| |
Những trái tim tuyệt vời
[Trở về
Menu]
Tôi trở lại lại Malaysia ngày 26-3-2005 sau khi đưa đoàn Melbourne về nước vào
lúc 3g sáng. Ngồi trên chiếc Mercedes từ Singapore chạy về Terengganu, máy lạnh
mát rượi, xe chạy êm như ru mà người thì nhừ ra từng bắp thịt, cả cơ thể như
không còn chút sức lực nào nữa sau 10 ngày đêm cùng các vị trong Ban Tổ chức
chuyến đi làm việc liên tục mỗi ngày ngủ không quá 2 đến 3 tiếng đồng hồ. Ông
Wong lái xe, cô Ann ngồi phía trước để giúp đỡ, chỉ đường và nhắc nhỡ kẻo Ông
cũng ngủ quên. Giống như tôi, đêm qua, đêm cuối cùng, gần như Ông thức trắng,
bây giờ lại phải lái thêm trên 8 giờ đồng hồ nữa. Cả hai người nhường cho tôi
nguyên băng sau để tôi có thể nằm ngồi tuỳ ý. Chúng tôi phải trở về Terengganu,
không thể bỏ lỡ dịp này. Dịp ngàn năm một thuở. Chúng tôi đã hẹn với Ông Giám
đốc Bảo tàng viện Terengganu gặp nhau ngày 27-3 để scan lại tập Albums hình sinh
hoạt của người Tỵ nạn Việt nam tại Bidong - một công việc mà chúng tôi đã theo
đuổi gần 2 năm nay kể từ chuyến đi năm 2003 khi Ông đem tập Album ra khoe với cả
đoàn lúc ấy. Ông Giám đốc đã chụp các hình ảnh vô giá này vào những ngày cuối
cùng tháng 11-1991 trước khi tất cả mọi thứ được đốt đi như một công tác tổng vệ
sinh lần chót tại Bidong.
Tại thành phố Terengganu tôi gặp lại Alex, Giám
đốc công ty Ping Anchorage, công ty đã đã thu xếp mọi thứ từ phương tiện di
chuyển đến chỗ ăn, chỗ ở cho cả đoàn. Alex là một thanh niên trẻ, trên 30 một
chút, vì yêu nghề du lịch một mình đã gầy dựng Ping Anchorage từ con số không.
Nay thì cơ ngơi của Ping Anchorage trãi rộng ra khắp Mã-lai, trị giá nhiều triệu
đô la. Mặc dù vậy Alex lúc nào cũng là một người rất hiền hòa, khiêm nhượng,
không bao giờ khoe khang hay nói về thành tích của chính mình hoặc về công ty
của anh ta. Cậu ta đã tâm sự với tôi: “Tôi không biết tại sao Bidong lại có
mãnh lực thu hút tôi đến nhiều như vậy. Tôi đã làm nhiều project trị giá cả
triệu đô la. Tôi đã đón nhận nhiều đoàn người đến rồi đi. Tất cả đều chỉ thoáng
qua, đến rồi đi không một dấu vết. Chương trình Bidong chưa đến một trăm ngàn đô
la thế mà mấy tuần trước khi quý vị đến ngày nào thức dậy trong đầu tôi cũng chỉ
có hai chữ ‘Bidong! Bidong’. Không phải chỉ riêng cá nhân tôi, cả thành phố
Terengganu này, ngày nào báo chí cũng nói về Bidong, Bidong.
Bidong là như vậy đó.
Ðoàn của các anh đã đi sâu vào lòng người Trengganu này như vậy đó.
Ðây này! Ðây là những số báo ngày hôm nay, và họ còn viết về đoàn các anh, về
Bidong liên tục trong nhiều ngày nữa.”
Alex lật bộ sưu tập những bài báo viết về chuyến thăm viếng này và cho biết thêm
anh ta sẽ gửi cho tôi một bản sau khi đã sưu tập đầy đủ.
Tại
Bảo tàng viện tôi gặp Ông Giám đốc. Bảo tàng viện Terengganu là một Bảo tàng
viện lớn nhất Mã-lai đồng thời cũng là một Bảo tàng viện có cơ ngơi lớn nhất khu
vực Ðông Nam Á. Ông Yusof Bin Abdullah đã giữ chức Giám đốc này mấy chục năm
nay, không người thay thế, và cũng không được cất nhắc gì thêm. Vào những ngày
cuối cùng của Bidong và những năm sau đó, Ông đã cạy cục, vận động các thành
viên trong chánh phủ để công nhận Bidong là một một Di tích lịch sử, một địa
điểm cần được bảo trì cho cộng đồng thế giới. Ông đã mở nhiều buổi thuyết trình,
nhiều buổi seminars, nhưng tiếng gào của Ông chỉ như tiếng thét trong sa mạc.
Bidong đã bị bỏ quên. Bidong đã bị hỏa thiêu. Tượng Phật đã bị đập không còn
đầu. Tượng Giê-su cũng bị người ta xô nhào xuống đất. Chỉ mãi đến những ngày
cuối năm 2004, sau chuyến Cầu nguyện 34 người đầu tiên năm 2003, để chuẩn bị
tiếp nhận đoàn Cầu nguyện gần 150 người vào tháng 3 năm 2005 và sau khi chính
phủ mới lên nắm quyến vào năm 2004, Bidong mới được chính thức công nhận là di
tích lịch sử. Ông tâm sự với tôi: “Công việc trùng tu Bidong là một công việc
tế nhị và không dễ dàng. Chính phủ Terengganu qua Bảo tàng viện một bên, cộng
đồng người Việt qua Archive of Vietnamese Boat People ở một bên để giúp đỡ chúng
tôi. Chúng tôi không thể tin tưởng những ai khác được, và đó là lý do tại sao mà
tôi làm một văn thư uỷ nhiệm Archive of Vietnamese Boat People trọng trách này.
Chúng tôi muốn công việc được thành tựu. Quý ông cũng thế. Chúng ta đều không
muốn công việc này bị lợi dụng và có ảnh hưởng không tốt đến uy tín của chính
chúng ta.” *
Chúng tôi cùng trao đổi một vài chuyện khác,
sau đó cùng sang phòng bên cạnh với người thư ký để scan hình. Tôi scan 4 tấm
một lượt, cô thư ký nhìn xong thì lắc đầu mà nói: “Máy scan chậm quá, nếu quý
Ông không ngại, quý Ông cứ chọn những hình quý Ông muốn tôi sẽ scan thay cho quý
Ông rồi chép vào dĩa CD, chiều nay tôi sẽ mang dĩa CD đến cho quý Ông.” Tôi cám
ơn lia lịa. Thú thật, sáng nay tôi mệt quá. Không còn sức lực gì nữa. Nếu mà
ngồi lại scan thì chưa chắc gì ngày hôm nay có thể làm xong. Thế là chúng tôi
đánh dấu những hình cần thiết rồi rối rít cám ơn tìm đường chạy về khách sạn nằm
ngủ.
6 giờ chiều cô Thư ký Bảo tàng viện đem dĩa CD
đến giao tại văn phòng Ping Anchorage. Sáng ngày hôm sau chúng tôi lên đường trở
về Singapore sau bữa ăn tối chia tay cùng Alex, Wong, Ann và Lee Son.
Trên đường trở về chúng tôi ghé qua thành phố
Kuantan, nơi cả đoàn dừng lại ăn trưa ngày 23-3. Chúng tôi ghé lại tại những
điểm giải lao khác như Yong Peng, Labis, … Mới ngày nào đây cả đoàn bốn chiếc xe
buýt chỡ 150 người nón vàng “Bidong – Galang” tấp nập, uyên náo chuyện trò, giờ
đây chỉ còn mỗi tôi, người Việt nam duy nhất của đoàn, còn ngồi lại tần ngần tại
đây với “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Mới ngày nào đây “Anh Ðông, thật là
những ngày tuyệt vời trong đời! Cám ơn anh rất nhiều”.
- “Anh Ðông, tôi không biết làm sao mà anh
có được một tâm hồn và trái tim tuyệt vời như vậy. Thành thật cám ơn anh. Chúng
tôi mãi nhớ đến anh!”
Anh Lưu Dân, báo Dân Việt tiếp lời:
- “Thì hôn ảnh một cái chia tay đi!”
Và chị đã không ngần ngại hôn vào má tôi. Một
nụ hôn đầy lòng quý mến của một người với một người, một trái tim với một trái
tim. Hoàn toàn vô phân biệt. Vượt lên hết tất cả những cách ngăn. Một tình
thương thuần tuý.
Trở về Melbourne đi đâu cũng nghe mọi người tắm
tắc ngợi khen chuyến đi. Gặp gỡ những người quen biết ai cũng nắm tay mà nói:
“Thành công quá rồi nhé!”, “Bây giờ là con người quốc tế rồi nhé!” Những người
tham gia chuyến đi thì gọi điện bày tỏ rrằng họ rất “happy” với chuyến đi, không
có gì than phiền hết và rất là “cám ơn tất cả các anh”.
Dù vậy trong tôi không một gợn ly kiêu mạn bởi
vì chính tôi là người rõ nhất những thành công đó không do tôi mà có. Những
thành công đó là hội tụ của những nhân duyên tròn đầy viên mãn mà tôi chỉ là một
tác nhân ắt có và đủ để những nhân và duyên đã hò hẹn từ muôn thuở cùng đến một
điểm đồng quy.
Cá nhân tôi làm gì có đủ đức hạnh để thỉnh được
Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Pháp chủ của Giáo hội Tăng già Khất sĩ Thế giới
cùng 30 Tăng Ni tự bỏ tiền bạc thời gian công sức mà đi đến Mã-lai?
Cá nhân tôi làm gì có đủ uy tín để trên một chục phóng viên các Ðài phát thanh
Truyền hình Báo chí có tầm cỡ quốc gia và quốc tế của Cộng đồng người Việt hải
ngoại tự bỏ tiền bạc, công sức và thời gian gần mười ngày vất vã từ Bidong đến
Galang?
Cá
nhân tôi làm gì có đủ uy tín để chánh phủ tiểu bang Terengganu và chánh phủ Riau
tổ chức Dạ hội (state dinner), cả ông Bộ trưởng Thông tin bay từ Jakarta tới để
nói lời chúc mừng.
Vân vân và vân vân với hàng trăm yếu tố nhỏ
nhặt khác. Tất cả đã tạo nên một chuyến đi chỉ có thể nói gọn gàng bằng hai chữ
“tuyệt vời” mà bất cứ người nào tham gia chuyến đi cũng đều kết luận giống như
vậy. Những điều đó được tụ hội bằng những tâm tình của từng cá nhân, những tâm
tình đẹp, những tâm tình dễ thương từ người book vé bay của Travel Agent cho đến
người dầm sương dãi nắng ở Bidong để dọn bãi và dựng lều trại, anh bán cá người
Indo, những cô ca sĩ ở Batam, Merang cho đền cả những người lái tàu tốc hành,
lái xe buýt.
Bên cạnh những yếu tố vật chất còn phải kể đến
những yếu tố tâm linh và tinh thần. Chuyến đi là để cầu nguyện cho hàng trăm
ngàn người đã trãi mạng sống của mình nhờ đó đó mà hàng trăm ngàn người khác
được cộng đồng thế giới đoái hoài. Hàng trăm ngàn người này đã gồng gánh theo
những diện khác như HO, ODP, đoàn tụ gia đình để mỗi năm gửi chút quà ba bốn tỷ
đô la vá lành vết thương của một quê hương khốn khổ. Chuyến đi còn là để tri ân
cộng đồng thế giới. Báo chí Mã-lai, Indonesia đều ca ngợi tinh thần “Ăn trái nhớ
kẻ trồng cây” này của tất cả chúng ta. Những hội tụ đó, những tâm tình đẹp,
những tâm tình bất vụ lợi quên mình vì người khác, đã làm đẹp lòng chư thiên,
chư thần, đã làm đẹp lòng những người nằm xuống, từ đó họ cũng đã giúp vun bồi
cho sự thành công thêm phần rực rỡ.
Xin cám ơn những lời cám ơn nồng
thắm.
Xin cám ơn những nụ hôn thành nụ và những nụ hôn còn chưa thốt nên lời.
Xin cám ơn tất cả những trái tim rung rẩy bên những nắm mồ tập thể ở Terengganu.
Xin cám ơn những giọt nước mắt tuông trào không thể nào cầm lại được, những
tiếng nấc rung lên từ tận đáy lòng của Quốc Việt, của cá nhân nhân tôi, và của
nhiều người khác nữa. Tôi đã khóc thật ngon lành, những giọt nước mắt từ năm
2003 mà tôi đã cố kiềm lại ở nghĩa trang, ở những đêm khuya vắng khi một mình
ngồi làm dĩa DVD.
Xin cám ơn những anh em đã một tuần lễ ngủ đêm ở Bidong để dọn dẹp và dựng lều
trại chào đón chúng tôi.
Xin cám ơn những biểu ngữ “hân hoan chào đón đoàn người Việt hải ngoại về thăm
Galang năm 2005” trên mọi nẻo đường từ Batam đến tận Galang.
Xin cám ơn đêm Hoa đăng ngoạn mục huy hoàng và lộng lẫy chưa từng thấy ở bờ biển
Merang.
Xin cám ơn hai bữa “state dinner” sang trọng ở Merang và Batam. Cám ơn bữa ăn
trưa “như một nhà hàng” ở giữa rừng sâu đảo vắng tại Bidong. Cám ơn hai tấm bia
tưởng niệm, đơn sơ, mộc mạc nhưng đầy ấp tình người, cả người sống lẫn người đã
vĩnh viễn ra đi.
Xin
cám ơn tất cả Sư, Ni, Linh mục, Dì phước đã cùng tham gia cầu nguyện cứu vớt
những linh hồn đã chịu nhiều khổ nạn từ mấy chục năm nay.
Xin cám ơn trên một chục phóng viên đài truyền hình, đài phát thanh, báo chí các
nơi đã tốn tiền, tốn thời gian, tốn công sức cùng đi với đoàn từ ngày đầu đến
ngày cuối để phổ biến tin tức chuyến đi đến cộng đồng người Việt hải ngoại và
trong nước.
Xin cám ơn tất cả những trái tim tuyệt vời. Chỉ có những trái tim tuyệt vời mới
có thể cảm thông, tâm sự và biết ơn những người đã nằm xuống lót đường nhờ đó cả
thế giới mới cùng nỗ lực ủng hộ cho trên 3 triệu người Việt được định cư ở nước
ngoài bằng nhiều con đường khác nhau, tạo cuộc đời mới cho thế hệ ngày hôm nay
và những thế hệ khác mãi mãi về sau, và cho ngay cả 80 triệu người Việt còn lại
trong nước. Chỉ có những trái tim tuyệt vời mới có thể thốt lời cám ơn đến cộng
đồng thế giới vì những cưu mang to lớn của họ. Những trái tim tuyệt vời đó đã
không nói lời hận thù. Những trái tim tuyệt vời đó chỉ biết ve vuốt những linh
hồn không may mắn, chia xẻ buồn vui với họ, đau cái đau của họ, khóc tiếng khóc
thấu đến tận trời của họ và nói với thế giới bằng tiếng nấc từ tận đáy lòng:
“Chúng tôi thành thật biết ơn!”
Trần Ðông
30-3-2005
* Luật Hồi Giáo không cho phép tín đồ Hồi tham gia các công trình xây
cất, tu bổ các đền đài, chùa chiền,… của các đạo khác.
[Trở về
Menu]
|
|