Ngày 6 (15.04 Keramut - Air Raya): Cầu nguyện giữa trưa

 

Những bàn tay vẫy chào quyến luyến của người dân Letung tiễn đưa chúng tôi đã phủ màn sương mỏng trên mắt mọi người. Tuy chỉ vài ngày ngắn ngủi nhưng sự mộc mạc và hiếu khách của họ đã để lại kỷ niệm sâu đậm trong lòng chúng tôi. Dù biết cơ hội trở lại nơi này là rất mong manh nhưng tôi tin nếu có điều kiện, bất cứ ai trong đoàn cũng đều muốn đến thăm Letung lần nữa...

 

Những cái vẫy tay tạm biệt của Letung
 

 

Chiếc ca-nô tốc hành đưa chúng tôi đến Keramut, một hòn đảo cách Letung khoảng nửa giờ, để viếng mộ thuyền nhân VN. Keramut nhỏ hơn Letung, cũng mang dáng dấp hiền hòa và yên bình của một làng chài miền xa. Chỉ cách cầu tàu giữa làng chừng vài trăm mét, chúng tôi được dẫn đến hai ngôi mộ chôn cạnh nhau trong vườn của một gia đình ở cạnh bờ biển. Tất cả cùng đến làm cỏ và dọn dẹp chung quanh phần mộ trước khi cầu nguyện với nghi thức tôn giáo riêng của từng người trong đoàn. Chúng tôi cũng gửi một ít quà và nhờ người địa phương chăm sóc cho những ngôi mộ trên sườn núi mà hôm ấy không có đủ thời gian và điều kiện đến thăm.

Theo lời kể của ông Adnan Nala từ hôm trước, chúng tôi tiếp tục đến Air Raya, nơi hàng ngàn thuyền nhân VN đã tấp vào và tạm cư ở đây trước khi trại Kuku được thành lập. Cũng như Kuku, Air Raya bây giờ là một đảo hoang, bốn bề mênh mông hiu quạnh, chỉ còn lại vài cây dừa lão cao ngất. Ca-nô không ủi bãi được nhưng mọi người đều muốn lội nước vào bờ, cứ như sống lại thuở ngày xưa lên đảo...

Chúng tôi đến vào quãng giữa trưa, cát nóng như than hầm dưới chân. May quá, một chiếc tàu tiếp liệu nào đó đã đến đây mấy ngày trước và để lại ít mẩu ván và cột gỗ. Chúng tôi bèn... “xin phép ông địa” để sử dụng các vật dụng này làm bàn thờ cầu siêu cho đồng bào gửi thân trên đảo. Lễ phẩm cúng tế được bày ra đơn sơ trên tấm gỗ ngay trên bãi biển. Những nén nhang và các xấp vàng mả được đốt lên dưới cái nóng rát mặt trên làn da bắt đầu bỏng rộp. Những bài kinh cầu siêu và thánh ca vang lên, ngậm ngùi và thành kính.

 

Nhang đèn vàng mã cầu nguyện cho vong linh oan thác trên bờ biển tại Air Raya
 

 

 

Bác Hồ Tắc, đến Air Raya cách đây trên 30 năm, không nén được xúc cảm khi nhìn lại cảnh bể dâu thế sự, nước mắt chảy ròng trên khuôn mặt hằn dấu gian truân của một người từng hai lần trong đời phải rời bỏ quê hương xứ sở để mong tìm một cuộc sống trong nhân phẩm và tình người. Ông xin được thay mặt cho đoàn để khấn vái với những ngườøi bạn đồng hành nửa đường nằm lại:

“Quý ông bà, anh chị em ơi... Tôi và gia đình cũng đã đến đây hơn ba mươi năm trước và đã may mắn đến được đất nước định cư. Nay trở lại thăm nơi cũ, lòng dạ não nề trước cảnh điêu tàn hoang phế qua thời gian, bùi ngùi tưởng tiếc những người gửi thây nơi đảo vắng rừng xa trên đường tìm tự do... Tôi xin dâng nén nhang thành kính này để cầu nguyện hương linh quý ông bà, anh chị em nhẹ nhàng siêu thoát, trút bỏ những oan khiên cừu hận để thảnh thơi yên nghỉ nơi chín suối. Xin những hương hồn vất vưởng đầu cây ngọn cỏ ở Air Raya này chứng tri cho tấc lòng của chúng tôi...”

Chúng tôi đứng quanh chiếc bàn thờ dựng tạm, lịm người dưới ánh nắng trưa như đổ lửa mà rưng rưng theo tiếng nấc của người anh vui tính nhất trong đoàn. Mấy ngày qua, tất cả chúng tôi đều nhìn bác Hồ Tắc như một “Lão Ngoan Đồng” vô tư nhất trần gian. Ông đùa nghịch như một đứa trẻ và hòa đồng với mọi người trong từng bữa ăn, giấc ngủ. Vậy mà, ký ức đau thương về quãng đời đã qua hơn phần tư thế kỷ vẫn còn làm ông day dứt, u buồn...

 

Bãi biền Air Raya.
Cầu tàu ngày xưa giờ còn trơ những trụ gỗ
 

 

Chúng tôi đào một hố cát trên bãi để lấp lại tro than như một phần mộ trong tâm tưởng và cũng để tránh cháy rừng vì những cơn gió khô thổi lan sang các bụi cây chung quanh trước khi rời đảo.

Lội ra lại ca-nô, Edi, người dẫn đoàn luôn ở bên cạnh chúng tôi trong suốt chuyến đi, chợt thốt lên một câu trào phúng để xóa bớt không khí lắng đọng sau buổi lễ tưởng niệm: “Các bạn đã đói rồi chắc? Chúng ta ăn trưa ở Thiên đàng nhé? Có ai muốn theo tôi không?”

Dĩ nhiên rồi, nhưng Thiên đàng ở đâu?

Edi quay lại xổ một tràng tiếng Nam Dương với tài công và chiếc ca-nô quay mũi đến một hòn đảo nhỏ giữa chập chùng hàng chục hải đảo trong vùng Anambas. Từ xa, mọi người đã ồ lên một tiếng kinh ngạc. Chúng tôi chưa từng nhìn thấy một hải đảo đẹp như thế bao giờ! Hòn đảo như chưa hề có vết chân người, những bụi cây thấp với màu lá xanh mướt như ngọc, hàng dừa lã thân trên bãi cát trắng tinh tít tắp. Và làn nước trong vắt như pha lê, nhìn rõ cả những đàn cá đủ màu nhởn nhơ đẹp như... màn hình computer. Thảo nào, người địa phương đặt tên hòn đảo này là Impol (Waters of God): Nước của Trời!

Thật ra, Edi đã sắp xếp từ trước cho chúng tôi nghỉ trưa ở đây. Anh đã không đắn đo khi phải “chi thêm chút đỉnh ngoài ngân sách” để khoe với du khách về cảnh đẹp của đất nước mình. Ai cũng ngây ngất chiêm ngưỡng tác phẩm toàn hảo này của thiên nhiên. Tôi may mắn đã từng có dịp đến một số hòn đảo đẹp của quê hương mình, nhưng công bằng mà nói, các đảo Phú Quý, Thổ Châu, Hòn Rơm, Hòn Cau... so với Impol còn thua nửa bước.

 

Bãi biển thần tiên! Hòn đảo Thuỷ Thần
 

 

Chúng tôi “hạ trại” ở đó. Mấy thùng mì xào ớt (độn sò điệp và tôm sú) được mang ra “xử lý” tại chỗ với những ngụm nước dừa tươi ngọt lịm. Ai cũng tưởng cái món truyền thống của Xứ Vạn Đảo đã làm mọi người ngán tận cổ mấy ngày hôm nay, nhưng anh bạn người Huế sành ăn lại so sánh “mì thiên đàng” Nam Dương là kỳ phùng địch thủ với “cơm âm phủ” của đất thần kinh ở Việt Nam. Nhiều người trong đoàn chưa biết món đặc sản Huế nổi tiếng này nhưng ai cũng vét đến cọng mì cuối cùng trong “cái tô” làm bằng nửa trái dừa tươi còn nguyên lớp cơm đúng nạo trơn mềm và béo ngậy...

Rời “Nước của Trời” khi vừa tắt nắng, chúng tôi bắn thẳng về Terempah, “tiền trạm” của chuyến đi, với một tâm hồn và thân xác nhẹ nhàng như được tắm gội từ suối nguồn tinh khiết của thế giới tâm linh huyền diệu và tình người chan chứa trong vùng hải đảo thần tiên này...

 

 

 

 

 

Nước biển trong vắt lóng lánh như pha lê

Hòn đảo Thuỷ Thần (Impol)