Hồi Ký Phóng Sự :
Trở Về Địa Ngục Môn, Đảo Kuku, Nam Dương Bài 3/4
Tác giả : Vân Hải Paris, 2009/05/02 

Bài 1    Bài 2       Bài 4

Phần 7 : Ngày 11/04/2009 (Vân Hải đọc)

Ăn sáng ở hotel Comfort - Tanjung Pinang. Mọi người kháo nhau “có cháo ngon đó”. Ai cũng ăn cháo nóng buổi sáng cho … tỉnh hồn lên. Món ăn Nam Dương ở hotel ngon miệng, tương đối hợp với gu người VN, vì có chất … cay. Ngay sau đó, ra phi trường đi đảo Matak. Đảo này nổi tiếng là sào huyệt của cướp biển. Hiện vẫn còn hoành hành tại vùng biển Natuna.

Trong khi chờ lên máy bay, một cuộc phỏng vấn chớp nhoáng được hình thành, cũng là do vô tình vài người hỏi han nhau, kể cho nhau nghe về chuyến vượt biển của mình ngày xưa.

Hai anh em họ Huỳnh kể về cái chết của người cha tại Kuku năm 1979. Nơi chôn cất ông là trên sườn đồi, gần một ngôi mả lớn xây xi măng, phía chùa, nhưng khi đó các em mới có 15 và 13 tuổi, nên không thể nhớ rõ hơn. Các em hy vọng với những điểm chuẩn như thế sẽ tìm ra được mộ phần người cha thân yêu. Cậu David đến từ Cali-Hoa Kỳ, kể rằng năm 1979, gia đình cậu chia ra đi vượt biên làm 3 đợt. Đợt đầu, người chị ruột ra đi, thoát sang Mã Lai. Đợt thứ nhì, là cậu ta, khi đó 11 tuổi, cũng thoát sang Mã Lai, nhưng không cùng nơi với người chị. Đợt thứ ba, mẹ, em và dì của David ra đi, thoát sang Nam Dương, được đưa vào Kuku. Ít lâu sau, mẹ của David chết vì bệnh. Được người em chôn cất. Nhưng bà em này, ngày nay đã lớn tuổi, lại đi tu, quên hết cả nơi đã chôn bà chị. Còn đứa em cùng vượt biển với mẹ thì khi đó mới 6 tuổi, không biết gì nữa cả. David đi tìm mộ của mẹ mà không có một tí hy vọng nào vì không biết mảy may nơi chôn cất. Cả một vùng rừng núi nhiệt đới Kuku trùng điệp làm sao mà tìm?

Căn cứ vào năm đến Kuku, vào tôn giáo của người chết, mọi người cho ý kiến rằng có thể mộ phần mẹ của David cũng ở phía chùa như cha của anh em Huỳnh. David thật thà kể rằng đã mua gần 400 mỹ kim tiền vàng mã, nhang đèn, để cúng mẹ và tất cả những vong linh nằm lại ở Kuku và các đảo mà  phái đoàn sẽ đến. Hoàng Oanh kể 3 chị em vượt biển với nhau mà Oanh là chị lớn nhất, khi đó mới 15 tuổi, phải lo cho 2 em 13 và 11 tuổi. Bơ vơ và sợ hãi ghê người. Phần tôi kể về chuyến vượt biển hãi hùng vì 4 lần gặp hải tặc, nhưng may mắn thoát cảnh làm nhục cả 4 lần và một lần bị lính Mã Lai ròng giây kéo thuyền ra khơi. Tôi tin chắc rằng phải có Thượng Đế. Khi kể tới khúc lên một chiếc thuyền khá lớn, nằm nghiêng trên bãi biển gần đảo Keramut, để vét gạo, thì Hoàng Oanh nhận ra chiếc thuyền nằm nghiêng đó chính là thuyền của ba chị em, đã đến Kuku vào hồi đầu tháng 06/1979, còn chúng tôi thì đến vào ngày 30/06/1979.  

Tiếng thông báo giờ lên máy bay vang trong căn phòng đợi, kéo mọi người rời bỏ quá khứ mà trở về với thực tế. Chiếc Fokker 27 hai cánh quạt cất cánh với 22 người VN phái đoàn chúng tôi, một người Nam Dương hướng dẫn, một người lo an ninh và hai người phu vừa dọn đường vừa khuân vác, cộng thêm vài khách địa phương. Hai cô tiếp viên khá xinh hay cười tủm tỉm. Chắc vì trong phái đoàn VN có khá nhiều … thanh niên khá đẹp trai, lại biết “nhận diện” người đẹp nữa.

Máy bay đáp xuống phi trường Matak êm đẹp như nụ cười tủm tỉm của hai cô tiếp viên duyên dáng. Mặc dù chỉ là tiếp viên … làng, làm việc trên máy bay nhỏ, bay qua bay lại vài hòn đảo nhỏ, nhưng 2 cô tiếp viên xinh đẹp, mặn mòi và dễ thương hơn rất nhiều cô khác trên các chuyến bay quốc tế.

Chỉ mới bay … xuất quân 1 chuyến đầu tiên dài khoảng 1 giờ đồng hồ, mà khi xuống tới phi trường, Tuấn Hùng, một thanh niên 40t độc thân, vui tính, điển trai trong đoàn, đã khoe cái hình vừa chụp chung với một trong hai cô tiếp viên duyên dáng nọ. Tuấn Hùng ở Thuỵ Điển, xứ của tuyết băng, nhưng lại mang tâm tình đầy nhiệt huyết như núi lửa. Thanh niên VN mau mắn như thế bảo sao các cô gái … làng của Nam Dương không khoái sao được ?

Nhưng phải lấy tầu thuỷ tốc hành đi gấp sang đảo Tarempa trước khi trời tối, để ngủ qua đêm.

Tầu thuỷ chạy ào ào khoảng hơn 1 giờ đồng hồ trên sóng nước trong xanh, lướt qua không biết bao nhiêu hòn đảo nhỏ. Phong cảnh thật độc đáo. Gió lồng lộng.

Tarempa thật hữu tình, mang vẻ thơ mộng mặc dù chỉ là một xóm chài nghèo. Những kỷ niệm thời lênh đênh vượt trùng dương tìm Tự Do trỗi dậy trong lòng mọi người, vì địa danh Tarempa này đã gắn liền với thân phận kẻ lưu vong.

Chúng tôi, nhóm Âu châu nhìn thấy biển thì thèm quá. Quanh năm tuyết giá hay có biển mà không tắm được vì nước quá lạnh đối với dân Á Đông. Chỉ có thể tắm biển vào mùa thật nóng. Mà thật nóng, thật nắng thì rất hiếm ở Âu Châu. Chúng tôi khăn áo ra đi tìm bãi tắm. Nhưng thất vọng, đành quay về ngồi đấu láo ở nhà khách đợi giờ cơm tối vậy.

Nhưng ban tổ chức cho hay có một vị Sư ghé chùa ở Tarempa làm lễ. Vị Sư này chỉ ghé đảo 2 lần mỗi tháng thôi. Thế là một số người chúng tôi rủ nhau lên chùa. Đường đi quanh co, lên dốc dần dần. Chùa xinh xắn nằm ngay ven biển. Rất nhiều thiện nam tín nữ, già, trẻ, đã ngồi chật cả niệm phật đường. Điều đáng ngạc nhiên là có khá nhiều trẻ em, trai, gái, ngoan ngoãn ngồi xếp chân bằng tròn, chăm chú niệm Phật (95 % dân Nam Dương theo Hồi Giáo). Các em đọc kinh làu làu và biết cách lễ ra sao, một cách rất thuần thục.

 

Tôi thấy David thiết tha lễ khắp các bàn thờ  trong chùa, mà chợt thấy thương cậu ta quá.
 

Khi hết khóa lễ, đến phần vị sư trẻ giảng giáo lý, vì không hiểu tiếng Nam Dương, nên chúng tôi ra về, khi trời đã tối, mà có cảm tưởng như vừa đi lễ đêm ở …Lăng Ông. Đoàn chúng tôi vui vẻ lần mò theo ánh đèn pin mà về nhà trọ.

Quán ăn là một nhà sàn trên nước. Món ăn Nam Dương nhà quê chỉ là mì xào với … ớt và … nước mầu nâu nâu, thêm lơ thơ vài sợi thịt gà. Hotel chỉ là một loại nhà khách, nhưng tươm tất. Phía trước, trên cao, có treo một biểu ngữ viết tiếng Anh “Tarempa ngày 11/04/2009, chào mừng phái đoàn thuyền nhân VN đi hành hương Kuku, quần đảo Anambas”.

Phòng ngủ sạch sẽ, có gắn một cái quạt trên trần nhà. Cái quạt điện này là loại đáng lẽ để bàn. Đặc biệt phòng tắm chỉ có duy nhất một bể nước và một cái gáo nhựa. Phòng vệ sinh vẫn còn theo kiểu Tây Phương, không phải ngồi xổm.

Giấc ngủ đến mau vì mệt mỏi.

* * * * *

Phần 08 : Ngày 12/04/2009 (Vân Hải đọc)

Sáng hôm sau, tức ngày 12/04/2009, lại lục tục ăn sáng với … mì xào ớt, cà phê sữa đá. Ban đầu có người e ngại không dám dùng đá cục ở đây, nhưng sau rồi ăn uống thả cửa, chẳng ai … có chuyện gì cả. Có lẽ ăn ớt nhiều quá, nó khử hết cả rồi.

Theo đúng “chỉ thị” của ban tổ chức, tất cả trang bị theo căn dặn, quần dài, áo dài tay, đi giầy, đi dớ, để sẵn sàng đi Kuku, đối đầu với rừng già nhiệt đới, với muỗi đói, tìm mộ phần và thu nhặt di vật thuyền nhân VN.

Tầu thuỷ tốc hành lại đề pa trong sự mong ngóng thấy rõ trong mọi cử chỉ, mọi câu chuyện, mọi ánh mắt. Mặc dù chỉ là nơi tạm dung thân trong một thời gian ngắn ngủi, vài tuần hoặc vài năm là nhiều lắm, nhưng trong thời gian này con người ta, tức thuyền nhân tỵ nạn CSVN, đã phải sống rất cô đọng, tích cực tối đa, nên tuy ngắn ngủi so với đời người còn lại, mà nơi đây đã để lại một vết chàm sâu đậm trong ký ức, trên thân thể thuyền nhân.

Địa Ngục Môn hay Ngưỡng Cửa Tự Do, chúng tôi chỉ còn xa cách trong gang tấc mà thôi.

Mọi người nhốn nháo nhìn bờ biển khu vực LeTung tiến lại gần. Tầu ghé vào bến. Mọi người lục tục lên bờ. Anh Vinh lấy cái mũ vải ra đội. Cái mũ này anh đã đội một lần duy nhất khi dời Kuku đi định cư, 30 năm về trước. Nhờ ơn Trời Phật, anh Vinh vẫn còn mạnh khoẻ để tham gia chuyến hành hương trở về Địa Ngục Môn hay Ngưỡng Cửa Tự Do ngày hôm nay, và vẫn còn cái mũ để đội.

LeTung, tỉnh lỵ của đảo Jamayja cũng không lạ lùng gì với dân vượt biển đã ở Kuku hay Air Raya. Những thuyền nhân còn chút tiền vẫn đi thuyền đến LeTung để mua thực phẩm và gạo. Những thuyền nhân nghèo, không một xu dính túi, mà còn sức lực, thì cũng đi theo thuyền đến LeTung để … khuân vác giúp thuyền nhân có tiền mua thực phẩm, chắc chắn sẽ được chia chút gạo, mắm, muối gì đó, sống qua ngày chờ đợi đi định cư. Hồi đó anh Vinh cũng có theo thuyền đến LeTung rồi.

Mọi người xôn xao trên bến cảng. Nào chụp ảnh, nào đi vào bên trong đảo, nhìn các cửa tiệm … ngày xưa. Chắc chắn nhiều kỷ niệm đang tràn về. Không khí đang hào hứng bỗng trở nên bi quan khi nhìn bộ mặt hầm hầm của một người địa phương. Anh trưởng hải cảng LeTung. Tiếng cười nói rộn ràng bỗng giảm hẳn đi. Vài lời xầm xì, dặn bảo nhau bớt hăng say đi một tí vì hình như cảm giác khó chịu đang bủa vây. Quả đúng như thế. Lệnh vua thua lệ làng. Tuy có phép tắc di chuyển đầy đủ rồi, nhưng ... anh trưởng hải cảng chưa cho phép thì vẫn chưa được … nhúc nhích. Anh trưởng hải cảng, mặt nặng chình chịch như cái mâm đồng đen cho lệnh phải chờ, vì trời có mây đen, có thể có … bão.

Ối trời ơi, Ngưỡng Cửa Tự Do ngay kia rồi mà vẫn còn mang vẻ u ám của Địa Ngục Môn. Thế cho nên tôi vẫn luôn luôn ý thức rằng cánh cửa có 2 mặt, mặt trong là phía địa ngục và mặt ngoài mới là phía tự do. Phải cẩn thận tối đa. Không nên rỡn mặt với nó. Chỉ cần một sơ sót nhỏ nào đó, con người kia có thể “trở mặt” ngay. Mặt mâm đồng đen hay mặt mâm đồng sáng chỉ trong một phút giây. Ấy là đã đến Nam Dương, bến bờ Tự Do rồi đấy. Đột nhiên trong tôi vươn lên một niềm chua chát cho thân phận thuyền nhân. Thoát địa ngục, mỉa mai thay địa ngục lại chính là quê hương mình, vượt trùng dương, thoát hải tặc, đến được bến bờ này mà vẫn còn y như con cá đang nằm trên tấm thớt. Thật tội nghiệp.

Nhóm VN hành hương Kuku vội vàng bảo nhau tốp bớt hăng say. Ồn ào, nhắng nhít thái quá, ngứa mắt, anh trưởng hải cảng chơi xấu, không cho đi Kuku nữa, thì mộng sẽ tan tành như mây khói. Eddie, anh dẫn đường người Nam Dương xun xoe bên cạnh anh đồng hương trưởng hải cảng để lấy lòng… đàn anh, bề trên.

Anh trưởng hải cảng vừa ra lệnh chờ thì cơn mưa trút xuống. Anh ta ưỡn ngực nhìn mọi người ra cái điều “thấy chưa? đã bảo trời xấu mà”. Nhóm VN tiu nguỷu đành thúc thủ chui vào trong mái nhà đợi. Vài người đánh bạo gạ hỏi anh trưởng hải cảng vị trí chính xác của Kuku. Được hỏi han đến món chuyên môn của mình, anh ta mặt mũi như nở hoa, cho vào văn phòng để nhìn cái bản đồ vùng đảo và biển này. Thế là những ai còn thắc mắc về vị trí của Kuku và Air Raya, đã được thoả mãn. Tôi cũng chụp vài tấm ảnh bản đồ này để vào hồ sơ vượt biên của tôi, để kỷ niệm.


Hình trên đây là sơ đồ của Pulau (Đảo) Jemaja, thuộc Quần Đảo Anambas của Nam Dương
Toạ Độ khái quát của 3 địa danh : Kuku N02°53,24 + E105°41,57 ; Letung N02°59,38 + E105°42 & Air Raya N02°42,26 + E 105°42,10

Nhưng cái gì cũng có Trời sắp xếp. Cơn mưa không dai, chỉ vài phút sau trời lại nắng chang chang. Anh trưởng hải cảng ngoắc anh dẫn đường lại, nói vài câu. Mặt anh dẫn đường bỗng nở ra, rạng rỡ. Ngài Ngự cho phép ra đi rồi, em cám ơn Ngài Ngự.  

Mọi người lại hân hoan xuống tầu tốc hành. Chỉ một loáng, con tầu lại cưỡi sóng tiến về Địa Ngục Môn. Càng đến gần những máy quay phim, máy ảnh đều chĩa hết ra các cửa sổ.  


Khu vực "Lăng"Bác Tôn


Khu vực "Lăng" Bác Hồ

Kuku đây rồi. Kuku bây giờ không có một cây dừa nào vươn lên cao hơn các cây to khác như ngày xưa. Bây giờ nhiều cây to cây nhỏ mọc tràn lan ra tận sát bờ nước. Xanh um và không một bóng dừa. Kìa là khu vực cao uỷ, nơi định đoạt thân phận tỵ nạn CSVN, phía sau khu này là "lăng" bác Tôn, còn bên đối diện kia là … "lăng" bác Hồ. Ai ở Kuku không cần nói rõ hơn, cũng biết hai lăng đó là nơi sáng sáng bà con thuyền nhân vẫn thường ra thăm viếng để trút bầu tâm sự. Cầu tầu không còn nữa, chỉ còn một khúc cây nằm nghiêng trên mặt nước và hai cái cọc còn đâm sâu trong cát. Những người đi tìm mộ thân nhân bỗng thấy … hết hồn, vì cây rừng già nhiệt đới mọc kinh khủng quá, xoá hết vết tích xưa, làm sao mà tìm đây ? làm sao mà định lại vị trí ? Những người đi tìm nơi chốn cũ, kỷ niệm xưa cũng ngỡ ngàng. Dĩ vãng hầu như bị xoá sạch bởi cây cối xanh rì hung hãn sống.  

Một số thanh niên lại tái diễn màn từ trên tầu nhẩy xuống nước mà bơi, mà lội vào bờ, như 30 năm về trước, khi mới chỉ là những cậu bé 10, 11, 12, 13 tuổi. Rồi các bà các cô thì cũng được diù xuống thuyền dân địa phương rồi đẩy thuyền sát vào bờ, thì chỉ còn nhẩy lên cát thôi.

Bỗng nghe tiếng hát của nhóm Bee Gees vang lên trên cái đảo hoang này. Hóa ra Chung đã chuẩn bị đem theo cassette và đã vặn lên để nhớ lại ngày nào dù còn nhỏ đã say mê nhạc của mấy anh em này. Có đến 5, 6 người địa phương giúp khuân vác và dẫn đường vác dao mã tấu để phạt cây rừng. Phái đoàn cứ xếp hàng một đi theo nhau như đàn kiến. Ngoằn ngoèo đi sâu vào trong đảo. Những cái tu huýt được đeo ngay ở cổ. Mọi người bắt đầu nhờ người có dao chặt cành cây làm gậy chống. Theo hướng chỉ của người dẫn đường đầu đoàn, cả bọn khoảng hơn 30 người đi dần về phía ngày xưa có sân trực thăng, ở trên núi. Người đội thùng thức ăn, kẻ vác thùng thức uống, người khuân hai valises nặng chứa toàn là giấy vàng mã của David mua để cúng mẹ và các vong linh. Người nào cũng mũ che đầu, ba lô trên vai, túi xách sau lưng vui vẻ vừa đi vừa chụp ảnh, vừa quay phim. Tưởng như đang đóng phim thám hiểm đường rừng. Người đi tìm mộ phần thì hồi hộp, lo lắng sẽ phải bắt đầu tìm từ chỗ nào.

Đã đi đến con suối. Ngày xưa cứ lấy nước đun, cứ tắm, cứ giặt ở đấy. Phải lội qua suối bì bõm, cứ lội luôn cả giầy dớ, quần áo ướt loi nhoi. Rồi đến khúc phải leo núi, càng lúc càng gian nan, càng lúc càng dốc ngược và trơn trợt. Phải nắm, phải níu, phải đu, phải kéo, mới nhích lên được vài bước. Cuối cùng sân bay trực thăng bằng xi măng hiện ra. Mọi người thở dốc, mồ hôi vã ra như tắm. Trời vẫn nắng chang chang. Nhưng độ ẩm rất cao nên quần áo không khô nhanh được, người cứ nhơm nhớp.

Chấn trải cái chiếu mới mua ra sân xi măng, đặt cái chuông với cái dùi bên cạnh quyển kinh. Cái chuông và cái dùi là của ba tôi, tức là ông ngoại của Chấn…truyền lại cho Chấn.

Những người khác, mỗi người một tay, bầy trái cây, bánh kẹo, vàng mã, hương nhang, đèn cầy, đủ cả.

Anh Đông trưởng đoàn và cũng là giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân VN, ban tổ chức, đứng giữa xướng kinh, để mọi người đọc theo. Không khí trang nghiêm. Ai cũng xúc động khi anh Đông khấn rằng “chúng tôi, một nhóm người từ nhiều quốc gia, đến đây cầu xin Trời Phật tiếp dẫn tất cả các vong linh của những thuyền nhân kém may mắn bỏ mình lại nơi này. Hôm nay chúng tôi đến đây đọc kinh cầu xin chư hương linh được về nơi an lạc và xin Trời Phật giúp cho chuyến đi này được suông sẻ, những người đi tìm mộ người thân được như ý”.

Trong không gian nơi rừng già nhiệt đới, phía sau lưng là  núi rừng trùng điệp, phía trước mặt là biển khơi vô tình, dưới ánh nắng và hơi ẩm, vang vang tiếng tụng niệm thiết tha đầy chân tình của các cựu thuyền nhân VN, điểm những tiếng chuông, tiếng khánh thanh thoát, khiến ai nấy đều cảm động. Chợt nhớ đến thân phận may mắn của mình so với những oan hồn cô quạnh bị ở lại nơi đảo hoang này.  

Trong khi đó thì anh Triệu và 2 người em cột chèo, Tước và Tài, đi tìm mộ chị Thu Minh là vợ mới cưới của anh Triệu, vào năm 1982. Anh Triệu, chị Thu Minh vừa lấy nhau được 2 tháng, dắt díu nhau vượt biển từ Cần Thơ. Chuyến đi chót lọt đến Nam Dương, Kuku, năm 1982. Ít lâu sau thì chị Thu Minh bị bịnh sốt rét. Nhưng vì chị có bầu nên không dám uống thuốc. Hai tháng sau thì chị mất. Anh Triệu chôn cất vợ con ở gần sân trực thăng. Có đánh dấu cẩn thận. Hôm nay, vừa đến sân trực thăng là 3 anh em bủa ra đi tìm. Họ đã tìm được mộ phần của chị Thu Minh, nhờ vào sự ghi nhớ vị trí, mặc dù tất cả  những đánh dấu ngày xưa đã mất hết. Anh Triệu tin chắc rằng nhờ gia đình ở VN đã đọc kinh cầu nguyện ròng rã mấy tháng trời trước khi ba anh em đi Kuku. Chắc chắn là phải nhờ ơn Thượng Đế. Cùng lúc đó, 2 anh em Huỳnh cũng đi tìm mộ cha ở khu vực quanh đây. Nhưng chẳng thấy ngôi mộ lớn xây xi măng nào cả để từ đó có thể suy diễn ra vị trí mộ của cha mình. Riêng David cũng đi tìm nhưng không nghĩ sẽ tìm thấy ở phía sân bay, hy vọng sẽ là phía chùa, tức là phiá bên phải của bãi biển, nếu đứng nhìn ra biển.

Sau khi cúng lễ và sau khi làm lễ theo Thiên Chúa giáo với gia đình anh Triệu đã vừa tìm ra mộ của vợ, cả nhóm lo ăn uống để còn lấy sức đi giúp 2 gia đình chưa tìm được mộ phần.

Anh Eddie người hướng dẫn Nam Dương cuống quít lên vì thấy số người dân Nam Dương đến giúp đông hơn dự tính và nhiều hơn phần ăn mang theo. Những người VN bèn đồng ý có bao nhiêu cứ mời dân địa phương đi, nếu còn lại người VN sẽ chia nhau. Cuối cùng mọi người không nhiều thì ít cũng có cái gì dằn bao tử. Đặc biệt mấy anh em Tước, Tài lấy ra đãi mọi người bánh chưng nhà gói từ VN, có cả dưa mắm, củ kiệu. Không có chén bát và đũa, bà con cứ bóc lá, bẻ bánh, mỗi người nhéo một miếng, rồi thản nhiên bốc củ kiệu dưa mắm, ăn ngon lành ... Thật là ngon chưa từng thấy. Mùi vị quê hương trôn lẫn với khung cảnh núi rừng hoang đảo và tình thân ái, khiến cho miếng bánh trở nên quá độc đáo. Lại chia nhau trái cây, lộc Phật vừa cúng vái.

Dọn dẹp xong sân bay. Hương khói nhang thơm còn vương vất trên ngôi mộ vợ anh Triệu và vài ngôi mộ khác gần đó, thì mọi người chia thành hai nhóm. Nhóm A theo anh Đông đi tìm mộ của cha anh em Huỳnh bên sườn núi. Nhóm B theo anh Sơn đi tìm mộ của má David, phía chùa.  

Anh Vinh, Chung, Thuý và tôi theo anh Sơn xuống núi, lên chùa. Ngày xưa hồi tháng 07 tháng 08/1979, khi chúng tôi đã ở Kuku, dân tỵ nạn bắt đầu xây chùa, nhà thờ, bệnh viện, trường học, cầu tầu, hai cầu tiêu hai bên bãi biển, tất cả bằng gỗ. Mỗi gia đình tuỳ hỉ đóng góp một thân cây. Nhưng bây giờ, 30 năm sau, tất cả đã bị đốt cháy rụi, không còn vết tích bao nhiêu. Nhưng chúng tôi vẫn phải căn cứ vào địa hình ngày xưa để kiếm tìm.  

Lúc đầu đường đi còn khá dễ dàng, càng đi sâu vào rừng, càng khó khăn. Lại phải băng qua suối, ở khúc khác. Chỗ này dốc bên kia rất cao và trơn, lại không có nhiều cây bên cạnh bờ để níu kéo.

Bốn người chúng tôi đành ở lại, không thể theo phái đoàn được nữa. Vài người gửi lại chúng tôi túi xách, vì cũng bắt đầu cảm thấy túi nặng hơn thêm sau mỗi bước chân rồi. Chúng tôi đem những đồ đạc này đi trở lui đến một gốc cây to, dừng lại chờ ở đó. Trong thời gian này, chúng tôi đi tìm di vật của thuyền nhân. Nhặt được 4 vòng tròn bằng sắt dùng để căng bạt nylon xanh do cao ủy tỵ nạn tiếp tế. Moi trong đất một mảnh bạt nylon xanh che mái chòi.  Sau đó chúng tôi tìm vị trí căn lều ngày xưa của mình. Đứng xây lưng về con suối và rừng, nhìn ra biển, tôi cho rằng mình đã nhắm đúng hướng và đúng nơi có lều. Chúng tôi chụp ảnh tại khu đất này.

Ngày xưa năm 1979, khu đất khá rộng tính từ bờ biển trở vào tới bìa rừng đều có lều chiếm kín hết cả. Có khoảng hơn 10 000 con người sống chui rúc ở đây. Chỉ có một vài cây to mọc trên đất cát và rất nhiều cây dừa cao vút, gầy guộc vươn cao lên trời. Những ngày mưa to, gió lớn, mọi người chỉ e sợ trái dừa rớt trúng đầu, chẳng chết cũng bị thương, hay cây dừa đổ làm xập chòi hoặc gây tai nạn chết người. Những con sóc biết bay lượn từ cây dừa này sang cây khác. Ruồi nhiều khủng khiếp, nên Kuku còn mang tên đảo Ruồi. Chúng bu đen kín các lùm cây và phá khuấy thuyền nhân trong các bữa ăn, nếu không trốn trong màn và lôi thôi ruồi có thể bay vào miệng dễ dàng. Ít lâu sau, cao uỷ tỵ nạn cho nhân viên đến xịt thuốc thì ruồi không còn nữa, nhưng muỗi vẫn còn đủ để làm chết người. Nhưng giờ đây, bãi đất không còn một vết tích gì về những cây dừa, kể cả gốc dừa bị chặt cũng không còn. Như thế ngoài việc đốt hết các chòi, cầu tầu, kể cả phá chùa, phá nhà thờ, để giữ vệ sinh, nhà cầm quyền địa phương đã cho bứng cả gốc dừa lên, rồi để cho cây hoang tự do mọc. Ngày nay cỏ tranh đã mọc cao lên tới gần bụng người và cây rừng nhiệt đới mọc tràn lan ra tới sát nước biển.  

Ngồi nghỉ một chặp, chúng tôi xách hết đồ đạc ra bờ biển. Có một nhà chòi của dân địa phương. Phía nhà cao uỷ cũng chẳng còn vết tích. Nghe tiếng người, chúng tôi tiến thêm ra thì thấy nhóm anh Đông đang tắm biển, phía nhà cao uỷ. Được biết vẫn chưa tìm được mộ cha của anh em Huỳnh. Nhân tiện quần áo dính đất cát bê bết và trời nóng hầm, chúng tôi cũng nhào xuống nước. Ôi đây là lần đầu tiên chúng tôi tắm ở ngay bãi Kuku. Ngày xưa biển ở ngay đây dơ bẩn lắm, vì quá đông người, không bao giờ chúng tôi xuống nước. Chúng tôi chịu khó lặn lội đi bộ, leo qua bên kia rặng núi nhỏ, có một bãi biển thần tiên, nước trong như lọc, lại có một giòng nước ngọt chẩy ra từ gốc một cây dừa. Đấy là nơi chúng tôi thường đi …picnic trong 6 tháng sống tại Kuku. Chúng tôi đặt tên bãi đẹp này là Kuku 2.  

Khoảng 15 phút sau thì nhóm anh Sơn, trong đó có Chấn, đi tìm mộ David về tới, thông báo một tin vui. David tìm thấy mộ của mẹ rồi. Nhìn thấy tấm bia có khắc tên mẹ và ngày tháng năm mất. Mọi người mừng cho David. Tìm được mộ mẹ của David là một chuyện thật ngẫu nhiên. Cả đoàn đã quá mệt, bèn nghỉ lại gần những tảng đá. Carina Oanh loay hoay lật vài tảng nho nhỏ. Bỗng cảm thấy như là bia mộ. Vội thông báo với những người khác. Oanh lật lên một tảng đá, gạt rêu bám, lấy nước rửa sạch thì thấy khắc tên bằng chữ Hoa. Ông Hồ Tắc biết đọc, nên đọc thấy ngay tên bà xui gia của mình, tức là mẹ của David. Thật là một nhiệm mầu, vì David không có một điểm chuẩn nào về nơi chôn cất mẹ. Tất nhiên không thể kể hết nỗi xúc động của người con chí hiếu đó.

Tất cả sẽ trở lại Kuku ngày mai để bốc mộ chị Thu Minh và mẹ của David. Rồi tiếp tục tìm mộ cha của hai em Huỳnh.

Nhờ tắm biển nên cái mệt tan biến mất. Chúng tôi lên tầu trở về LeTung ngủ qua đêm.

Một ngày qua đi với nhiều vất vả, rồi lo âu, hồi hộp, vui mừng và thất vọng. Buổi tối đoàn chúng tôi ăn cơm với ông cao uỷ về hưu biết nói tiếng VN và ông trưởng hải cảng, thêm ông cảnh sát trưởng LeTung nữa. Ông cảnh sát trưởng tặng mỗi người một sâu chuỗi, ông trưởng hải cảng tặng chị em cô Oanh hai vỏ ốc thật to. Ông cao uỷ về hưu cho biết có khoảng 2 000 thuyền nhân VN chết tại vùng quần đảo Anambas này và có khoảng 150 000 người VN tỵ nạn ở các đảo Nam Dương.

Tôi lại thấy cái tên Địa Ngục Môn không quá đáng. Thần Chết đã ở ngay trên quê hương mình, đội lốt cán ngố theo sát làm khổ người dân khiến họ phải bắt buộc trở thành thuyền nhân tìm đường ra đi,  rồi Thần Chết qua hình dáng khủng khiếp của hải tặc, bão tố và bệnh tật, theo đến tận các cô đảo xa xôi, chẳng ai biết tới nhưng Thần vẫn biết và Thần Chết đã tới lui các đảo đó để đem hồn vía người yếu đuối đi xa. Cho nên hôm nay những cựu thuyền nhân như đoàn chúng tôi mới cần trở lại các cô đảo kia để cúng vái, xin Thượng Đế tiếp dẫn vong linh các oan hồn kia về nơi An Lạc.

* * * * *

Phần 09 : Ngày 13/04/2009    (Vân Hải đọc)

Ở LeTung, phái đoàn cũng chia ra 2 nhóm ở 2 nhà khách gần nhau, như ở Tarempa. Nhóm gia đình và nhóm độc thân. Anh Vinh và tôi là 2 người lớn tuổi nhất nên bao giờ cũng được ưu đãi. Phòng có giường, có quạt hay có máy lạnh. Ở đây phòng vệ sinh là loại ngồi xổm. Thật ra cách này thuận tiện và sạch sẽ hơn, nhưng vì đây là xứ Hồi Giáo, và có lẽ cũng vì là xứ nghèo nên không có giấy vệ sinh, chỉ dùng nước để rửa ráy. Cũng vì thế mà nhà vệ sinh khi nào cũng lép nhép, lõng võng nước. Sàn thì là đá hoa, nên trơn trợt, rất nguy hiểm.

Quần áo giặt đem phơi cả ngày ngoài nắng cũng không thể khô trong ngày, vì độ ẩm quá cao, 86 % (theo Google). Xóm chài LeTung cũng rất … thơ mộng. Cảnh nhà sàn soi mình trên nước vào lúc nắng quái chiều hôm cũng rất nên thơ hay vào lúc nắng còn non trên đầu núi xa xa. Những con thuyền mảnh dẻ, thuôn thuôn, sơn nhiều mầu sặc sỡ nằm gần nhau đợi ra khơi. Dân LeTung đã tiếp xúc với người VN thuyền nhân trước đây rồi, nên khi nghe chúng tôi nói chuyện với nhau, họ cười cười nói « Việt Nam ». Chúng tôi cũng cười gật đầu chào bằng tiếng Việt, rồi tiếng Nam Dương vừa học được, selamat pagi, khiến họ cười vui. Một lần tôi vào mua nải chuối, Xuân Hương mua gói bánh quy, bà chủ quán cười cười ra dấu cho chúng tôi đợi rồi chạy vào nhà trong, lục ra một tấm carton có ghi giá tiền bằng tiếng VN, vừa chỉ vào đó vừa bập bẹ nói để chúng tôi biết giá. Xem ra họ có vẻ thân thiện với người VN. Qua đó, mình có thể hiểu rằng những thuyền nhân VN trước đây ăn ở đàng hoàng với họ nên họ còn giữ mãi cảm tình.  

Sáng hôm nay, anh Đông nhắc lại sẽ trở lại Kuku để bốc 2 ngôi mộ rồi hoả thiêu và tiếp tục tìm kiếm ngôi thứ ba của anh em Huỳnh. Mọi người lo ăn sáng rồi chuẩn bị lên đường. Lại vẫn mì xào hay cơm chiên với … ớt. Mấy ngày trời rồi không ăn một cọng rau nào, cứ cá chiên, cá nướng, mì xào ớt với ớt xào mì suốt. Tôi cảm thấy sót bụng quá trời. Tìm khắp mấy sạp chợ cũng không ra một bó rau xanh nào. Mua được hai nải chuối thì mừng hết lớn.  

Tầu thuỷ tốc hành lại đổ chúng tôi xuống Kuku. Hôm qua chúng tôi quá mệt vì leo núi lên sân bay, xong lễ lại leo xuống, nên đã bỏ cuộc ngồi lại bên bờ suối thay vì đi tìm mộ với David. Hôm nay không phải lên sân bay nữa, nên có sức trèo non lội suối đến tận mộ mẹ của David. Anh Đông và chúng tôi lại tụng kinh, David đốt vàng mã, trước khi bốc mộ. Hai người Nam Dương thay nhau đào xới. Trong khi nhóm này lo mộ của mẹ David thì nhóm anh Triệu cũng cho người đào mộ của chị Thu Minh. Mấy em Huỳnh và vài người khác vẫn lang thang đi tìm mộ người cha.

Phía David đào sâu đến khoảng 80 phân thì bắt đầu thấy áo quần. Thêm chút nữa, thấy vài mảnh chiếu. Tất cả đã mục. Tiếp tục đào sâu hơn và rộng hơn, cho đến khi sâu đến ngực người phu rồi mà tuyệt nhiên không thấy một lóng xương nào. Hôm qua David mừng quá vì tìm ra được mộ của mẹ. Sáng hôm nay, cậu ta cũng hồi hộp việc bốc mộ. Yên chí sẽ tìm thấy xương cốt để hoả táng đem tro về Cali. Ai ngờ đào đã sâu và khá rộng mà tuyệt nhiên không có gì ngoài ít áo quần và manh chiếu. Trời bỗng đổ một cơn mưa thật to và dai dẳng. Mọi người kẻ che dù, người đội áo mưa, kẻ chui vào mái bạt nylon do anh em Huỳnh căng ra kịp thời. David cứ đứng dưới mưa, ướt như chuột, đốc thúc hai người phu đào tiếp. Nhưng vô phương tìm thấy xương cốt. Chẳng biết David có khóc hay không, nhưng những giọt nước trời đã thay cho nước mắt người con hiếu thảo đổ xuống lòng mộ huyệt trống trơn nơi hoang đảo.

Trong khi đó thì phía anh Triệu đã nhìn thấy bao nylon quấn xác người vợ đầu. Lôi cả cái bao lên, mở ra thì thấy đầy đủ bộ xương người, kể cả các di vật của người đã khuất như gương, lược và cái nhẫn cưới. Anh Triệu mang xương cốt vợ xuống bãi biển để hoả thiêu.

Cố gắng hết mình mà vẫn không tìm thấy hài cốt, David đành cho lấp đất lại và đem những mảnh áo quần xuống biển giặt giũ rồi đem thiêu. Than đã hầm sẵn sàng rồi. Ít ra một trong ba gia đình đã được như ý. Mọi người khuyên David đừng nên buồn, trước đây còn chẳng có chút hy vọng nào tìm thấy mộ  phần. Nay đã tìm thấy tấm bia và áo quần. Cứ nên nghĩ rằng mẹ của David đã siêu thoát, nhất là trước sự hiếu thảo của người con. Riêng các anh em Huỳnh cũng đã bỏ ra hai ngay ròng rã đi tìm mà không thấy, cũng đừng nên buồn. Cứ nghĩ rằng ba của các em đã về nơi an lạc, mộ chí hay thân xác chỉ là phù du. Trước sự hiếu thảo của các con, trước sự thành công của các con, như ý ông mong ước khi đem các con vượt biển, thì dù ở đâu, ông Huỳnh chắc chắn cũng vui lòng.

Những nén nhang cuối cùng toả hương thơm trên các mộ chí và bãi biển. Mọi người chuẩn bị trở lại LeTung.  

Riêng Chấn vẫn mong ước được nhúng mình xuống bãi Kuku2 là nơi gia đình tôi đã picnic trong những tháng ngày sống tại Kuku, trong khi chờ đợi được đi định cư tại Pháp, vì đã ghi tên với phái đoàn Pháp, là phái đoàn đến Kuku trước tiên. Anh Đông, anh Eddie đều đồng ý cho tầu ghé vào bãi đó. Quả thật không làm mọi người thất vọng. Một bãi cát nhỏ xinh đẹp với vài cây dừa, nước trong xanh như lọc vờn miên man. Chấn chịu không nổi, không đợi tầu ghé lại gần hơn, đã nhẩy ngay xuống và bơi vào. Những thanh niên khác cũng làm theo. Rồi đến những người đứng tuổi hơn và cả chúng tôi cũng náo nức muốn nhúng người vào làn nước tinh khiết kia. Thời gian tắm ở đây quá ngắn ngủi vì phải trở về trước khi trời tối. Mọi người tiếc nuối. Để an ủi, anh Eddie hứa hẹn sẽ cho đi tắm ở một bãi khác … đẹp hơn.  

Buổi tối ở LeTung lại tưng bừng nhậu nhẹt và đàn ca, kể chuyện vui rồi karaoké nữa. Những tài năng được dịp trổ tài. Những ban song ca, tam ca, tứ ca, tha hồ biểu diễn thoải mái. Anh chàng trưởng hải cảng cũng trổ tài ca hát. Ông Hồ Tắc, người Hoa Chợ Lớn, nhưng nói tiếng Việt không thua người Việt trổ tài ca múa Hồ Quảng. Cả đoàn thỉnh thoảng lại trêu ông này mà gọi là … hồ tặc. Cũng như những ai đã ở Kuku đều quen dùng danh xưng « lăng bác Hồ và lăng bác Tôn » để chỉ 2 cầu tiêu được dân tỵ nạn xây lên ở 2 bên bãi biển.

Bài 1    Bài 2     Bài 4