Hồi Ký Phóng Sự :
Trở Về Địa Ngục Môn, Đảo Kuku, Nam Dương Bài 4/4
Tác giả : Vân Hải Paris, 2009/05/02

Bài 1    Bài 2    Bài 3   

Phần 10 : Ngày 14/04/2009 (Vân Hải đọc)

Anh chàng trưởng hải cảng khoe gia đình anh và bây giờ cha truyền con nối, đến lượt chính anh trở thành chủ nhân một khu vực rất rộng và rất đẹp ở tỉnh lỵ LeTung này. Trong khu vực đó có một « bãi biển đẹp đứng hàng thứ ba so với các bãi biển Á Châu ». Đấy là lời của anh ta. Để làm đẹp lòng anh ta, và cũng nằm trong chương trình du ngoạn thị trấn này, phái đoàn chúng tôi tổ chức picnic tại bãi biển của anh ta. Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lội bộ dưới trời nắng chang chang đi thăm thú vùng đảo LeTung. Đi đến đâu, dân chúng, người lớn, trẻ em, đều cười vui thân thiện, vẫy tay gọi Việt Nam, Việt Nam. Tiếng gọi khiến cho chúng tôi nửa hãnh diện nhưng lại nửa ngậm ngùi. Chúng tôi không biết phải nói thế nào với những người địa phương chất phác kia rằng tuy chúng tôi hãnh diện là người VN nhưng không phải là người của VNXã Nghĩa CS, trái lại chúng tôi là tỵ nạn CS, chúng tôi là nạn nhân của cái đảng đang cầm quyền ở Việt Nam ngày nay. Chúng tôi bắt buộc phải lìa bỏ quê hương, sống lưu vong trên một phần ba thế kỷ rồi cũng vì cái đảng tham tàn này còn ngồi trên đầu trên cổ dân tộc chúng tôi. Cái đảng này đang dâng hiến dần mòn đất đai quê hương của chúng tôi cho bọn Tầu cộng để cầu vinh và để giúp cho bọn Tầu cộng bành trướng mộng làm bá chủ vùng đông nam á châu, trong đó có quốc gia Nam Dương. Chính cái đảng này đã làm áp lực với chính quyền Mã Lai, Nam Dương để phá bỏ các di tích về thuyền nhân, tức là chúng tôi, để hòng xóa bỏ, che lấp, vùi chôn tội ác của chúng. Nhưng chắc chắn không ai có thể xoá được, quên được, vì chẳng những thuyền nhân VN còn sống là nhân chứng mà con cháu họ còn nhớ, mà những người dân địa phương Mã Lai, Phi, Thái và Nam Dương cũng còn biết, còn nhớ và còn nói tới, nhắc tới, bây giờ và mãi mãi.   

Loanh quanh trong các xóm nhỏ nhìn ngắm sinh hoạt thanh bình của dân quê. Những em trai tụ tập chơi … dích hình, những bé gái thập thò, e thẹn sau cánh cửa hay gốc cây bàng, cây mận, cây xoài. Những thiếu nữ rụt rè giơ tay chào lại phái đoàn. Ngôi trường làng xinh đẹp, với những học sinh mặc đồng phục, quần hay áo đầm mầu đỏ gụ, áo sơ mi trắng, như mầu cờ Nam Dương. Ở đây, một đảo hẻo lánh trong số một ngàn hòn đảo lớn nhỏ lập nên quốc gia Nam Dương, các em được đi học. Có khi đi bằng thuyền để đến trường ở hòn đảo bên cạnh, có khi đi bộ, hoặc bằng xe hai bánh. Nhưng tất cả các trẻ em đều được đi học miễn phí, ít ra là hết trung học. Tôi chợt nhớ và thương trẻ em Việt Nam. Có bao nhiêu học sinh không được lên đại học chỉ vì « lý lịch » cha mẹ các em ? Có bao nhiêu trẻ em VN thất học vì gia cảnh quá đói nghèo  Miền Nam VN trước đây là vựa lúa, thò tay xuống nước là có cá, có tôm, vất hạt giống ra vườn là có cây ăn trái mọc lên, thế mà miền Nam VN, sau 34 năm bị đảng CSVN cưỡng bức, cai trị, đã trở thành một vùng đất, trên đó, người dân đói nghèo thê thảm, khiến trẻ em phải bỏ học, lăn ra đời kiếm sống qua ngày. Con gái nhà quê lên thành Hồ làm … gái gọi hay làm vợ hờ và làm nô lệ tình dục cho bọn buôn người ngoại quốc. Con trai lên thành Hồ làm ma cô, ăn cướp. Trong khi đó đảng cầm quyền giầu sụ bạc tỷ, con cái đảng viên ăn chơi xả láng, mỗi đêm chi ra những số tiền khổng lồ, bằng mấy năm lương của người công nhân hoặc được du học nước ngoài, nhưng chỉ lo đánh bạc ở các sòng bài quốc tế và sắm xe hơi tân kỳ, hiện đại nhất về chạy ở thành Hồ cho bà con khiếp vía. 

Trên đường đi bộ, hai anh Đông và Sơn, ban tổ chức VKTNVN, và một số anh em vẫn không quên nhiệm vụ là tìm kiếm mộ phần và di vật người ty nạn, vì ở LeTung cũng có hiện diện của họ, những năm về trước.  

Sau cuộc đi bộ rạc cẳng, thân thể cháy nám vì nắng gắt, nhưng chẳng có ai than van, thì chúng tôi được lên xe ca đi đến bãi biển đẹp của anh trưởng hải cảng. Con đường quanh co, lên dốc xuống dốc nhiều lần. Có khi tưởng phải bỏ xe vì cái xe quá ì ạch, thở phì phào mãi mới nhích nổi. Thế nhưng chúng tôi vẫn rất vui nhộn trên xe. Thôi thì đủ chuyện, mỗi người vẽ vời ra chuyện để trêu nhau, rồi cười rỡn như những người vô tư thật sự. Người bên ngoài nhìn cảnh hoạt náo như thế chắc chắn không thể nghĩ rằng trong mỗi thâm tâm chúng tôi, đều mang nặng những u buồn dấu kín, chôn chặt, của người lưu vong, xa xứ, đang đi tìm lại vùng đất mình đã đặt những bước chân tự do đầu tiên, tại địa ngục môn hay ngưỡng cửa tự do.  

Bãi biển quả thật là đẹp, vừa rộng, vừa thoai thoải, sóng không hung hãn lắm. Lại có một khoảng bãi trồng thật nhiều dừa và cỏ xanh mướt. Một đàn cả chục con dê mập mạp, rất dễ thương, tha thẩn tò mò  đến gần du khách. Tha hồ cắm trại. Một ngày đẹp trời rất hứa hẹn. Phái đoàn trải chiếu, trải bạt ra quây quần bên nhau. Những người thèm biển đã nhào xuống nước. Cây đàn guitare được đem theo. Thế là lại đơn ca, song ca, hoà ca tưng bừng. Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời, VN hai tiếng nói trên vành nôi, Việt Nam nước tôi. Việt Nam, Việt Nam, tiếng gọi là người, VN hai câu nói sau cùng khi lìa đời ...

Anh Eddie lại chạy đi ngoại giao và chẳng mấy chốc, một dàn lửa được khơi lên, những con cá tươi xanh được đem nướng ngay tại chỗ, rồi dân địa phương leo cây chặt dừa đem xuống cho bà con ăn uống. Chẳng còn thú vị nào bằng.  

Chúng tôi trở về nhà trọ ở LeTung khi ráng chiều ngả xuống khu nhà sàn chài lưới. Lại một tối và một đêm thanh bình trôi qua trong xóm chài hiền lành, có những người dân chất phác, đầy ắp tình nghĩa. Một số thanh niên còn tụ tập, ráng kéo dài thời gian được sống thoải mái, vô tư của ngày. Thùng đựng lon bia rỗng đã gần đầy. Vì e ngại uống nước lã ít vệ sinh, nhiều thanh niên lấy cớ này để uống bia thay nước lã, để đưa cay với cá ráy hay cá nhím hoặc tôm hùm nướng, vào buổi tối xẫm.

Mặc dù sáng sớm ngày mai còn lên đường đến đảo Air Raya và Keramut.

Ban tổ chức, anh Đông anh Sơn loan báo có buổi họp bất thường, tuyên bố ngày mai mọi người phải mang theo hết đồ đạc, vì sẽ không trở lại LeTung ngủ nữa.

* * * * *

Phần 11 : Ngày 15/04/2009 (Vân Hải đọc)

Tầu tốc hành lại đưa chúng tôi đến Air Raya, cách Kuku khoảng 15 phút tầu thuỷ, một khu vực có nhiều thuyền nhân ở vào những năm từ 1978 đến 1983. Ngày xưa, thời đó, Air Raya cũng đã xinh đẹp, sạch sẽ, ngăn nắp hơn Kuku rất nhiều. Anh Vinh và tôi đã có dịp đi thuyền từ Kuku đến Air Raya vào thời gian tỵ nạn ở đây. Tại đây hồi đó, chúng tôi gặp lại gia đình cô em họ của tôi, vợ của bác sĩ Lê Văn Cương, hiện nay ở New Orleans, gặp lại anh chị bác sĩ Lê Hữu Em - Lam Ngọc, là bà con của anh Vinh, hiện nay ở Dallas, gặp lại người bạn kiến trúc sư Nguyên Trang nay đã ra người thiên cổ. Bây giờ Air Raya cũng chỉ còn vài cái cọc của cầu tầu và cây cối nhiệt đới cũng mọc tràn ra tới gần nước, tuy vậy vẫn còn một số cây dừa, không như Kuku, vắng bóng dừa. 

Ông Hồ Tắc là người duy nhất trong đoàn đã tỵ nạn ở Air Raya. Thấy ông ta cảm động, ngậm ngùi nhìn hòn đảo cũ, chỉ chỏ giới thiệu chỗ này chỗ kia, bỗng hiểu rằng chẳng ai quên được miền đất tuy xa xôi nhưng vẫn rất gần gũi trong tâm tư từng người.

Anh Đông lại cho chuẩn bị làm lễ cầu siêu, rồi cũng đốt vàng mã của David đem theo trong hai valises đầy, nay đã vơi dần. Chúng tôi không dám mạo hiểm đi sâu vào trong đảo vì không có người dẫn đường và phu dọn đường, chặt cây rừng, như khi đến Kuku.

Xong lễ chúng tôi lên đường ngay để đến đảo Keramut.


Selamat Datang có nghĩa là Chào Mừng (Bienvenue Welcome)

Keramut là một hòn đảo nhỏ, nhỏ hơn cả LeTung, chỉ có khoảng vài trăm dân chài. Keramut là nơi “địa đầu” cho các thuyền tỵ nạn VN đến Nam Dương. Gần như thuyền tỵ nạn VN nào cũng được hải quân Nam Dương dẫn đến đảo này, nghỉ ở đó 1 hay 2 ngày trước khi được dẫn đến Air Raya, hay Kuku thuộc đảo Jamayja hoặc đưa đi đảo khác. Xa xưa, cũng như đa số thuyền VN, thuyền MH5410 của chúng tôi cũng ghé vào ngủ qua đêm ở đây. Chúng tôi đã như người say rượu, chệnh choạng bước đi trên cầu ván từ thuyền của mình nối vào khu chài lưới này, sau 11 ngày đêm lênh đênh và 1 đêm ngủ nhờ trên 1 chiếc tầu tỵ nạn nằm nghiêng trên bãi một hòn đảo không tên gần đảo Keramut.

Con tầu nằm nghiêng đó chính là tầu mà 3 chị em Oanh Oanh và Mimi đi. Quả đất thật là tròn, chúng tôi gặp nhau trong phái đoàn hành hương hôm nay.

Vì bị 4 lần hải tặc cướp hết mọi thứ, đổ hết gạo xuống biển, bẻ gẫy cần câu, không còn phương tiện sống còn nào, chúng tôi như những ma đói dơ bẩn. Tại hòn đảo hoang không tên kia, khi nhìn thấy con tầu nằm nghiêng trên bãi, thuyền MH5410 của chúng tôi đã táp vào bên cạnh. Chúng tôi lần mò lên chiếc thuyền nghiêng này tìm kiếm gạo và đồ dùng, thôi thì cũ người mới ta. Chúng tôi vét được một ít gạo còn tốt. Đa số gạo nhìn thấy vương vãi trên thuyền đó đều đã mốc xanh rồi. Có khi thấy còn trắng, bốc vào tay thì mủn ra như vữa. Chúng tôi cũng lấy được một cái ấm khá to, không có nắp. Với số gạo vét được, chúng tôi đã nấu cháo với nước biển trong cái ấm đó. Ngọn lửa hy vọng lầu đầu tiên đã được thoi thóp khơi lên với lá dừa khô tại một hòn đảo hoang, gần đảo Keramut, nơi đất tự do Nam Dương. Đó là đêm tự do đầu tiên của chúng tôi.

Vì thế Keramut cũng như LeTung, cũng là nơi có nhiều duyên phận với thuyền nhân VN.

Ba mươi năm trước, chúng tôi loạng choạng bước lên cầu ván Keramut, được dân chài nghèo cho đàn bà, con nít VN trú ngụ trong nhà của họ. Đàn ông, con trai thì ngủ ngoài hiên, màn trời chiếu đất. Thế cũng là may mắn lắm rồi. Tại đây bữa cơm thứ nhất của chúng tôi là gạo hẩm nấu thành cơm ăn với cá lòng tong luộc nước biển. Tất cả được nấu trong cái ấm có nắp tôi sáng chế bằng bẹ dừa khô. Để có thêm …gia vị, chúng tôi đã rưới lên hỗn hợp cơm cá đó vài giọt sữa hộp vừa mua ở chợ Keramut.

Một món ăn quý giá đối với chúng tôi khi đó.

Hôm nay cũng người dân Keramut vẫy tay chào chúng tôi, miệng toét cười và gọi “Việt Nam, Việt Nam”. Chúng tôi cũng lại cười với họ và nói và cứ nói tiếng Việt “thuyền nhân ngày xưa trở lại đây, xin chào mọi người và cảm ơn mọi người”. Anh Eddie thông dịch sao đó mà họ vui vẻ chỉ cầu tầu cũ bằng ván (mà ngày xưa chúng tôi đã bước những bước tự do) ở cách cầu tầu mới bằng xi măng một khoảng cách không xa bao nhiêu. Kỷ niệm cũ như còn in trong trí. Bên cạnh cầu tầu cũ còn một chiếc tầu tỵ nạn nằm cạn ngay đó. Nhìn con tầu cũ kỹ, dãi dầu sương gió, còn nằm đó sau bao nhiêu năm vật đổi sao dời, mà lòng quặn thắt. Một ý nghĩ bỗng thoáng qua, có bao giờ thuyền kia lại đưa ta về quê hương? Mặc dù giờ đây, nhiều người, trong đó cũng có cựu thuyền nhân, đã trở về VN bằng máy bay phản lực, nhưng vẫn còn những người như tôi, chưa về, vì còn mong đợi một ngày về vinh quang hơn, một lần về không nơm nớp lo sợ bị chụp mũ CIA, hay “bọn nguỵ”, không phải…cười duyên với bọn hải quan, không phải đút lót 10 đô la trong thẻ thông hành, không phải trình diện công an phường khóm, không e ngại những tên này giữ thông hành để làm tiền vài giờ trước khi lên máy bay trở về nơi tạm dung, không phải e ngại khi nói năng, không còn phải nhìn những bộ mặt giả nhân giả nghĩa ru ngủ thiên hạ với trùm khế ngọt và tình nghĩa keo sơn của khúc ruột ngàn dặm, không phải nghe nói dối, nói phét, không phải …không phải…rất nhiều thứ mà chỉ có những quốc gia dân chủ, tự do thật sự mới có được. Đó là quyền làm dân.  

Tại Keramut, người dân cũng chỉ cho chúng tôi 2 ngôi mộ thuyền nhân VN, gốc người Hoa Chợ Lớn. Chúng tôi lại nhờ họ dọn sạch sẽ và lại làm lễ cầu siêu, đốt hết phần vàng mã còn lại.  

Loanh quanh một lúc, anh Eddie kêu gọi lên tầu để đến một bãi biển chưa có chân du khách đặt bước. Anh đã hứa và anh đã giữ lời. Để an ủi chúng tôi đã không được tắm ở Kuku2 lâu hơn cho đã thèm.

Giữa mênh mông biển cả, trong cả trăm hòn đảo nho nhỏ, tầu ghé vào một hòn đảo, dùng chữ hòn rất đúng, vì đảo nhỏ xiú xiu, nhưng có bãi khá rộng, lại có cây dừa cao vút hay la đà nghiêng mình trên bãi cát trắng phau, dưới ánh nắng chan hòa. Chúng tôi đặt tên là “đảo thần tiên”. Hai mươi hai người tỵ nạn CS chúng tôi hôm nay tha hồ trút hết nỗi muộn phiền trong đời ra khỏi hòn đảo thần tiên kia để vui đùa với sóng nước trong như thuỷ tinh, mát như sương sớm, ăn những miếng cá nướng và uống những hụm nước dừa ngon ngọt, như chưa từng có được.
 

Ba mươi năm trước, chúng tôi là những kẻ lanh thang, không quê hương, không nhà cửa, không tương lai, ngay cả sự sống cũng không nằm trong tay mình.

Ba mươi năm sau, chúng tôi trở lại nơi đây, vùng đất tự do đầu tiên ngày trước, với hiện tại rực rỡ và với tương lai trong tay. Ai dám bảo những người bỏ nước ra đi kể từ ngày Quốc Hận 30/04/1975 là bọn lười biếng ? Chỉ biết chạy theo phồn vinh giả tạo ? Và tệ hơn hết là bọn phản bội ?

Chỉ có cái đảng CSVN, chuyên viên chụp mũ và vu khống để che đậy chính những tội lỗi tầy trời của chúng.

* * * * *

Phần 12 : Ngày 16/04/2009 (Vân Hải đọc)

Dời đảo thần tiên, tầu chúng tôi về lại Tarempa, không trở lại LeTung nữa.  

Trước khi ngủ đêm ở Tarempa, anh Đông, anh Sơn, ban tổ chức VKTNVN, có buổi họp đặc biệt. Mọi người ngồi quanh bàn khách nhà trọ. Khi đó mới hết thắc mắc tại sao không ngủ LeTung đêm thứ tư như chương trình, mà bỏ về Tarempa ngủ. Anh Sơn trình bầy rằng trước sự hồn nhiên, thoải mái của mọi người, thì anh Eddie rất đau khổ, phải ngậm đắng nuốt cay đợi qua cầu. Bên trong sự việc, anh ta bị anh trưởng hải cảng, anh trưởng công an LeTung làm tiền trắng trợn, thêm vài đàn em nhẩy vào ăn có mỗi khi theo đến các đảo khác để …phụ giúp cũng như giữ an ninh cho đoàn, khiến anh Eddie sợ quá, bèn nói nhỏ với hai anh ban tổ chức phải “nhổ neo” trước dự tính để thoát cảnh “cá chậu chim lồng” hay “cá nằm trên thớt”. Hai tên “mặt đen” kia nó giơ dao chặt xuống lúc nào không biết thì …nguy cho cả đám. Ấy thế mà chính anh trưởng hải cảng đã có lần ca hát chung với đoàn, vui mãi chẳng muốn ra về. Ấy thế mà chính anh trưởng công an cũng tặng cho đoàn xâu chuỗi (đọc kinh Coran). Hóa ra trông vậy mà không phải vậy. Anh Eddie có nằm trong chăn mới biết chăn có rận. Anh ta rất xấu hổ về việc đồng hương của anh tham nhũng và ỷ quyền cậy thế như vậy. Cả đoàn đều thông cảm với anh Eddie và đồng ý hùn nhau chia bớt cho anh những món tiền “cúng cô hồn các đảng” kia (đây là tiền đô la mỹ thứ thiệt không phải vàng mã như của David mua).

Tuy nhiên mới chỉ về tới Tarempa, còn phải lấy máy bay về Matak rồi lại từ đó lấy speed boat về Batam, quê hương chôn nhau cắt rốn của anh Eddie.

Riêng tôi lo lắng cho số phận những người đánh cá Việt Nam bị bắt giam tại Tarempa. Có cả thẩy 16 người lớn nhỏ, từ khoảng 18 đến 40 tuổi. Có 4 người ra gặp chúng tôi, ngay buổi sáng chúng tôi khăn gói dời Tarempa trở lại Matak. Chúng tôi vừa hỏi chuyện vừa chụp hình, vừa tặng tiền, thuốc men mang theo, một ít đồ đạc như cái máy radio cassette của Chấn, thì được biết thảm cảnh của những dân chài Vũng Tầu này, cũng là thảm cảnh của dân chài VN nói chung. Số là những dân chài này cư ngụ ở Vũng Tầu, miền Nam VN. Xưa nay họ vẫn đánh cá trong biển Đông. Nhưng lúc sau này, vùng đánh cá của họ bị thu hẹp lại, bởi việc đảng CSVN cầm quyền dâng hiến đất biển VN cho bọn Tầu Cộng. Bọn này càng ngày càng lộng hành, hống hách giết hại ngư phủ VN không nương tay. Bởi thế anh em đánh cá VN phải thay đổi nơi làm ăn. Các anh này chẳng may cho thuyền đánh cá của mình đi xa về miền nam của biển Đông, vi phạm hải phận Nam Dương, nên bị bắt, bị giam tại LeTung 11 tháng trời rồi mà không có toà xử, cũng chẳng biết khi nào xử, có xử không và nhất là bao giờ thì đuợc trả tự do về lại quê quán là Việt Nam. Hàng ngày các anh được cho ra ngoài làm việc, tối về trại giam. Tôi lo cho họ bị cai tù Nam Dương ăn hiếp. Nhưng theo lời của họ thì không đến nỗi nào. Cái tầu đánh cá của họ bị giữ lại và sẽ được trả lại với điều kiện họ hay người nhà ở VN phải trả cho chính quyền LeTung 20 000 mỹ kim. Thật là đau xót khi nhìn thấy đồng hương của mình bị bắt giữ oan uổng như thế. Hơn nữa chẳng có ai can thiệp cho họ. Họ cho biết có liên lạc với thân nhân ở Vũng Tầu rồi và có nhờ thân nhân thông báo cho nhà cầm quyền địa phuơng Vũng Tầu biết để can thiệp. Họ được thân nhân cho biết câu trả lời của quan quyền VN như sau “đi đánh cá bậy bạ thì ráng mà chịu”.  

Chợt nhớ đến trong năm vừa qua, vài người Pháp bị bắt ở một quốc gia chậm tiến. Những người Pháp này cũng chẳng phải dân …đàng hoàng, mà là tay buôn lậu hoặc trí trá gì đó, bị bắt giữ. Vậy mà ông tổng thống Pháp vẫn phải ra lệnh cho bộ ngoại giao can thiệp. Việc bị xé ra to, đến nỗi chính tổng thống Pháp phải đích thân can thiệp mới gỡ họ ra khỏi xứ đó, để được về Pháp thụ án.

Đấy là sự khác biệt giữa một quốc gia dân chủ, tự do, có người lãnh đạo dù nhiều hay ít, cũng biết lo cho dân và một quốc gia có nhà cầm quyền chỉ biết vào, vơ, vét, về, ăn, hút, đục, đẽo, gọt, hết cả tiềm năng của đất nước và máu mủ của dân tộc mà vẫn còn dấp danh nay bán đất biên giới phía Bắc, mai nhượng biển phía Đông, mốt cõng rắn vào nhà Tây Nguyên, để cầu vinh hiển hơn nữa.

Đấy là lằn ranh Quốc Cộng.

Trên đường ra phi trường thì biết tin máy bay sẽ trễ vài giờ. Cả đoàn được đưa vào một khách sạn tương lai, vì hiện giờ còn đang xây cất, chỉ có một phòng khách và phòng ăn khang trang mở cửa thôi. Lại cá nướng, mì xào ớt hay cơm chiên ớt. Nhưng chẳng ai thắc mắc, vẫn vui vẻ phỏng vấn nhau để ghi âm, vẫn chụp ảnh lưu niệm và vẫn nghe nhạc Bee Gees.

Về đến Batam đã khuya vì may mà còn lên kịp chuyến tầu thuỷ chót, anh Eddie mới nở được nụ cười, thở phào nhẹ nhõm. Trên xe ca từ hải cảng về hotel Nogaya, anh ta giới thiệu đảo và nhà của anh. Cô vợ dễ thương của anh ta ra đón tận hải cảng, tuy ăn mặc theo thời trang, đi giầy cao gót, nhưng vẫn đội khăn che kín đầu.  

Phần 13 : Ngày 17/04/2009 (Vân Hải đọc)

Sáng ngày 17/04 trong lúc ăn sáng, mọi người đều biết rằng sáng hôm nay phải chia tay nhau. Nhóm 4 người bên Pháp (Chung, Thuý, anh Vinh và tôi) sẽ trở về Jakarta rồi về Paris. Chúng tôi đứng bên thềm khách sạn để được nghe anh Đông, anh Sơn đồng ca một bài hát chia tay thật hào hùng và cảm động. Rồi chúng tôi ôm nhau thắm thiết, hôn nhau đậm đà, hẹn một ngày nào “đại náo Kuku lần thứ hai”.

Kể ra chúng tôi, anh Vinh và tôi thì đúng hơn, có vẻ lạc quan khi hẹn tái ngộ Kuku. Trong khi vui vẻ, náo nhiệt, chúng tôi quên hẳn tuổi đời của mình. Chẳng thế mà Oanh Oanh đã tỏ vẻ e ngại, ngạc nhiên khi thấy danh sách trong chuyến đi dò đường Kuku có ghi tên 2 ông bà già trên dưới 70 tuổi. Quả là rất hên, trong chuyến đi rất vui nhưng khá gian nan này, (vì di chuyển hơi nhiều), hai ông bà già không ai “nằm vạ” ở bất cứ đâu, cũng không “làm phiền” gì ai cả. Bất quá chỉ nhờ mấy thanh niên “vịn tay, vịn chân” chút đỉnh mỗi khi lên xuống tầu thuỷ hay leo núi, xuống ghềnh. Thật tình là phải cảm ơn Trời Phật riêng cho mục sức khỏe này.

Xe ca mang nhóm người đi Galang xa dần hotel. Chúng tôi đứng lại vẫy tay và gửi theo gió những nụ  hôn mãi cho đến khi xe khuất dạng.

Nhóm còn lại sẽ đi trại Galang, nơi quy tụ các thuyền nhân VN để đi định cư.

Tại Nam Dương, sau các trại tỵ nạn ở các đảo, như Air Raya, Kuku, trại Galang đóng cửa sau cùng, khép lại một trang sử của thế giới đầy nước mắt, đẫm máu và xác chết của thuyền nhân, oan khuất bỏ xác trên biển cả, trong rừng sâu, trên đảo hoang, mà thuyền nhân Việt Nam là vai chính trong diễn biến, mà sự tham tàn không tưởng của đảng CSVN là động lực chính. Một cuộc diệt chủng "trong sạch", không vũ khí, không tiếng nói, không dấu vết.

Nhóm đi Galang, sau đó cũng sẽ chia tay với Chấn, một mình đơn độc về Singapore trước mọi người để lấy chuyến bay tối cùng ngày 17/04 về Munchen, Đức quốc.

Mọi người sau đó cũng tứ tán mỗi người một phương trời, một đất nước tạm dung, nhưng từ 30 năm qua cũng là quê hương thứ nhì, vì tất cả gia đình, quyến thuộc, vợ con, công ăn việc làm, cơ sở, tương lai, đều đã mọc rễ, bắt nguồn và phát triển ở nơi đó.

Nhưng cho dù vật có đổi, sao có dời, cho dù đã là Đức, là Mỹ, là Pháp, là Thuỵ Điển, là Úc, chúng tôi cũng vẫn hãnh diện là người Việt Nam Tự Do, đã cùng nhau viết lên trang sử bi hùng của thuyền nhân, đã làm rúng động lương tâm thế giới, đã góp phần làm thay đổi cái nhìn của những người khuynh tả, đã ít nhiều gây ảnh hưởng vào sự tan rã của chủ nghĩa cộng sản, đã ít nhiều đóng góp vào sự kính trọng và công nhận lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của Việt Nam Cộng Hoà, là lá cờ của CHÍNH NGHĨA, lá Cờ của TỰ DO. 

Cuối cùng, qua chuyến đi hành hương, tảo mộ này, do Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam tại Úc tổ chức, tôi xin được đặc biệt vinh danh thế hệ Một Rưỡi và thế hệ Hai, tức là thế hệ Gạch Nối và Hậu Duệ của thuyền nhân. Các em đã không quên nền đạo đức Việt Nam. Các em đã chứng tỏ lòng hiếu thảo đối với các bậc sinh thành, đã vì tương lai của các em mà đem con vượt biển, tìm cho con một tương lai chắc chắn sáng sủa hơn nếu còn ở lại VNXãNghĩa. Nhưng chẳng may cha mẹ các em đã bỏ mình trên đường di tản. Các em đã dẹp bỏ công ăn việc làm qua một bên để lặn lội trở về nơi hoang đảo, cố gắng tìm mộ phần cha mẹ để báo hiếu. Tôi cũng rất xúc động trước tấm tình của một người chồng đối với người vợ đã qua đời trên hoang đảo. Bao nhiêu năm qua, nhưng anh vẫn cố gắng tìm về nơi đã giữ lại người vợ thương quý của anh. Tình nghĩa keo sơn vợ chồng ấy, chỉ có người Việt Nam thấm nhuần đạo làm người, mới có được. Hỏi rằng, những tình cảm sâu sắc và quý báu ấy có còn chăng trong xã hội hiện nay tại Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Sản ?

Vân Hải, viết xong ngày 01/05/2009

Bài 1    Bài 2    Bài 3