Hồi Ký Phóng Sự :
Trở Về "Địa Ngục Môn" Kuku, Nam Dương Bài 2/4
Tác giả : Vân Hải Paris, 2009/05/02 

Bài 1    Bài 3     Bài 4

Phần 4 : Ngày 06/04/2009 (Vân Hải đọc)

Trong chuyến bay từ Hồng Kông đến Jakarta, chúng tôi theo dõi màn ảnh nhỏ chỉ dẫn đường bay, gắn ở lưng ghế phía trước. Chúng tôi cảm động nhìn chiếc máy bay nhích đi trên không phận Việt Nam. Máy bay bay xeo xéo từ đảo Hải Nam băng trên vùng vịnh Bắc Việt, vùng đảo Hoàng Sa, rồi Đà Nẵng, Quy Nhơn, Sài Gòn và cuối cùng băng trên không phận hải trình vượt Biển Đông của chúng tôi.

Nhìn hình dáng chữ S của Việt Nam, nhìn thấy những địa danh VN ghi trên màn ảnh, lòng chúng tôi thắt lại. Anh Vinh và tôi cùng nắm lấy tay nhau … Buồn. Đây là lần đầu tiên sau 30 năm xa quê hương, chúng tôi bay ngang hoàn toàn không phận VN từ Bắc xuống Nam, bay ngang qua cả vùng biển của lịch sử Thuyền Nhân. Chỉ bay ở trên, mà chưa thể tự cho phép mình … đáp xuống được.

Vừa bước ra khỏi phi cảng Jakarta, vào 1 giờ trưa ngày 06/04/2009, thì trời sa sầm đen thui và mưa như trút. Đang lu bu với các hành lý và định tìm taxi về hotel, thì một người đàn ông địa phương đứng tuổi chạy đến, nói rằng hotel cử ông ta ra đón chúng tôi. Rất ngạc nhiên vì khi giữ phòng qua vi tính, không thấy mục đón tại phi trường, nên chúng tôi vặn hỏi mấy lần, ông này quả quyết hotel Mercury cử ông ta ra đón 4 người đến từ Pháp. Xưa nay vẫn thấy các hotel hạng sang cử nhân viên ra phi trường đón khách, mà hotel của chúng tôi cũng thuộc loại 4 sao, nên sau khi nghe ông kia quả quyết, chúng tôi bèn theo ông ta ra taxi. Ông ta leo lên ngồi bên cạnh tài xế, 4 người chúng tôi ngồi 2 hàng ghế sau. Chạy một quãng ngắn, ông ta xòe ra một hoá đơn bảo chúng tôi đóng tiền, 400 ngàn roupias (lối 27 eur) tiền chuyên chở. Rất ngạc nhiên, chúng tôi nhất định không chịu, nhưng ông ta bảo hotel đã có khế ước như thế, khách trả tiền trực tiếp, y như kêu taxi vậy. Trời thì vẫn đen thui và mưa rất lớn, đã lỡ ngồi trên xe rồi, trước sau đằng nào cũng phải trả tiền, vậy thì trả cho xong. Tiền vừa cầm trong tay, ông ta tụt luôn xuống khỏi xe, mặc dù trời mưa. Chúng tôi chưng hửng, biết là bị mắc lừa, tức tối không chịu được. Lại lo còn phải trả tiền anh chàng taxi nữa chứ. Nhưng khi đến hotel thì anh taxi không đòi thêm tiền chi cả. Hoá ra cả hai là đồng lõa của nhau. Vào quầy ghi tên của hotel thì thấy bảng ghi giá hotel chuyên chở 200 ngàn roupias một người. Như thế người đàn ông kia thông đồng với anh taxi nọ nẫng tay trên hotel, ăn nửa giá của hotel, nhưng vẫn cao hơn 4 lần giá đi taxi, chỉ mất khoảng 100 ngàn thôi. Rất may đồng tiền Nam Dương rẻ như bèo so với tiền Âu kim, 1 âu kim bằng 14 500 roupias, nên sự tức tối cũng nhẹ đi nhiều. Có điều là bớt cảm tình với dân địa phương, mà trước đây khi tiếp xúc với những người ở đảo tỵ nạn, chúng tôi vẫn dành cho họ nhiều quý mến về tính tình chất phác, thật thà của họ. Chúng tôi quên rằng 30 năm đã trôi qua, lòng người cũng có nhiều thay đổi, cùng với tình hình thế giới, càng lúc càng căng thẳng và khó khăn.
 

Đặt hành lý xuống, rửa mặt xong, chúng tôi lập tức lấy taxi đến tòa đại sứ Pháp tại Jakarta ngay. Đúng ngày giờ đã hẹn, chúng tôi đến tìm anh Bernard, người Pháp gốc Ấn Độ, là nhân viên toà đại sứ, là bạn học cũ của con trai thứ của chúng tôi, người mà tôi đã liên lạc qua e mail trước khi ra đi. Tôi nhờ Bernard tìm địa điểm của nhà dưỡng lão mà cách đây 30 năm chúng tôi đã ở, đợi ngày đi định cư tại Pháp. Khi ở nhà, tôi đã tìm trong Google rồi, nhưng e ngại không chính xác, nên cần gặp Bernard ở ngay tại Jakarta để hỏi cho chắc hơn. Bernard tiếp chúng tôi trong phòng làm việc, kéo thêm anh Pardi, người Nam Dương nữa. Cả hai anh trải bản đồ ra bàn để tìm. Họ cho biết khu vực tên Gudang Air có trên thực tế và nếu như đúng là khu vực mà chúng tôi đã ở, thì cách trung tâm Jakarta không xa lắm, phía Đông Nam, khoảng ½ giờ xe. Nhưng chúng tôi chỉ biết đó là một khu nhà dưỡng lão mà không biết địa chỉ rõ ràng, nhưng có được một tấm hình. Làm sao mà tìm cho ra ? Hai anh nhân viên có vẻ e ngại cho chúng tôi, vì gần như một chuyện không tưởng.

Hai anh càng kinh ngạc khi chúng tôi nhờ các anh chuyển lời cảm ơn của chúng tôi đến hết tất cả nhân viên trong toà đại sứ Pháp tại Jakarta này. Tôi bèn giải thích để hai anh chàng này hiểu, ngày xưa, trong khi ở 1 tuần tại Gudang Air, chúng tôi có đến toà đại sứ. Tại đây anh Vinh vô tình gặp một nhân viên trẻ khoảng 25 tuổi. Anh Vinh cho biết là tỵ nạn CS, sắp đi Pháp và ngỏ ý muốn mượn cái máy chụp ảnh để chụp gia đình tại Jakarta. Người nhân viên này cho mượn ngay một máy ảnh mà chẳng thắc mắc gì hết. Nhờ thế mà chúng tôi có được 24 tấm hình ở Jakarta. Nhưng với thời gian, với tuổi tác, anh Vinh đã quên mất tên người nhân viên tốt bụng nọ. Có thể ông ta sắp về hưu hay đã đổi đi nơi khác làm việc. Vì vậy thôi thì nhờ hai anh này chuyển lời cảm ơn của chúng tôi, cũng như lần trở lại Jakarta này nằm trong chuyến hành hương Kuku, nơi chúng tôi tỵ nạn, 30 năm về trước.

Ở toà đại sứ ra, tôi còn nhờ Bernard dẫn đi ra chỗ in hình ảnh, vì tôi cần in ra hình khổ lớn những hình ảnh liên quan đến cuộc vượt biển của chúng tôi 30 năm về trước, để sau này tôi sẽ tổ chức triển lãm di vật và kỷ niệm về Thuyền Nhân VN tại Paris, nhân ngày Quốc Hận.  Bernard rất sốt sắng giúp.

* * * * *

Phần 5 : Ngày 07/04/2009 (Vân Hải đọc)

Sáng sớm ngày hôm sau, tức ngày 07/04/2009, ăn sáng ở hotel xong, mặc dù hotel hạng sang, có hồ bơi và đủ mọi thứ câu du khách, như tắm hơi, massage … chúng tôi vẫn không hề màng tới, mà lấy taxi đi ngay tìm khu vực Gudang Air như dự tính mà sau khi Bernard đã khoanh trên bản đồ chiều hôm qua.

Chìa bản đồ cho anh taxi, anh này gật đầu một cách quả quyết khiến chúng tôi cảm thấy … phấn khởi, hoàn toàn quên chuyện anh taxi và anh cò mồi ngày hôm qua.

Xe chạy khoảng hơn 1/2 giờ trên xa lộ thì rẽ vào một khu rất bình dân. Nhìn mặt trời thì đúng hướng đông nam. Anh taxi hỏi địa chỉ, chúng tôi lắc đầu, nói “không biết”. Cả anh taxi lẫn chúng tôi đều dùng ngôn ngữ 10 ngón tay tiên múa máy, kèm theo những tiếng Anh … bồi. Xe cứ chạy, hai bên đường thu hẹp dần, hàng quán sập xệ, lụp xụp sát vào nhau nhiều hơn. Bỗng xe ngừng lại, anh taxi chỉ vào cái bảng nhỏ hình chữ nhật bề ngang hẹp 15 cm, bề dài khoảng 30 cm, gắn xiên xẹo trên một cái cột ngay ở ngã ba đường, có ghi chữ Gudang Air. Anh taxi lại hỏi địa chỉ lần nữa. Chúng tôi lại vẫn lắc đầu. Nhưng sau khi đắn đo, chúng tôi bảo nhau “cứ xuống đây, rồi tìm sau”. Trả 80 000 roupias (lối 6 eur), quá rẻ. Taxi đi mất.

Đứng ở ngã ba đường để nhận định phương hướng và vận dụng trí nhớ. Gọi là đường cho oai, chứ thật ra là loại đường hẻm, ngoằn nghoèo. Nhà cửa buôn bán bệ rạc, lộn xà ngầu, cáu bẩn, đen tối. Nào là hàng xén, linh tinh trăm thứ bà rằn, nào là quán…sửa xe đạp, vá, bơm bánh xe, nào quán bán bánh kẹo, thức ăn, bán mì và cả các xe bán cà rem …

Tôi nhớ ngày xưa, từ khu nhà dưỡng lão ra đường lớn, phải đi quanh co qua nhiều nhà villa khá đẹp, có cổng sắt kiểu cọ, sơn phết mầu mè. Chúng tôi có đứng …chụp ảnh ké. Thế mà ngày nay, chúng tôi đang đứng trước một khu phố nghèo nàn đến thảm hại. Chẳng lẽ lại là khu phố xưa? Nhưng làm như linh tính của chúng tôi dẫn dắt bước chân đi vào một trong ba ngã hẻm ấy. Đi tới đâu, chúng tôi tìm những người già cả, đưa cho họ xem một tấm ảnh duy nhất chụp gia đình chúng tôi 30 năm trước đứng trước cái cầu gỗ dẫn vào khu nhà dưỡng lão. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ là thế. Quả nhiên, khi nhìn hình, vài người già nhìn lên chúng tôi với ánh mắt ngạc nhiên, rồi suy nghĩ, rồi gật đầu, tỏ vẻ biết. Họ chỉ tay về hướng bên trong hẻm. Vài người trẻ tuổi cũng bu lại xem ảnh rồi cũng gật gật đầu, chỉ tay về phía bên trong nữa. Chúng tôi tiếp tục đi thêm và lại hỏi nữa. Hướng chỉ không khác. Sau 2 lần rẽ trái nữa, bỗng Chung la lên “Đây rồi, chắc chắn phải là đây này, phía dưới kia kìa có mái ngói đỏ.” Chúng tôi đổ xô đến, quả nhiên tôi nhận ra hình mái ngói đỏ của căn nhà hình vuông. Tiến sâu thêm nữa, dưới một con dốc nhỏ, có một cái cầu bằng xi măng, nhưng bên cạnh còn chút vết tích cây cầu bằng gỗ gác trên đà bằng sắt. Tiến hẳn vào bên trong khu nhà, thì… ôi cảm động thay… đây đúng là nơi, với thân phận tỵ nạn CSVN, đầu năm 1980, chúng tôi đã ở đây 1 tuần lễ, được nuôi ăn ở, phát chăn mền và chiếu để nằm dưới sàn nhà gạch hoa của khu nhà dưỡng lão, cho mượn để chúng tôi tạm trú đợi ngày đi định cư tại Pháp.

“Cám ơn Trời Phật, chúng con đã tìm ra được nơi chốn cũ, đã cưu mang trong những tháng ngày lưu đầy”. Toàn thể khu nhà ngày xưa đỏm dáng, xinh đẹp, có hoa tươi, cỏ biếc, mà nay hoang tàn, bỏ phế uổng phí thế kia. Nhưng cũng vì bị bỏ hoang, nên chúng tôi còn tìm lại được nhiều vết tích cũ. Nếu khu nhà đã bị phá bỏ, xây lên cái khác, thì chắc chắn chúng tôi sẽ không thể tìm ra nữa, và cũng sẽ không có những giây phút xúc động đến trào nước mắt như hôm nay. Tìm lại được cả cái máy bơm nước, mà 30 năm trước các con tôi đã thi nhau chơi rỡn bơm nước tắm ngoài trời. Thôi thế là thi nhau chụp hình. 

Trên đường trở ra đường lớn, hai bên hẻm không còn những villa xinh đẹp khiến hồi đó chúng tôi phải đứng lại chụp ảnh…ké, mà thay vào đó là những quán hàng nghèo nàn thảm hại, đen đúa, xen kẽ những nhà ở lụp xụp, tối tăm. Nhưng những người Nam Dương ở đây vẫn có vẻ hiền hòa, tình nghĩa. Chúng tôi cầm tay cảm ơn tất cả những người đã chỉ đường. Họ có vẻ mừng cho chúng tôi đã tìm ra như ý muốn. Vì ngôn ngữ bất đồng, khó lòng diễn tả, chắc chắn họ không biết chúng tôi là ai, mà lại đến thăm khu nhà hoang kia.  

Ra khỏi khu nhà dưỡng lão hoang tàn, chúng tôi tìm cái chợ nhỏ. Ngày xưa, sau nhiều tháng đói kém ở Kuku, chúng tôi đã xì xụp húp tô mì đầu tiên ở ngay bên cạnh cái xe bán mì bên lề đường.

Bây giờ cái chợ nhỏ đó biến thành một chợ buôn bán sỉ trái cây. Cơ man là chuối, đu đủ, avocado.  

Thay vì lấy taxi về trung tâm Jakarta, chúng tôi lấy xe buýt, y như ngày xưa, 30 năm về trước, trong túi chỉ vỏn vẹn 20 mỹ kim, mượn của một anh bạn cũng tỵ nạn. Với 20 mỹ kim, chúng tôi đã mua giầy, áo, tạm tươm tất cho toàn thể 8 người gia đình chúng tôi, để đi Pháp. Cái xe buýt cũ mèm, vẫn cũ mèm như ngày xưa. Cái xe buýt nóng như thiêu, cũng vẫn nóng như thiêu như ngày xưa.

Ba mươi năm qua, có vẻ nước Nam Dương còn bị thụt lùi thay vì phát triển.

Chúng tôi, mặt mũi đỏ gay vì nắng lớn, mồ hôi như tắm, quần áo ướt sũng, dính lép nhép, xuống xe buýt nóng như cái lò thiêu, tại một bến xe đầy xe buýt cũ kỹ, dơ bẩn, không lề đường và đầy ổ gà, hố nước. Đói bụng quá, chúng tôi nhào vào một hàng quán gần đó, quên béng lời dặn dò của Bernard “đừng ăn uống ở mấy quán lề đường”. Ông tầu chủ quán có bán mì…xá xíu, tức là thịt heo, ở cái xứ hồi giáo kỵ thịt heo. Nghe nói Nam Dương là một quốc gia hồi giáo “độ lượng” nhất trong các quốc gia hồi giáo, nhưng đồng thời cũng nghe nói Nam Dương càng lúc càng trở nên quá khích. Quả thật thế, vì 30 năm trước, khi tỵ nạn ở đây, chúng tôi gần như không thấy phụ nữ choàng khăn, nhưng ngày nay thì nhìn thấy thường hơn.   

  

Còn một nơi nữa phải trở lại thăm là tượng đài Phá Xích Xiềng, Freedom monument. 30 năm trước, sau khi đi mua được áo quần cần thiết, chúng tôi lang thang sao đó mà vô tình đến ngay dưới chân một đài rất cao, trên bục cao ngất có tượng một người đứng hiên ngang, xoạc hai chân, dang hai tay lên trời giật đứt xích xiềng, tìm Tự Do. Hồi đó, vừa đúng lúc vượt biển tìm Tự Do, chúng tôi đã hân hoan đứng dưới chân đài này chụp ảnh, vì thấy đúng với tâm trạng của chúng tôi, vứt bỏ được xích xiềng CSVN, tìm được Tự Do.

Trên bản đồ, thì thấy rõ ràng quảng trường này, không xa toà  đại sứ Pháp bao nhiêu, nhưng khi chìa ra cho anh taxi thì anh ta tuy gật đầu quả quyết là biết rõ, nhưng đã cho chúng tôi chạy gần khắp cả Jakarta mà tìm không ra. Làm nghề taxi chạy trong trung tâm một thành phố rộng lớn và đông đảo như Jakarta, lại có nhiều du khách, vậy mà đa số tài xế taxi đều không biết tiếng Anh. Anh taxi này lại còn  không biết cả nhìn bản đồ và tìm điểm chuẩn để từ đó phanh ra nơi muốn đến. Anh ta cứ chạy loanh quanh, hết phố này sang phố khác, lại nhằm giờ tan sở. Thôi kẹt xe ôi là kẹt xe. Rất may xe taxi ở đây đều có máy lạnh cả. Nếu không sau khi xe buýt vắt hết nước trong người rồi mà còn phải đổ mồ hôi nữa thì chắc chắn chúng tôi sẽ khô đét như con khô mực.

Rất may, tôi kịp thời nhìn thấy tượng đài. Chúng tôi mừng rỡ giã từ anh taxi dởm này.

Lại chụp hình dưới chân bức tượng Phá Xích Xiềng vẫn còn đầy ý nghĩa đối với người VN, vì xã hội Xã Nghĩa vẫn còn duy trì ở miền quê hương vời vợi kia.

Bước đầu của chuyến Trở Về Địa Ngục Môn đã được hoàn tất như ý. Chúng tôi không ngớt cám ơn Trời Phật.

* * * * *

Phần 6 : Ngày 08/04/2009 (Vân Hải đọc)

Chung, Thuý và tôi lấy máy bay khứ hồi trong ngày đi thăm viếng Borobudur, kỳ tích Phật giáo lớn nhất thế giới, cách Jakarta khoảng 350 km. Anh Vinh không đi, ở lại Jakarta. Borobudur lớn rộng, man mác, và hùng vĩ. Cái đẹp trong cái tĩnh. Đây mới thật sự là chuyến du lịch lồng trong chuyến hành hương Kuku của chúng tôi.

Ngày 09 & 10/04/2009

11G30 máy bay Air Asia cất cánh. Sau 2 giờ bay, đáp xuống Batam hồi 13G05 phút. Batam là một tỉnh thuộc Đảo Batam tương đối lớn nằm gần sát Singapore, cách Tanjung Pinang (Pulau Bintan) là điểm hẹn với Ban Tổ Chức chuyến đi này, chỉ 1 giờ đi tầu thuỷ tốc hành. Cả 2 đảo đều có vẻ giầu có nhờ dân Singapore sang đây mỗi cuối tuần đi mua sắm vì giá rẻ so với đời sống đắt đỏ ở Singapore. Ngoài ra các ông tầu già Singapore cũng thường sang hai đảo này tìm … gái trẻ, vợ nhỏ hoặc các bà nhà giầu bên Singapore sang tìm kép trẻ, chồng thứ.

Từ phi trường Batam lấy taxi chạy ra bến phà để đi ngay Tanjung Pinang. Các quầy vé gọi khách ơi ới. Tầu thuỷ tốc hành rời bến đúng 14 G.  

Chúng tôi vừa dời tầu thuỷ đặt chân lên bến phà ở Tangjung Pinang, thì có một ông già, móm mém, tóc hoa râm, chạy lại nói “ông thuyền trưởng điện thoại cho tôi ra đón các vị”. Vừa nói tay ông ta cứ giựt lấy túi xách của tôi. Tôi giẫy nẩy, liên tưởng tới vụ ông cò mồi taxi ở phi trường Jakarta. Chúng tôi làm gì mà quen biết ông thuyền trưởng nào, có bao giờ có chuyện “thuyền trưởng điện thoại cho người ra đón”. Nhưng anh Vinh thì cứ để cho ông ta lôi ra xe. Hoá ra trong khi ở trên tầu thuỷ, anh Vinh có làm quen và vào phòng lái của ông thuyền trưởng thật. Ông này, khi biết mục đích chuyến đi của chúng tôi, đã điện thoại vào đất liền, dặn ông tài xế già này ra đón thật, vì ông tài xế già này biết khá rõ về các trại tỵ nạn của người VN ngày xưa ở Tanjung Pinang. Ông tài già này sẽ đưa chúng tôi trở lại các trại tỵ nạn ở vùng đảo Tangjung Pinang này. Khi vỡ lẽ tôi mới hết hoài nghi. Chung Thuý cứ cười rồi nói “đã bị gạt một lần rồi nên đúng là đa nghi như Tào Tháo”. 

Như ở Jakarta, bỏ hành lý vào phòng xong, chúng tôi trở ra xe đi tìm trại tỵ nạn ngay. Cái xe của ông tài này cũng già và rệu rạo y như ông ta vậy. Không có giây an toàn, không máy lạnh, cửa kính mở xuống rồi thì không vặn lên được nữa. Thế mà chúng tôi vẫn đành xâm mình để ông ta đưa đi. Nhưng đặc biệt ông này biết nói kha khá tiếng Anh, đôi bên cũng đỡ mỏi hai cái tay.

Cái xe chạy ào ào đến một nơi rồi ngừng ở ven đường. Ông tài chỉ về phía một mái nhà tôn khá lớn, hình dáng một cái barrack. Chúng tôi đạp cỏ cao đến đầu gối, lại gần. Quả thật đây là một barrack lớn, trống rỗng bên trong. Nhưng hiện tại khi đó có một số người đang ngồi họp trong đó. Bên kia đường có xe chạy, có một bà người Nam Dương chạy ra nói tía lia. Ông tài thông dịch, cho biết trong khu đất nhà bà ta có 2 cái mộ của người VN. Nhưng bà ta không tìm ra được thật sự ở đâu trên thửa đất đó.

Sau đó ông tài lại đưa đến một nơi thứ nhì, thì chỉ còn vài tấm ván xườn nhà đóng khung của căn nhà lớn thôi, không thấy mộ phần của ai cả, cũng không còn vết tích gì nữa, ngoài những tấm ván đó. Nhưng đặc biệt là vài người dân địa phương võ vẽ vài chữ tiếng Việt. Đủ hiểu ngày xưa họ có thật sự tiếp xúc với người VN tỵ nạn. Nhìn cách họ vui vẻ lõm bõm vài chữ tiếng Việt và nhắc đến người tỵ nạn VN, thì hiểu họ có nhiều cảm tình tốt đẹp với những người VN này. Thấy thế mình cũng vui lây.  

Buổi tối ập đến vào hồi 6 giờ mỗi ngày. Chúng tôi trở lại hotel do ban tổ chức giữ chỗ sẵn. Ong tài già được món tiền khá bở, nên cứ soắn lấy chúng tôi, dụ dỗ đưa đi ăn sea food, ăn đồ biển, nhưng bọn tôi từ chối. Ông ta lại hẹn ngày mai đưa đi xem nhiều nơi nữa. Tuy rất ớn cái xe quá cũ của ông ta, chúng tôi vẫn ước hẹn với ông ta 9 giờ sáng ngày hôm sau.  

Ăn sáng ở hotel xong, đúng 9 giờ đã thấy ông tài xế già với cái xe rệu rạo của ông ta. Hỏi đưa đi đâu, thì ông ta cho biết sẽ đưa ra bãi đẹp nhất đảo Tanjung Pinang này, nơi mà ngày xưa có thuyền tỵ nạn VN đi thẳng từ VN tới đây. Đó là bãi Berakit, một mỏm đất trồi ra biển, ở cực Bắc của đảo này.

Anh Vinh vừa thò tay mở cửa xe thì tay nắm cửa sút ra. Phải mở ở bên trong và người khác phải đóng giúp từ bên ngoài. Trời ơi, thật là chán, nhất là quá nguy hiểm. Nếu xẩy ra chuyện gì, làm sao bảo hiểm đền bù đây ? Thế nhưng sau khi đóng cửa được rồi, cái xe già lại lao đi. Nhưng chưa quá 3 km bỗng nghe một tiếng « rầm », cái xe chao đi. Tưởng tai nạn chết người rồi. Ai dè rất may phúc 70 đời cho chúng tôi, cái xe chỉ … gẫy trục và ngừng … thở, nằm lệch một bên xuống vệ đường. Chúng tôi xuống xe, đứng sớ rớ bên lề đường. Trong khi đó ông tài già chui vào gầm xe xem xét. Ông ta bảo “quý vị yên tâm, tôi sẽ đổi xe khác, quý vị chờ một tí, bạn tôi đem xe khác thay thế”. Ông ta bốc điện thoại di động ngay. Chúng tôi, trong khi chờ đợi, bèn lang thang loanh quanh gần căn chòi bán nước giải khát gần đó. Được ngắm cảnh gà tre chạy lăng xăng trong xóm vắng, nhìn cây mít trĩu quả hãy còn xanh, cây trứng cá đang có hoa, cây xoài đã có những quả nho nhỏ. Ngồi uống nước trà trong quán nhà quê Nam Dương, mà chợt thấy nhói trong lòng vì phong cảnh nhà quê vùng nhiệt đới không khác nhau bao nhiêu, mà vẫn thấy quê hương xa vời vợi, biết bao giờ mới được nhìn lại.  

Khoảng 45 phút sau thì một chiếc xe chạy tới. Nhìn xe có vẻ khá hơn cái xe cũ, có giây an toàn cho người ngồi bên cạnh tài xế. Nhưng thực sự cái giây lại không có cái chốt để móc vào ổ khoá và xe cũng không có máy lạnh, nhưng cửa kính lên xuống được dễ dàng.

Người bạn bị vất cho cái xe cũ phải lo câu về.

Ông tài già lên xe của bạn lái cho chúng tôi đi xem đảo Tangjung Pinang. Nguyên một ngày dài với những chuyện giựt gân và phong cảnh thần tiên. Chúng tôi là 4 người du khách duy nhất ngày hôm đó, đến tắm ở bãi biển Berakit, đẹp nhất Tangjung Pinang, nơi mà có thuyền tỵ nạn đến thẳng từ VN, trước đây vài chục năm. Ông tài xế còn kêu người địa phương trèo lên hái dừa cho chúng tôi. Tất nhiên chúng tôi trả tiền. Buổi trưa chúng tôi cùng ông tài già vào một nhà hàng ven biển ăn đồ biển. Trong bữa cơm, ông ta chỉ vào Chung rồi nói “tôi nhận thấy thanh niên như chú em đây bớt nhiều chất VN, có lẽ vì đã nhiễm phần nào cách cư xử của người Tây Phương, tôi nói theo chiều hướng tốt đẹp ấy”.

Ông tài đưa chúng tôi về khi trời đã xế chiều. Trước khi về hotel, ông còn lái qua một cửa hàng. Hoá ra ông vẫn nhớ rằng trong ngày tôi có nhờ ông mua cho một ít lọ dầu cù là của Nam Dương, mà tôi có mang theo một lọ đang dùng gần hết, vì thấy dầu này rất tốt.

Ông lại dọ hỏi cho ngày hôm sau, nhưng chúng tôi cho biết tối nay có 18 người bạn sẽ đến hotel này và ngày mai chúng tôi sẽ lên đường đi đảo Matak bằng máy bay cánh quạt của hãng Riau. Ông tài già ngẩn ngơ ra về với cái xe cũ kỹ, mặc dù đã ôm một mớ tiền xộp. 

Phái đoàn gồm 18 người đến từ nhiều nơi, Đức, Mỹ, Thuỵ Điển, Úc và Việt Nam được hai xe của hotel ra đón ở bến phà từ Singapore sang đây. Khoảng 9 giờ tối ngày 10/04/2009 mới tới. Tuy lần đầu tiên gặp nhau, nhưng tất cả đều rất chân tình, rất vui vẻ, mừng rỡ như đã biết nhau từ trước. Trong số 18 người vừa đến, có Chấn, em ruột của Chung, tức là cháu ruột gọi tôi bằng dì (nhưng thực tế, vẫn quen miệng gọi bằng Cô), có vợ chồng Nam Hương mà Nam vượt biển cùng thuyền với gia đình tôi, Hương cũng là thuyền nhân nhưng tỵ nạn ở Singapore, có chị Kim Vân, vợ của anh Hiệp đã giới thiệu Văn Khố Thuyền Nhân VN cho chúng tôi, nên mới có chuyến đi này. Những người còn lại vừa làm quen với nhau qua cuộc hội luận hôm 21/03 trước khi ra đi.

Sau khi mọi người nhận phòng, anh Trần Đông, giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân VN tại Úc và trưởng đoàn, mời mọi người ra sân sau, bên cạnh hồ bơi, của hotel Comfort, để dùng cơm tối. Đây là buổi chính thức giới thiệu từng người và trình bầy chương trình chuyến đi hành hương đảo Jamayja, trong đó có Kuku, Air Raya, LeTung (Lời người lên lưới : thật sự là Letung, trên Google thấy ghi Letong, chắc là tác giả phiên âm ra tiếng Việt). Anh Đông nhắc lại sự thay đổi trong chương trình. Thay vì đi tầu thuỷ tốc hành thẳng từ Tanjung Pinang đến LeTung, vì tầu thuỷ này chưa sửa chữa xong, nên ban tổ chức bắt buộc phải thay đổi đi đảo Matak bằng máy bay, xong rồi từ đó lấy tầu thuỷ sang đảo Tarempa, ngủ lại đó 1 tối. Sáng sớm hôm sau mới đi LeTung. Chỉ ghé lên bờ thôi để trình diện ông trưởng đảo, rồi sẽ đi Kuku ngay, tối trở lại ngủ ở LeTung. LeTung sẽ là bản doanh, sáng đi các đảo, tối về ngủ ở đây.  

Anh Sơn, đoàn phó, trao tặng mỗi người những băng dvd của Văn Khố Thuyền Nhân VN. Cô Hoàng Oanh tặng mỗi người một đèn pin nhỏ và một túi xách. Tôi tặng mỗi anh chị em cuốn truyện dài Trái Tim Của Nguyễn để làm bạn đồng hành trên những chuyến bay dài..

Sau đó tan hàng sớm để ngày mai lên đường sớm.

Bài 1    Bài 3     Bài 4