
vùng đất mà chúng tôi đã nương náu sau chuyến hải trình
hãi hùng, và nhìn thấy
tận mắt những nấm mồ hoang nằm hiu quạnh hơn một phần
tư thế kỷ này, tôi mới thấy mình có đủ can đảm nhìn
lại quá khứ đau thương của những ngày tháng ấy,
và tìm lại đươc̣ niềm tự hào cuả một thuyền nhân.
Nó giúp tôi chấp nhận những gian khổ mình đã trải qua
với một sự bình thản và hài lòng hơn với hiện tại,
bởi vì dầu cho gì gì đi nữa, tôi đã và đang ở đây, bây
giờ. Nhưng những người bạn đồng hành năm xưa kia, những
người không may mắn đã nằm lại mãi mãi nơi đảo xa kia,
đã không bao giờ thực sự bước chân vào vùng trời tự do
như chúng ta ngày hôm nay. HÀNH
TRÌNH TRỞ VỀ BẾN TỰ DO lần này của tôi như là một
đường vòng khép trọn vẹn một vòng tròn dở dang hơn 25
năm, hoàn tất một "chapter" trong cuộc đời "người tỵ
nạn".
Đoàn chúng tôi chia tay
nhau tại Singapore trong niềm vui và nỗi bịn rịn như chia
tay những người bạn cũ, dù chỉ biết nhau không quá mươi
ngày. Xin gởi một lời cảm ơn
đến những bạn đồng hành trong chuyến "Trở về bến Tự Do
2010", chúng ta vẫn còn rất nhiều những "Người Việt
đáng yêu" như các bạn.
Tháng Tư Đen thứ 35,
2010
|