Hồi Ký Phóng Sự :
Trở Về "Địa Ngục Môn" Kuku, Nam Dương Bài 1/4
Tác giả : Vân Hải Paris, 2009/05/02 



 Bài 2    Bài 3     Bài 4

Phần Một : Lý do phải xa lìa quê hương Việt Nam (Vân Hải đọc)

Đã từ lâu, tôi ước mong có dịp trở lại cái đảo tỵ nạn mà riêng tôi gọi là “Địa Ngục Môn”.

Tại sao lại đặt tên như thế ? Tôi cho rằng đất nước Việt Nam của tôi kể từ khi bị đảng Cộng sản VN thôn tính hoàn toàn, thì trở thành một địa ngục trần gian, tức là kể từ ngày 30/04/1975, mà chúng tôi, những người dân VN bị “mất nước”, gọi là ngày Quốc Hận. Kể từ ngày đó, hầu như tất cả mọi người dân, không kể tuổi tác, không kể giới tính và không phân biệt tầng lớp xã hội, đều mơ ước được trốn ra khỏi đất nước của mình. Người thoát được vẫn thường nói rằng “cái cột đèn mà biết đi, nó cũng đi khỏi VN Xã Nghĩa”. Trốn đi không phải để trốn tránh trách nhiệm hay gánh nặng xây dựng một đất nước tan hoang vì chiến tranh xâm lược của đảng CSVN và quan thầy, mà chính là để trốn tránh cái gọi là nhà cầm quyền, trốn tránh chính cái đảng CSVN, kẻ đã gieo biết bao tai họa, biết bao đau thương, lên dân tộc VN chúng tôi.

Và tất nhiên, khi một ai đó, trốn thoát ra được khỏi Việt Nam lúc bấy giờ, tá túc ở một hòn đảo nào đó, cho dù là đảo hoang, thì hòn đảo đó trở thành “cánh cửa tự do” hoặc “cửa về địa ngục” tùy theo hướng đi ra hay đi trở vào. Từ phía “VN điêu tàn bởi CS” đi ra thì hòn đảo đó là “ngưỡng cửa Tự Do” nhưng chỉ cần từ bên ngoài thế giới tự do, dân chủ, văn minh, tiến bộ, bước qua ngưỡng cửa đó, thì có thể xem như trở về địa ngục.

Vì suy luận như thế nên tôi gọi hòn đảo nơi tôi và gia đình thoát thân được là Địa Ngục Môn. Tôi muốn dùng tên Địa Ngục Môn hơn thay vì tên Ngưỡng Cửa Tự Do là vì tôi ước mong những người Việt trong và người gốc Việt ngoài nước nhớ rằng hiện nay đất nước, quê hương của chúng ta, vẫn còn ở trong vòng kiềm toả nham hiểm, tham tàn của cái đảng CSVN ấy. Biết và nhớ như thế thì sẽ luôn cảnh giác trước những lời ngon lẽ ngọt, mê hồn trận, trăm mưu ngàn chước ru ngủ, rủ rê, của cái đảng bán nước, buôn dân này.
 

Khi CSVN xâm chiếm miền Nam VN, thì gia đình tôi, cũng như rất nhiều gia đình khác, bị tứ tán khắp nơi, người trốn thoát trước, kẻ bị kẹt lại. Những kẻ bị kẹt lại tất nhiên cũng tơi bời hoa lá, như toàn thể dân miền Nam. Và cũng như toàn thể dân miền Nam, có nghĩa là kể luôn người Bắc di cư năm 54, sống dưới vĩ tuyến 17, được an tâm sống dưới lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đều tìm mọi cách, ba lần bẩy lượt, trốn khỏi cái gọi là  “thiên đường Xã hội Chủ Nghĩa” hoang tưởng.

Sau hơn bốn năm sống trong cái xã hội Xã Nghĩa lầm than đó, nhìn rõ tận mặt kẻ bịp bợm và sài lang cầm quyền đó, sau hai lần chồng tôi nếm mùi tù tội, gông cùm, chỉ vì muốn sống tự do, sống cho ra con người, nên đi trốn và vô phúc bị bắt lại ; sau hai lần bản thân tôi vất vả, đắng cay, đi thăm nuôi tù, gia đình tôi thoát ra được biển lớn.

Chắc có người đặt câu hỏi, chỉ bị bắt vì vượt biên mà cũng bị cùm ư ? Vâng thưa quý vị, chuyện gông cùm hay nới lỏng tùy thuộc ở “đảng tính” của kẻ quản giáo trại tù.

Có thể nói mười chiếc thuyền vượt biển, ngoài việc bị bão táp, đói khát, lạc đường, thì hết sáu chiếc gặp hải tặc Thái. Tất cả thế giới này đều biết hễ sa vào tay hải tặc thì cũng sáu bẩy phần mười gặp thảm cảnh, hiếp đáp hay bắt cóc đàn bà, thanh thiếu nữ, giết chóc đàn ông, trẻ em.

Trước khi vượt ra được Địa Ngục Môn, thuyền của chúng tôi cũng gặp ác tinh, hung thần.

Không chỉ gặp một lần, mà gặp tới bốn lần.

Ảnh nầy đã được GS Đỗ Khánh Hoan (Toronto, Canada) phác hoạ cuối 1979 theo yêu cầu của UNHCR.

Trên là trời rộng mênh mông và cao vời vợi, dưới là biển cũng mênh mông và sâu thăm thẳm, ở giữa là thuyền của mình và tầu cướp biển, hỏi rằng còn biết trông mong vào ai? Thuyền của mình thì nhỏ như cái lá tre mà đông nghẹt những người, già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ đủ cả, mà tầu của hải tặc thì thuộc loại đi biển lớn, dũng mãnh như cọp beo, hung ác như lang sói. Còn biết kêu cứu với ai đây nếu không kêu cứu với Trời ? Chúng tôi chẳng ai bảo ai, bỗng quỳ gối và chắp tay kêu van Trời Phật cứu khổ. Kêu van Trời Phật chứ không kêu van cướp biển. Chúng tôi một mực kêu vang câu niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”. Trên sóng nước mênh mông, dưới trời cao lồng lộng, tiếng kêu van với hết sức bình sinh của chúng tôi, chắc hẳn đã động tới lòng Trời Phật. Bởi vì bọn hải tặc, đứa đầu trọc, đứa để tóc dài tới lưng, toàn thể quấn sà rông đen, xâm chàm đầy thân mình đen đủi, vừa hò hét, cười la, nhẩy nhót, vừa dùng dao, búa, rựa, đập phá khắp nơi, tìm kiếm vàng bạc, đồ quý giá, xé hết bản đồ, vất hải bàn xuống biển, rạch những bao gạo ra tìm tòi, xong rồi hất xuống biển, bẻ cần câu chúng tôi đem theo, …mà chúng không hề hãm hiếp đàn bà hay giết chóc đàn ông. Mặc dù chúng đã lôi hết đàn bà và thanh thiếu nữ lên tầu của chúng. Chúng đã đổ dầu đầy cả sàn thuyền tỵ nạn. Chúng đã bật diêm quẹt, sẵn sàng đốt tầu của chúng tôi rồi. Nhưng chẳng hiểu phép lạ nào đã khiến chúng…chùn tay. Đàn bà lại được chúng … đuổi về thuyền tỵ nạn, an toàn.

Bỗng chốc tầu của chúng mất dạng ở chân trời, mang theo hết cả tiền bạc, của cải cướp được.

Bốn lần gặp cướp đều diễn ra tương tự như thế.

Thành thử, sau chuyến vượt biển đêm 19/06/1979 từ quận Vĩnh Châu, tỉnh Bạc Liêu, tôi tin chắc rằng có Thượng Đế. Tôi dùng chữ Thượng Đế là vì tôi nghĩ cứ để tuỳ mỗi người có đức tin vào bậc Chí Tôn nào đó, Chúa của người Thiên Chúa Giáo, Phật của người Phật Giáo, Allah của người Hồi Giáo … Quan trọng là có đức tin.
 

Vâng, thế rồi thuyền của chúng tôi lại lang bạt giữa biển mênh mông trong đói khát. Một tối nọ, thuyền chúng tôi trực chỉ những ánh đèn xa xa. Nhìn thấy ánh đèn, chúng tôi tưởng như vừa chui ra khỏi âm ty, như được trở về nơi dương thế. Rồi khi nhìn thấy xe hơi và xe hai bánh chạy trên đường phố ven biển, chúng tôi cảm thấy như “sờ” được vào cuộc sống văn minh, mà mình đã đánh mất kể từ “khi đảng về”.

Đêm xuống, chúng tôi bắt buộc phải neo lại ở  ngoài xa.

Tờ mờ sáng hôm sau, một phái đoàn người địa phương đã dàn chào chúng tôi bằng … gậy gộc và đá gộc. Họ vén sà rông, lội ra biển để … muốn choảng chúng tôi. Họ chửi bới chúng tôi, tất nhiên chúng tôi căn cứ vào cử chỉ. Chúng tôi không hiểu tiếng Mã Lai, nên không biết làm sao mà…”chửi” lại rằng quý vị ác quá, quý vị nhẫn tâm đuổi chúng tôi, những kẻ cùng đường, mạt lộ, ra khơi nữa để chúng tôi chết đói, chết khát, chết vì bão táp, chết vì hải tặc … Quả thật đó là ý muốn hay ý đồ của Hải Quân Mã Lai khi con tầu to lớn của hải quân xứ này sáp vào, ròng giây kéo thuyền của chúng tôi ra khơi.

Cùng khi đó, một thuyền tỵ nạn đến bờ Mã Lai trước chúng tôi đang bị nước ngấm và thuyền đang nghiêng hẳn một bên. Con thuyền này cũng bị ròng chung một giây với thuyền chúng tôi. Trong khi người lính hải quân Mã Lai loay hoay buộc giây chão vào thuyền chúng tôi, thì đứa con trai thứ nhì của chúng tôi, khi đó mới 6t, lăn quay ra sàn thuyền, chân tay co giựt, hai mắt trợn ngược, mặt tái nhợt nhạt. Nó sợ quá, và chắc chắn … đói quá, nên làm kinh, có thể chết đến nơi. Tôi la hét hoảng hốt, vô tình quơ được một trái chanh đang lăn lóc trên sàn thuyền dơ bẩn đầy dầu nhớt và những bãi nôn mửa. Tôi cắn vào, rồi vắt nhanh vào miệng nó. Người lính hải quân Mã Lai nọ hỏi chuyện gì xẩy ra. Sau khi biết vì sao, anh ta quay trở về tầu rồi nhẩy sang thuyền với một nắm tay cơm có đổ một chút nước sốt gì đó mầu cam, đưa cho tôi. Tôi vội đút cơm vào miệng con. Thằng bé nuốt vào và y như có phép mầu, nó hết co giựt và lần hồi tỉnh táo lại.

Nhưng thảm cảnh này cũng không lay chuyển được lòng dạ hay lệnh cấp trên của Mã Lai. Hai con thuyền tỵ nạn vẫn bị buộc chặt vào phía sau đuôi tầu hải quân Mã Lai. Họ cũng không tiếp tế thức ăn, thức uống cho cả hai con thuyền vô phúc.
 

Như tôi viết ở vài giòng trên, vì Mã Lai không muốn nhận thêm người tỵ nạn nữa, hải quân Mã Lai có ý đồ nhận chìm hai thuyền tỵ nạn của chúng tôi, nên họ dùng một sợi giây chão ngắn ngủn. Họ buộc thuyền của chúng tôi sát ngay vào phía đuôi tầu của họ, thuyền tỵ nạn đang nghiêng kia bị buộc đằng sau thuyền chúng tôi. Và thế là họ … phóng đi ra biển lớn. Thuyền của chúng tôi nằm ngay trong những lọn sóng quay cuồng phía đuôi tầu hải quân. Chúng tôi hét vang lên không biết bao nhiêu lần vì tưởng bị lật thuyền mà chết chìm đến nơi, tất nhiên sẽ lôi theo cả chiếc thuyền buộc phía sau nữa. Trò chơi này tôi thấy y như trò chơi của đứa trẻ tinh nghịch. Nó kéo và nó chạy thục mạng. Món đồ chơi cứ lật qua lật lại, vật vã điên cuồng, nhưng đứa trẻ càng khoái chí, càng chạy nhanh hơn.

Gia đình chúng tôi bảo nhau cùng ngồi chung một chỗ, ôm chặt lấy nhau, sẵn sàng đợi chết chìm cả đám nếu thuyền bị lật. Thà chết hết còn hơn sống sót.

Một ngày qua đi trong hãi hùng như thế.

Nhưng cho đến khi tầu hải quân ngừng lại ở một hòn đảo hoang giữa biển khơi, thì cả hai thuyền tỵ nạn đều … không bị lật mà chết đi, theo ý đồ bất nhân kia.

Thế rồi cả ba chiếc tầu và thuyền neo lại đợi sáng.

Bỗng nhiên, từ trên thuyền, chúng tôi nghe tiếng van lơn, khóc than, vọng lại từ chiếc thuyền kia. Mới đầu còn nho nhỏ, sau chúng tôi nghe rõ hơn. Đàn bà trên thuyền của chúng tôi bắt đầu run, lo sợ cho số phận của mình. Bụng bảo dạ “chúng nó làm ăn bên kia xong, mà sang thuyền của mình, thì chỉ có nước chết thôi”.

Đêm qua đi, những tiếng than van từ thuyền bên kia bỗng im bặt. Một sự chết chóc bao trùm không gian đen tối. Bên phía chúng tôi, nỗi sợ đã khiến cho cả thuyền chúng tôi không ai dám nhắm mắt, cứ hồi hộp cầu xin trời mau sáng. Trong thâm tâm mỗi người lại vang vang câu niệm Phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát”.

Bình minh ló dạng làm cho chúng tôi biết mình … vẫn còn sống và thân thể đàn bà không bị ô uế.

Cám ơn Trời Phật một lần nữa.

Trò chơi tinh nghịch lại tái diễn cho hết ngày và đến cuối ngày, khi mặt trời sắp lặn, tầu hải quân Mã Lai cắt giây.

Trên 15 000 thuyền nhân đã sống tại đảo này.

Trong chớp mắt chúng biến đâu mất. Trên biển cả mênh mông chỉ còn hai chiếc thuyền tỵ nạn.

Chúng tôi cứ ỳ ạch lướt sóng, trong đói khát và hoảng sợ. Vì chiếc thuyền kia bị nước ngấm, nên chạy rất chậm và vì thế hai thuyền cách xa nhau dần dần.
 

Sau này, chúng tôi được biết rằng có những thuyền tỵ nạn đã dùng khổ nhục kế, tự ý đục thuyền ra để nước ngấm vào, để được giữ lại bờ, cho phép tỵ nạn. Nhưng không phải chiếc nào bị nước ngấm cũng  được ở lại. Chiếc thuyền kia có lẽ bị Hải Quân Mã Lai “trả thù” trong đêm neo lại đảo hoang kia, vì họ đã dùng mưu kế đó.

Bỗng một ngày kia, sau 11 ngày đêm, lại một tầu hải quân chạy đến. Chúng tôi cuống cuồng hoảng sợ. Nhưng họ bắc loa cho biết chúng tôi đang ở trong hải phận Nam Dương. Họ chấp nhận cho chúng tôi tỵ nạn. Họ chỉ hướng cho chúng tôi đi đến … Địa Ngục Môn. Cám ơn Trời Phật. Chúng tôi bỗng thấy Sự Sống trở lại. Địa Ngục Môn này mang tên Kuku, còn có tên là đảo Ruồi.

Chúng tôi ở Kuku từ 30/06/1979 đến 29/12/1979. Sau đó được di chuyển bằng tầu thuỷ đến đảo Tanjung Pinang, ở đây 3 ngày, lại di chuyển, lần này bằng máy bay đến Jakarta, thủ đô Nam Dương. Ở đây một tuần rồi bay sang Pháp. Đêm 07/01/1980, hồi 1giờ, máy bay hãng UTA đáp xuống phi trường Charles De Gaulle, giữa mùa Đông, khi ngoài trời đang -5 °C.

* * * * *

Phần 2 : Chuẩn bị lên đường (Vân Hải đọc)

30 năm về trước dứt ruột xa lìa quê hương VN, quyết chí dời bỏ cái xã hội Xã Nghĩa.

30 năm sau, để kỷ niệm chuyến đi đầy hãi hùng để xa lánh một nhà cầm quyền lang sói, vợ chồng tôi trở về Địa Ngục Môn, nhưng không dại dột bước qua ngưỡng cửa đó để trở về địa ngục Xã Nghĩa VN.
 

Chuyến đi trở về đảo tỵ nạn này, chúng tôi chuẩn bị từ một năm nay, khi ở Melbourne, tháng Tư 2008, chúng tôi gặp một gia đình quen, được mời đến dùng cơm trưa. Trong câu chuyện, chúng tôi ngỏ ý muốn tìm xem ai có thể tổ chức trở về các trại, các đảo có người tỵ nạn để chúng tôi tháp tùng. Anh chị Hiệp, chủ gia đình, cho biết sẽ lưu ý giúp.

Thời gian qua nhanh. Trở về Pháp ít lâu thì có điện thư của anh chị Hiệp giới thiệu một người, đó là anh Trần Đông, giám đốc Văn Khố Thuyền Nhân VN tại Uc. Vội vàng liên lạc và được biết mình đã gõ đúng cửa. Thật là hi hữu và thật là mừng. Anh Đông cho biết VKTNVN đã tổ chức nhiều lần trở về các đảo tại Mã Lai, các trại tỵ nạn tại Thái Lan và đảo Galang, Nam Dương là nơi quy tụ các thuyền nhân trước khi từ Nam Dương đi định cư ở Koa Kỳ, Canada, Úc. Như thế giấc mơ của chúng tôi có thể thành tựu. Chúng tôi loan báo cho đại gia đình, hiện đang sống tứ tán khắp các châu lục biết dự tính này và hỏi ý xem có ai muốn tham gia hay không. Có 7 người trong gia đình, kể cả chúng tôi, cộng thêm một cặp vợ chồng, vượt biển cùng thuyền ngày xưa, tức là cả thẩy 9 người, đồng ý trở lại Địa Ngục Môn.

Trong khi đó, anh Trần Đông cũng liên lạc được với nhiều người khác, cũng đã tỵ nạn ở Kuku, vào nhiều thời gian khác nhau. Tổng số người mong muốn trở lại Kuku là 24 người, trong đó có 3 người trở về với mục đích tìm lại mộ phần của người thân đã nằm lại đảo này, hỏa thiêu và mang tro cốt về xứ. Những người tham dự chuyến đi đều cư ngụ tại nhiều quốc gia và châu lục khác nhau. Một người ở tận xứ Thuỵ Điển lạnh lẽo, 2 người ở Việt Nam XãNghĩa, ba người ở Đức, 4 người ở Hoa Kỳ, 6 người ở Pháp và 8 người ở Úc Châu.

Sau nhiều lần điện thư qua lại, chuyến đi trở về Kuku và vùng lân cận như Air Raya, cũng thuộc Nam Dương, được quyết định vào tuần lễ thứ nhì của tháng 04/2009.
 

Ngày 21/03/2009, anh Trần Đông tổ chức một buổi audio–conference để cho mọi người làm quen với nhau trước khi diện kiến thật sự và sống với nhau những giây phút độc đáo, hy hữu trong đời người. Buổi hàn huyên hết sức vui vẻ và mang đến nhiều ý kiến rất cần thiết.
 

Vì chuyến đi về Kuku này là chuyến đầu tiên dò đường và trong 24 người của đoàn chỉ có một mình chị Carina Oanh là đã có dịp ghé Kuku khoảng nửa giờ vào năm 1998 nhân dịp bốc mộ người bà con ở Tarempa, còn lại đều đi lần đầu tiên. Theo kinh nghiệm tổ chức nhiều lần trước, anh Đông kêu gọi bất cứ ai trong đoàn biết gì về đảo này thì chia sẻ cho mọi người cùng biết, vì thế, nhờ kinh nghiệm của chị Oanh đã trở lại đảo rồi, và nhờ có thêm sự sốt sắng tiếp tay của anh Thành, tuy không tham dự chuyến đi, nhưng vẫn gửi cho một sơ đồ Kuku do anh vẽ tay vào năm 1989, nên mọi người tạm nhìn thấy vài địa điểm chuẩn, để từ đó có thể tìm ra nghĩa trang hay vài nơi chốn … quen thuộc cũ.

Trong phái đoàn 24 người thì gia đình chị Carina Oanh được xem là … kỳ cựu nhất, vì gia đình này tỵ nạn tại Kuku từ đầu tháng 06/1979, cùng thời với 2 anh em họ Huỳnh. Sau đó là gia đình anh  Vinh, đến Kuku ngày 30/06/1979. Những anh chị kia đều đến Kuku sau đó, những năm 81, 82, 83 và 89. Anh Vinh là người lớn tuổi nhất. Khi thuyền tỵ nạn của anh được phép vào Kuku thì anh Vinh mới 41 tuổi. Hôm nay trở lại Địa Ngục Môn thì anh đã 71 tuổi.
 

Đối với gia đình chúng tôi 30 năm đã trôi qua, 30 năm xa Việt Nam thân yêu.

34 năm trước VC đã xâm chiếm miền Nam, những người vượt biển trước đây bị nhà cầm quyền CSVN quy tội lười biếng, trốn tránh trách nhiệm, chạy theo phồn vinh giả tạo và tội lớn nhất là phản quốc. Nhưng trong 30 hay 34 năm sống xa xứ sở, những người ‘lười biếng’ đó, những ‘kẻ phản bội đó’ đã xây dựng lại tốt đẹp cuộc đời chính họ, con cháu họ đã thành công vượt bực so với các sắc tộc di dân khác tại các châu lục tạm dung, chính tiền từ thiện của “kẻ phản quốc” đã đổ về VNXãNghĩa cả 5, 6 tỷ mỹ kim hàng năm, giúp người nghèo khó thì ít, mà vô tình nuôi báo cô một bọn chuyên viên tham nhũng, hút máu dân lành và … phản quốc thì nhiều, bởi thế mà được chúng tặng cho mỹ danh là ‘khúc ruột ngàn dặm’. Vì thấy đã có người ở hải ngoại giầu lòng từ bi, bác ái lo công việc cứu giúp người nghèo đói ở VNXãNghĩa hộ chúng rồi thì … chúng rảnh tay…và tiện tay bỏ luôn tiền cứu trợ của quốc tế vào túi, cho nên chúng mau giầu có bạc tỷ là thế. Kẻ phản quốc không là người tỵ nạn mà kẻ phản quốc chính là đảng CSVN, đã lén lút ký kết hiệp định dâng đất biên giới, dâng Biển Đông cho Tầu Cộng để được vinh thân phì da, tiếp tục dẫn dắt dân tộc Việt Nam đến chỗ diệt vong, nô lệ. 
 

Nhìn vài tấm ảnh của Kuku do chị Oanh chụp năm 1998 và sơ đồ anh Thành vẽ tay năm 1989, thì mọi người biết chắc chắn sắp đóng vai chính trong một phim thám hiểm đường rừng và sẽ phải trang bị để đi … thám hiểm một hoang đảo mà cây rừng nhiệt đới làm chủ tình hình. Ấy là chưa kể thú dữ, nếu có, nghe nói có nhiều … khỉ, nhưng chắc chắn có rắn, rết hay vắt.

Anh Đông cẩn thận khuyên tham dự viên ngoài thuốc men cần thiết cá nhân, đặc biệt nên mang theo thuốc chống bệnh Sốt Rét và chống Muỗi, thêm thuốc ngừa tiêu chẩy và thuốc chống dị ứng. Nên mặc áo dài tay và quần dài, đi giầy, chớ nên đi dép, lại mang theo áo mưa nữa. Nên mang theo đèn pin nhỏ và đeo cái tu huýt trên cổ. Chớ nên đi đâu một mình, mà nên đi từng nhóm và không đi đâu xa nhau mà không cho nhau biết.

Vì chỉ có 2 ngày dành cho Kuku và 2 ngày sau dành cho Air Raya và Keramut, 1 đảo khác nữa, nên việc tìm mộ phần phải được ưu tiên. Trước khi ra đi anh Đông sẽ phải thông báo cho ông Trưởng Đảo LeTung biết việc bốc mộ người thân ở đảo nào. LeTung là tỉnh lỵ, nằm tại một đảo lớn tên là Jamayja, thuộc quần đảo Anambas. Quần đảo này gồm có nhiều đảo, lớn nhỏ, như Jamayja, Matak, Anambas … nằm ở cực đông bắc, hơi tách xa các đảo lập nên quốc gia Nam Dương.
 

Trong mười ngày trước khi lên đường, nhiều người trong phái đoàn điện thư qua lại. Sự văn minh, tiến bộ này thật quá hay, chỉ “bấm nút” một cái đã giúp ích rất nhiều trong việc cố gắng định vị trí của Kuku, vì thật sự không ai biết cái đảo nhỏ xíu này nằm ở đâu trong quần đảo kia. Sau khi đối chiếu vài bản đồ, tìm trong chương trình Google Earth Pro, chúng tôi biết được Kuku và Air Raya là những khu vực, có bãi biển, cùng nằm trên đảo Jamayja, có tỉnh lỵ là LeTung và thuộc quần đảo Anambas.

Cũng nhân việc này mà nhiều câu chuyện về quá khứ tỵ nạn của mỗi người được chia sẻ với nhau. Mỗi người một hoàn cảnh, từ thê thảm đến may mắn. Nhưng toàn thể vẫn chỉ là những vết thương, nay đã tương đối lành da. Tất nhiên dù thời gian có trôi qua vẫn là những dấu ấn trong tinh thần và có thể trên thể xác của mỗi người gốc tỵ nạn vượt biển, có tên chung là Thuyền Nhân.  

Mấy năm trước đây, Việt Cộng đã hống hách áp lực với các quốc gia Thái Lan, Mã Lai và Nam Dương phá xập các bia tưởng niệm thuyền nhân do chính các thuyền nhân xây dựng trên vài đảo. Việt Cộng cho rằng như thế sẽ xóa bỏ được vết tích về tội ác của chúng, tội xua đuổi chính người dân của mình ra biển khơi để chiếm nhà cửa, tài sản, tiền bạc và muốn nhờ biển khơi giết bớt những người không ưa chúng. Nhưng chúng không thể bưng bít, khi mỗi cựu thuyền nhân là mỗi tấm bia sống nói lên tội ác của chúng. Chúng không thể xoay chuyển được hướng nhìn của thế giới và của hậu duệ người tỵ nạn, vì mỗi người gốc tỵ nạn còn sống ở hải ngoại là mỗi chứng nhân của sự tham tàn không tưởng của đảng CSVN đối với dân tộc VN. Ây là chưa kể những đài tưởng niệm thuyền nhân VN được xây lên ở khắp nơi, ngoài VN, những nơi có người gốc Việt tỵ nạn sinh sống. Ấy là chưa kể tất cả những cứu giúp thật sự của cả thế giới, những hình ảnh về thuyền nhân, những hồ sơ lý lịch của từng người, từng gia đình thuyền nhân xin tỵ nạn tại các quốc gia đệ tam, đã nằm trong toà nhà Liên Hiệp Quốc, trong văn phòng của Cao Uỷ Tỵ Nạn. Ấy cũng chưa kể ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ nữa. 

Ngoài những trang bị cá nhân, có thêm những đồ vật đặc biệt phải mua từ trước, như hũ đựng tro cốt, nhang, đèn cầy, hoa quả và … than để hoả thiêu những xương cốt tìm thấy. Theo anh Đông nếu dùng củi thì rất lâu phải mất 5 hay 6 giờ, nhưng nếu hỏa thiêu bằng than thì chỉ mất khoảng 1 giờ thôi. Khi nào thấy xương cốt trắng ra thì tức là đã hóa xong và khi đụng vào thì tan thành tro bụi ngay.  

Chúng tôi theo lời dặn dò ân cần của anh Đông, người tổ chức, bèn đi mua thuốc theo toa bác sĩ gia đình. Mọi thứ thuốc đều được sở an sinh xã hội trả tiền, riêng thuốc chống sốt rét thì … phải tự thanh toán. Khi bà dược sĩ bán thuốc cho biết giá tiền, thì dù chưa nhuốm bệnh, tôi đã run lên, phát sốt phát rét vì giá … đắt quá, 44 âu kim một hộp 8 viên. Chưa chi đã thấy ngoài bệnh sốt rét lại thêm bệnh … đau bụng rồi. Nhưng mà vẫn phải bấm bụng mua về để uống cho … chắc ăn.
 

Anh Đông cũng căn dặn nên mua thuốc chống muỗi cực mạnh, vì anh nghĩ rằng muỗi ở Kuku lâu nay không được thưởng thức máu huyết thơm tho của những con người xứ bơ sữa hột gà, nên chắc chắn sẽ … a lát xô, lăn xả vào theo kiểu chiến thuật biển … muỗi, để dứt điểm nhóm … quân đồng minh, đám người đã liều mạng trốn lánh CSVN, vượt qua được Địa Ngục Môn rồi, còn cả gan trở lại giỡn mặt ngay ở cửa ngục, để … trêu ngươi … muỗi. Thế là chúng tôi cũng mua luôn một loại thuốc xịt và một lọ nước cây xả nguyên chất để … đương đầu với bọn chuyên viên hút máu người, nhưng vẫn là đàn em của đảng Việt cộng kia.
 

Mọi thứ đã chuẩn bị xong. Chúng tôi đếm từng ngày, từng giờ. Trong gia đình chúng tôi kỷ niệm vui buồn tràn về ký ức của mỗi người. Những người trong đại gia đình cùng chung chuyến vượt biển hãi hùng kể trên vì mắc kẹt công việc không tham dự được chuyến trở về đảo, cũng bàn tán xôn xao, tiếc nuối một dịp được đứng trước Địa Ngục Môn để sống lại những giây phút, những ngày tháng gian truân, kinh hoàng, ở trong nước và khi vượt biển, đã thuộc về lịch sử đau thương của nước Việt Nam và dân tộc Lạc Việt.

* * * * *

Phần 3 : Chuyện không vui (Vân Hải đọc)

Có một việc không vui xẩy ra là, cô em tôi, một trong 6 người nhóm bên Pháp sẽ đi Kuku, bị trượt chân ngã trên đường đi làm về. Cổ tay trái bị trật khớp xương hay gẫy nứt sao đó, mà phải bó bột và nghỉ làm. Rất may bên Pháp ai đi làm có quyền nghỉ bệnh mà vẫn ăn lương cho đến khi lành bệnh và thuốc men, bác sĩ, nhà thương, có sở an sinh xã hội lo. Gần sát ngày đi rồi mà tay chân như thế thì làm sao đây, nhất là lại đến nơi phải trèo non lội suối, bám viú cây rừng mà đồng ca bản Hò Leo Núi của Phạm Đình Chương hò dô ta, nào cùng leo… Thật là oái oăm. Thế là đang hăng hái bỗng nhiên xìu cả đám. Lại còn lo vấn đề tìm cách lấy lại bao nhiêu phần trăm tiền vé máy bay của vợ chồng cô em nữa. Vì cô em đau tay, ở nhà, thì chồng cô ấy đâu còn thích đi nữa, nhất là lúc này cần ở nhà để nâng khăn sửa áo, tay hòm chìa khóa, phục vụ người thương nữa chứ.
 

Đang buồn buồn thì vừa qua xem truyền hình thấy loan tin ở Jakarta mưa lũ, có một con đê bị vỡ, gây ra lụt lội khá quan trọng, thủ đô Nam Dương có 54 người thiệt mạng. Đây là nơi mà chỉ hơn một tuần nữa nhóm bên Pháp chúng tôi sẽ tới, là bước đầu của chuyến “hành hương” Địa Ngục Môn Kuku.

Tôi đang cảm thấy không yên ổn vì nơi mình sắp tới lại gặp rủi ro, thì có người trong phái đoàn cho tin hải tặc vẫn còn hoành hành ở vùng biển quần đảo Anambas, Nam Dương. Một người khác trong phái đoàn cũng cho thêm tin xấu hơn về hải tặc trong vùng biển này.

Liên tiếp 3 tin không vui. Cỗ xe đang hăng hái tiến tới bỗng nhiên như có ai … đạp thắng.

Vài người trong nhóm tỏ vẻ lo ngại.

Mấy chục năm trước, vượt biển hãi hùng, chúng tôi gặp hải tặc 4 lần, phúc 70 đời không bị giết chết, không bị hãm hiếp, chẳng lẽ ngày nay, tuổi đời chồng chất, già lão lụm cụm, muốn đi hành hương, lại gặp cướp biển thì…ô hô ai tai !!

Tin cho biết một du thuyền của vài du khách nhà giầu ghé đến đảo Jamayja, đúng chóc nơi phái đoàn sẽ đến. Họ bị nhiều người mặc cả thường phục lẫn đồng phục nhà binh đến vặn hỏi về giấy phép di chuyển. Mặc dù chủ du thuyền trình đầy đủ giấy tờ, họ vẫn bắt neo lại và mè nheo này nọ. Họ có vũ khí, nên du khách không dám hó hé. Tất cả có 3 nhóm người đến hoạch họe. Có khi bắt dời đi chỗ khác và giữ lâu cả giờ đồng hồ. Cuối cùng họ ra đi và chủ du thuyền phát giác máy quay phim đã không cánh mà bay.

Tự nhiên tôi cảm thấy…mình liều lĩnh quá. Đang ở chỗ an toàn, lại đem thân trở về nơi nanh hùm nọc rắn. Bảo sao tôi chẳng đặt tên cái đảo đó là Địa Ngục Môn. Chẳng riêng nước XHCNVN là địa ngục trần gian, mà bọn thảo khấu trên biển cũng là những quỷ dạ xoa. Nhưng tôi cũng lại tự an ủi rằng ở trên đầu ta luôn luôn có Thượng Đế. Đấng Chí Tôn kia sẽ phù hộ cho người thiện tâm. Phái đoàn chúng tôi trở về đảo xưa để tìm lại mộ phần người thân đã nằm lại nơi hoang vắng đó. Bao nhiêu năm qua bơ vơ, lạnh lẽo, không hương khói. Nếu tìm được nghĩa trang ở đảo, tìm đúng ngôi mộ phải tìm, thì sẽ hỏa thiêu xương cốt rồi đem tro về lo lắng, thờ phụng. Ngoài ra có người trở về để tìm lại kỷ niệm cũ, nơi đã ghi dấu một khúc quanh quan trọng trong đời, nơi đã chứng kiến bước chân tự do đầu tiên. Chẳng lẽ Thượng Đế không phù hộ cho chúng tôi đạt nguyện ước một cách an toàn ? Vì thế tôi lại tự nhủ : cứ phó thác cho Trời, như ngày xưa vậy.
 

Ngày xưa, chúng tôi cũng đã nghe lén đài BBC hay VOA, hoặc nghe thì thào giữa người chí thân với nhau, cũng biết có hải tặc làm dữ ở vùng biển quanh VN, cũng biết các quốc gia lân bang VN có thể không nhận tỵ nạn nữa, nhưng chúng tôi và những thuyền nhân khác vẫn ra đi. Vì nghĩ rằng vẫn có thể đánh đổi những gian truân đó để được SỐNG TỰ DO. Như thế đủ hiểu cuộc sống ngay tại quê hương mình phải ghê rợn kinh hồn táng đởm ra sao. Mất tự do, mất nhân cách, cái chết từ từ, tàn héo theo thời gian, sự ngu muội lấn át dần dần trong khối óc, sự huỷ diệt suy tư cá nhân, sự biến thái con người do cái đảng cầm quyền áp đặt lên toàn dân, cuộc sống đó phải đáng ghê sợ hơn…cái chết trên biển cả, hay vì tay hải tặc. Bởi thế Hoà thượng Thích Quảng Độ đã gọi đảng CSVN là sự Khổ Đau và Thầy đã viết “mi thực đáng sợ hơn sự chết” trong bài thơ mang tựa đề Nhắn Nhủ Khổ Đau.
 

Ngày nay, mặc dù không bắt buộc phải trở về đảo tỵ nạn xưa, không có gì cưỡng bách mình, thì chẳng nên…mạo hiểm. Nhưng dự tính đã thành hình, vé máy bay đã mua, đã giữ chỗ ở khách sạn khắp nơi sẽ đến, thuốc men đã mua rồi, hành trang gần soạn xong…chẳng lẽ chỉ vì e ngại hải tặc trong vùng biển kia mà…huỷ bỏ? Vì thế tôi nghĩ thôi thì trông cậy ở Trời Phật mà thôi.

Những người du lịch khắp trên thế giới cũng biết bất cứ ở đâu cũng có kẻ xấu, như bọn khủng bố. Nhiều lần truyền hình chiếu về những cuộc khủng bố chết người, bắt cóc đòi tiền chuộc mạng, các chính phủ cũng phải can thiệp để cứu dân của mình bị bắt làm con tin, có người bị khủng bố giết để thị oai, nhưng tất cả các du khách vẫn hăng hái khăn gói đi du lịch.

Thế là tôi hăng hái trở lại và tiếp tục soạn hành trang. Đang soạn bỗng nhiên một tấm ảnh Phật A Di Đà nhỏ, mầu xanh, chẳng biết từ đâu rơi ngay bên cạnh. Tôi bèn nhặt lên và … bỏ vào túi xách của anh Vinh, chồng tôi. Cái túi tôi đang soạn để anh Vinh sẽ mang theo trên lưng. Thâm tâm tôi chợt nghĩ rằng Trời Phật vẫn luôn che chở cho chúng tôi và vừa nhắc nhở tôi vừa trấn an tôi đấy.

Từ khi VC xâm chiếm miền Nam, đi đâu tôi cũng mang theo bức ảnh Phật nhỏ và cuốn kinh nhỏ trong người. Việc đã trở thành thói quen. Kể từ đó, dù sau này ở đất nước tự do thanh bình, trong cái ví nào tôi cũng có một ảnh Phật nhỏ. Cái túi đeo lưng của tôi đã soạn xong, ảnh Phật cũng đã để trong ngăn rồi. Khi soạn túi đeo lưng cho anh Vinh, tôi không nghĩ đến việc bỏ ảnh Phật vào túi đó, vì anh Vinh, có lẽ cũng giống nhiều ông khác, không thích những chuyện uỷ mị, lẩm cẩm của đàn bà. Nhưng tự nhiên bức ảnh Phật từ đâu rơi ra và tôi nghĩ cứ bỏ vào túi của chồng vẫn tốt hơn. Tôi đã phải dặn anh Vinh về việc có ảnh Phật trong túi xách và đặc biệt lần này anh chẳng … cười chế nhạo tôi gì hết. Tôi biết đối với anh Vinh, chuyến đi trở về Địa Ngục Môn này mang một tầm vóc quan trọng, không phải như những chuyến du lịch trước đây. 

Anh Trần Đông, trưởng ban tổ chức, thấy vài người chúng tôi e ngại vụ hải tặc tại vùng biển mình sắp đến, thì cố gắng trấn an bằng những lời diễu vui “anh sẽ chạy trước để … mở đường thoát thân và mọi người phải ráng mà chạy theo”. Thôi thì như đã viết ở trên, tất cả mọi sự xin phó thác vào Thượng Đế.

Cũng cần nêu ra việc chúng tôi do dự giữa mua vé khứ hồi Paris-Jakarta qua Dubai hoặc qua Hồng Kông. Cuối cùng thì quyết định qua Hồng Kông, vì cách đây gần 40 năm, chúng tôi cũng đã có nhiều dịp đến đây. Hơn nữa từ Hồng Kông đến Jakarta sẽ được bay ngang không phận Việt Nam.

Chuyến trở về này đảo ngược lại hành trình đi định cư của 30 năm về trước, nghĩa là bắt đầu từ nơi mình đến lần lượt trở về nơi mình ra đi, như cái đồng hồ quay ngược. Đầu tiên là Jakarta, ở đây 3 ngày, thăm lại nhà dưỡng lão dùng làm trại tỵ nạn chuyển tiếp mà 30 năm trước chúng tôi đã tạm trú 1 tuần trước khi lên đường định cư tại Pháp. Hy vọng toà nhà này còn để chúng tôi vào thăm. Từ Jakarta, sẽ bay đến đảo Tanjung Pinang, trước đó cũng tỵ nạn tại đây 3 ngày. Từ đây nhập vào với Ban Tổ Chức và những tham dự viên từ Singapore sang và bắt đầu thật sự trở lại Địa Ngục Môn.  

Ngày mai, nhóm bên Pháp của chúng tôi, chỉ còn 4 người thay vì 6 người, sẽ lên đường.

 Bài 2    Bài 3     Bài 4