Việt Nam Đi Về Đâu ?
Nguyễn Quang Duy
Đại Hội lần
thứ VI, đảng Cộng
sản Việt Nam đã phải
chấp nhận đổi mới thay
vì chết. Điều đáng tiếc
là đảng Cộng sản lại dưạ
vào mô hình Trung Quốc,
chỉ thay đổi kinh tế còn
giữ nguyên guồng máy cai
trị. Sau hơn 20 năm,
Việt Nam quay trở lại
tình trạng khủng hoảng
toàn diện để trước sinh
nhật thứ 80 và Đại Hội
lần này, ta phải đặt câu
hỏi “Việt Nam đi về
đâu?”.
Tình Hình Việt Nam Sau
Hơn 20 Năm Đổi Mới Kinh
Tế
Ngay sau đổi mới kinh
tế, người Việt vốn bản
tính cần cù chịu khó,
lại nhận được nguồn đầu
tư dồi dào từ nước
ngoài, đã nhanh chóng
thoát khỏi cảnh đói
nghèo. Nhưng để vươn đến
những thu nhập cao hơn
thì giáo dục và huấn
luyện kỹ năng là hai yếu
tố quan trọng lại không
được quan tâm đầu tư
đúng mức. Ngày nay Việt
Nam vẫn chỉ dựa vào nông
nghiệp, kỹ nghệ đơn
thuần và tận dụng tài
nguyên thiên nhiên.
Khu
vực quốc doanh vẫn chiếm
trên dưới 20% tổng sản
lượng công nghiệp lại
nhận hầu hết trợ giúp
kinh tế. Việc cải
tổ
luôn gặp cản trở vì
lợi
ích cá
nhân hay vì lo sợ ảnh
hưởng đến
an
ninh
nội chính.
Nhiều xí nghiệp quốc
doanh được cổ phần hoá
lọt vào tay của một số
đảng viên cao cấp hay
gia đình, tạo nên một
tầng lớp đại gia tư bản
đỏ. Tầng lớp này nắm cả
độc quyền kinh tế lẫn
chính trị nên càng ngày
càng trở nên giàu có và
quyền thế.
Hiện trạng tham nhũng đã
vươn tới tầm mức quốc
tế. Vụ
các viên chức Viện Tư
vấn Thái Bình Dương
(PCI) của Nhật Bản
hay
công ty Securency Úc
đã
trả
cho ông Lương Ngọc Anh
hàng chục triệu đô la để
đút lót cho các quan
chức Việt Nam
là vài thí dụ điển hình.
Tham nhũng làm giảm khả
năng Việt Nam có thể
cạnh tranh vốn đầu tư
trên thương trường quốc
tế. Chỉ còn hấp dẫn
những doanh thương lạc
hậu dựa vào đồng lương
rẻ và sự thiếu vắng một
công đòan độc lập tranh
đấu cho quyền lợi lao
công.
Tham
nhũng đã lan tràn đến
mọi cơ cấu hạ tầng, trở
thành một quốc nạn ảnh
hưởng khi trực tiếp, khi
gián tiếp đến từng người
Việt Nam.
Tức
nước thì vỡ bờ, hàng
loạt các cuộc đình công
đòi tăng lương đòi bảo
đảm quyền lao động.
Nhiều cuộc biểu tình
đã
xảy
ra ở các vùng nông thôn
do việc
qủan lý
đất đai,
tham nhũng của các quan
chức địa phương
và
một
cao trào đòi đất
của
giáo hội Công giáo
đã
bị đảng Cộng sản cướp
sau khi chiếm được chính
quyền.
Vùng lãnh hải thuộc kiểm
soát của Việt Nam càng
ngày càng bị thu hẹp,
khiến cuộc sống ngư dân
đã bấp bênh, cơ cực lại
càng bấp bênh cơ cực
hơn. Nhà cầm quyền Việt
Nam đã để mặc cho Quân
Đội Trung Quốc bắn, bắt,
cướp tàu, đòi tiền chuộc
khi các ngư dân Việt Nam
đánh bắt trên vùng lãnh
hải Việt Nam. Trong khi
đó tàu đánh cá Trung
Quốc lại được tự do ra
vào đánh bắt.
Việt Nam ngày nay lệ
thuộc vào việc bán rẻ
tài nguyên thiên nhiên.
Xuất khẩu dầu thô ước
chừng 10 tỷ Mỹ kim hằng
năm. Việc Trung Quốc
tiến hành khai thác
bauxite Tây Nguyên, lợi
ít hại nhiều, đã gặp
phản đối mạnh mẽ cả
trong lẫn ngoài đảng.
Lần đầu trong lịch sử,
một tập thể quần chúng
trí thức đồng lòng và
công khai ký tên phản
đối một “chủ trương lớn”
đã được Trung Ương Đảng
được Bộ Chính Trị thông
qua.
Trung Quốc còn cho xây
hàng chục đập thuỷ điện
trên thượng lưu sông Cửu
Long, đập Tiểu Loan cao
nhất thế giới, đe dọa
đến cuộc sống của các
quốc gia hạ lưu như Lào,
Cam Bốt, Việt Nam. Cuộc
sống của nông dân Miền
Nam đã khổ sẽ khổ hơn.
Sông Hồng miền Bắc ngày
nay nhiều nơi cạn nước
cũng do các đập Trung
Quốc xây dựng trên
thượng nguồn trước đây.
Lời tiên đoán “sông
có thể cạn núi có thể
mòn” của Hồ chí Minh
nay đang được đồng chí
đàn anh Trung Quốc biến
thành sự thật.
Với trình độ quản lý
kinh tế yếu kém, Việt
Nam đang dẫn đầu về mức
độ lạm phát, nhiều lần
phải phá giá đồng tiền,
đầu tư và xuất cảng sút
giảm, nạn thất nghiệp
gia tăng … Người nông
dân, ngư dân, công nhân,
giới công chức, quân
nhân, sinh viên, hưu trí
đã nghèo lại nghèo thêm.
Đời sống những tầng lớp
trên rất bấp bênh, không
tương lai, không khả
năng đối ứng với đổi
thay đột ngột. Vì thế họ
đâm ra thờ ơ với mọi vận
động dân chủ khi chưa có
được niềm tin vững chắc.
Ngược lại, thiểu số đại
gia tư bản đỏ thì càng
ngày càng giàu có và
quyền thế hơn. Hố ngăn
cách giữa thiểu số này
và đa số dân chúng nghèo
khổ đang ngày một sâu
hơn. Chênh lệch giàu
nghèo đến mức độ không
kềm hãm được lại là
nguyên nhân cho mọi biến
động xã hội - chính trị
có thể xảy ra bất cứ lúc
nào.
Về
an sinh xã hội,
Giáo sư Hòang Tụy
có
bài
viết “Giáo dục, xin
cho tôi nói thẳng”
để
quy trách cho cuộc khủng
hoảng giáo dục đang ngày
càng trở nên trầm trọng.
Trong bài viết, giáo sư
Hòang Tụy đề cập đến ba
điều: (1) Giáo dục sa
sút không phải vì thiếu
tiền mà vì quản lý kém;
(2) cần cải cách có hệ
thống chứ không phải đổi
mới vụn vặt và (3) Giáo
dục không phải là phòng
thí nghiệm.
Chỉ
cần đổi chữ giáo dục
thành y tế, văn hóa, tư
tưởng, luật pháp… chúng
ta sẽ nhận ra ngay ba
điều mà giáo sư Tụy đưa
ra chính là nguyên nhân
cuộc khủng hoảng toàn
diện đã và đang xảy ra
trên đất nước Việt Nam.
Theo Bản Báo Cáo của
Viện
Đại học Harvard,
Việt Nam đã mắc phải sai
lầm trong hoạch đinh
chính sách. Thay vì
hướng đến để trở thành
các quốc gia phát triển
như Tân Gia Ba, Đại Hàn
và Đài Loan. Việt Nam đã
theo con đường của Thái
Lan , Nam Dương và Phi
Luật Tân trước đây. Bản
báo cáo cho rằng
“sự
thành công tùy thuộc vào
điều mà mình chọn lựa”.
Viện
Đại
học Harvard
quên rằng Bộ chính trị
đảng Cộng sản là tập thể
quyết định cho tương lai
Việt Nam . Bộ Chính Trị
lại bị Trung Quốc khống
chế. Thế nên khó có thể
Việt Nam sẽ trở thành
một Thái Lan, một Nam
Dương hay một Phi Luật
Tân, mà sẽ trở thành một
bán thuộc điạ của Trung
Quốc. Vẫn cờ vẫn đảng,
nhưng tư tưởng, văn hoá,
giáo dục, thì từng bước
bị đồng hoá thành một
tỉnh nghèo bên Tầu.
Về phong trào Cách Mạng,
Khối 8406 một tổ chức
quần chúng đấu tranh với
“mục tiêu giải thể
chế độ cộng sản độc tài
toàn trị, giành lại các
quyền tự do dân chủ cho
dân tộc Việt Nam bằng
đường lối bất bạo động”,
đã gần vượt qua 4 năm
thử thách. Từ chỉ gồm
118 thành viên ban đầu,
nay đã tăng lên hàng
chục ngàn thành viên gồm
đủ mọi tầng lớp. Khối đã
được nhiều quốc gia và
tổ chức quốc tế công
nhận. Nhiều thành viên
trong Khối đã bị bắt bớ,
tù đày, cô lập. Trong
một hoàn cảnh khó khăn
như vậy Khối vẫn tiếp
tục con đường đã vạch
(Cương Lĩnh Điều 2.4)
: “Xúc tiến soạn
thảo một Hiến pháp
tạm thời và thúc đẩy
việc tổ chức một cuộc
Trưng Cầu Dân Ý để
Dân tộc Việt Nam được
quyền tự quyết, tự lựa
chọn thể chế chính trị
thích hợp nhất cho mình.
Hỗ trợ các Tổ chức, Đoàn
thể và các Chính đảng
Dân chủ phi cộng sản tổ
chức thành công cuộc
Bầu cử Quốc hội đa đảng
đúng nghĩa dân chủ thực
sự đầu tiên để Quốc
hội khoá I này biểu
quyết một Hiến Pháp
Mới làm nền tảng
pháp lý vững bền cho Đất
nước.”
Về tình hình hải ngoại,
Chỉ thị số 34-CT/TW cho
biết “Theo báo cáo
của Bộ Công an, hiện có
413 tổ chức phản động;
62 đài phát thanh và
truyền hình, 390 báo và
tạp chí phản động và 88
nhà xuất bản ở hải ngoại
chống phá ta.” Chỉ
thị để lộ khung cảnh đa
nguyên, đa đảng, năng
động và chống cộng,
trong sinh hoạt người
Việt hải ngoại. Người
cộng sản có thể chiếm
miền Bắc trong 10 năm,
miền Nam 20 năm, nhưng
đã trên 30 năm cộng đồng
hải ngoại vẫn là các
cộng đồng tự do và chống
cộng. Chỉ thị cũng cho
thấy cộng đồng hải ngoại
càng ngày càng quyết tâm
đẩy mạnh tiến trình dân
chủ hoá Việt Nam: “Từ
sau đại hội X, ta phát
hiện thêm 2 đài (Đài
tiếng nói thanh niên và
Đài Hồn Việt), 5 tổ chức
phản động mới và 20
chiến dịch tuyên truyền
phá hoại tư tưởng đối
với Việt Nam.”
Đảng Cộng sản có quyền,
có lực và luôn luôn muốn
lấn sân hải ngoại, nhưng
càng lấn thì càng lún.
Cuối năm nay trước “Đại
Hội Việt Kiều” được tổ
chức tại Hà Nội, nhưng
âm vang chỉ là tiếng còi
hú của cảnh sát bảo vệ
đoàn “đại biểu Việt
kiều”. Đại biểu Nguyễn
Hữu Liêm từ Hoa Kỳ cho
biết ông được công an
đón tại phi trường, bảo
vệ về nơi tập trung,
chăm sóc suốt thời gian
Đại Hội và (có thể) được
công an tiễn ra tận phi
trường ngay sau Đại Hội.
Ông Liêm rất hãnh diện
được gọi là “triết gia
còi hụ” đã tham dự “Đại
Hội Hú Còi”.
“Đại Biểu”
Lê Thiết Hùng,
trưởng đoàn Ba Lan,
cho
biết “biên
giới là vấn đề làm cho
nhiều người Việt Nam bức
xúc, nhất là người Việt
ở nước ngoài”.
Đề tài này đã được ông
Trần Duy Hải, Phó Chủ
nhiệm ủy ban biên giới
quốc gia, trình bày. Thế
nhưng các đại biểu chỉ
được nghe, không được
hỏi vì đây là một đề tài
“nhạy cảm” liên hệ đến
tình hữu nghị với đàn
anh Trung Quốc. Một Đại
Hội thất bại cả hình
thức lẫn nội dung.
Diễn biến hoà bình thật
giả ra sao ?
Trong cơn khủng hoảng
toàn diện và nguy cơ mất
nước, thay vì tìm cách
giải quyết, đảng Cộng
sản lại xem mọi bất ổn
kinh tế, bất ổn xã hội,
bất ổn chính trị là hậu
quả của chiến lược diễn
biến hoà bình do thế lực
thù địch gây ra. Thế lực
thù địch bao gồm mọi nỗ
lực vận động dân chủ để
Việt Nam gia nhập cộng
đồng thế giới. Việc làm
này thách thức độc quyền
cai trị của đảng Cộng
sản Việt Nam . Vì thế họ
tìm đủ mọi cách, từ trấn
áp khủng bố đến tuyên
truyền chống lại diễn
biến này. Thế nhưng càng
chống thì các Nghị
Quyết, các Chỉ Thị do
đảng Cộng sản ban hành
càng để lộ những yếu kém
mà họ đang phải đối đầu.
Gần đây nhất và cụ thể
nhất là
Chỉ thị số 34-CT/TW do
Ban Bí Thư
ban hành nhằm chống lại
diễn biến hoà bình,
chống tự diễn biến, tự
chuyển hoá. Vài phân
tích dưới đây cho thấy
tình trạng khủng hoảng
tư tưởng của đảng Cộng
sản Việt Nam .
Về vai trò lãnh đạo
đảng, Chỉ thị 34-CT/TW
ghi rõ các thế lực thù
địch xuyên tạc rằng: “Đảng
chỉ tay, Chính phủ phủi
tay, Mặt trận vỗ tay,
Quốc hội giơ tay, dân
trắng tay”. Sự thực
là “Trung Quốc phẩy
tay, Đảng chỉ
tay, Chính phủ phủi tay,
Mặt trận vỗ tay, Quốc
hội giơ tay, dân trắng
tay”.
Chỉ thị trên cho thấy
kết quả đạt được từ việc
chống diễn biến hoà bình
rất hạn hẹp và chung
chung, “được quan tâm
hơn”, “có hiệu
quả hơn”, “nắm chắc
hơn” hay “được tăng
cường hơn trước”.
Không cho biết một cách
cụ thể như có bao nhiêu
mạng lưới diễn đàn thông
tin tự do đã được đảng
gởi công an mạng tận
tình chiếu cố thay miền
đổi dạng, tấn công phá
hoại, có bao nhiêu nhà
báo đã được công an văn
hoá tận tình thăm hỏi,
có bao nhiêu người mất
công ăn việc làm chỉ vì
mất niềm tin ở đảng v.v…
Ngược lại, Chỉ thị liệt
kê cụ thể, chi tiết
những khuyết điểm, những
yếu kém, những tác động
tự diễn biến trong nội
bộ, như: “Kết quả
cuộc điều tra dư luận xã
hội năm 2007 cho thấy tỷ
lệ số người cho rằng
“hiện tượng tán phát tài
liệu xấu, tuyên truyền
các quan điểm sai trái,
xuyên tạc, bôi nhọ chế
độ là vấn đề bức xúc
trong năm” đã tăng từ
17% năm 2006 lên 28% năm
2007; tác động của thủ
đoạn “Diễn biến hòa
bình” tăng từ 22% năm
2006 lên 27% năm 2007.
Kết quả cuộc điều tra về
tác động của các quan
điểm, hành động sai
trái, thù địch tới tâm
trạng, thái độ cán bộ,
đảng viên và nhân dân
tháng 01/2004 cho thấy
có tới 33% đối tượng cán
bộ và 45% đối tượng nhân
dân được hỏi đã trả lời:
các thông tin xuyên tạc,
vu cáo, bịa đặt, nói xấu
Đảng, nói xấu chế độ,
bôi nhọ lãnh đạo của các
thế lực thù địch đã tác
động lớn đến sự phai
nhạt lý tưởng cách mạng,
lý tưởng XHCN trong xã
hội hiện nay.”
Các cuộc điều tra trên
đều đã xảy ra vài năm
trước khi Quốc nạn mất
Biển Đông hay bán đứng
Bauxite Tây Nguyên thực
sự bùng nổ. Nếu các cuộc
điều tra được tiến hành
hôm nay thì kết quả sẽ
thấy (không còn là
“Một số” mà là) “Đa
số cán bộ, đảng
viên và quần chúng hoang
mang, dao động mất
phương hướng, giảm sút
lòng tin vào chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối
của Đảng, chính sách
pháp luật Nhà nước, hoặc
muốn đi theo hướng phát
triển chế độ tư bản chủ
nghĩa.”
Chỉ thị cũng cho biết đã
:“Xuất hiện một bộ
phận học sinh, sinh viên
thiếu lòng tin vào con
đường đi lên CNXH và
công cuộc đổi mới do
Đảng lãnh đạo”.
Nhiệm vụ thứ bảy của
chỉ thị nêu rõ: “… đề
cao tinh thần cảnh giác,
chủ động phòng, chống
nguy cơ “Tự diễn biến”
trong cán bộ, đảng
viên ở cả Trung ương,
các ngành, các cấp, các
địa phương.” Lộ ra
nỗi lo sợ diễn biến hòa
bình đã và đang xẩy ra ở
cả cấp trung ương đảng.
Trí thức, báo chí và
quân đội là ba thành
phần chủ lực trong công
tác tư tưởng và bảo vệ
đảng nay đã có nhiều dấu
hiệu ngược lại. Người
viết đã phổ biến 3 bài
phân tích từng thành
phần nêu trên xin được
tóm tắc như sau:
Viện Nghiên cứu Phát
triển (IDS)
là thí dụ cụ thể nhất
tiêu biểu cho tầng lớp
trí thức. Nhiều người
trong viện lâu nay nằm
trong guồng máy đảng và
nhà nước, biết nhiều sự
thật nội bộ, vừa có
trình độ nghiên cứu được
quốc tế công nhận, vừa
biết trình bày và thông
tin kết qủa nghiên cứu,
nên được nhiều người
trong cũng như ngòai
đảng cộng sản lắng nghe
và tin theo. Có người đã
tích cực đóng góp trong
quá trình đổi mới kinh
tế sau Đại Hội VI. Viện
tập trung nghiên cứu về
kinh tế, giáo dục, y tế,
xã hội… khổ nỗi dưới sự
cầm quyền của đảng Cộng
sản, Việt Nam càng ngày
càng lâm vào khủng hoảng
toàn diện, đời sống dân
chúng thì mỗi ngày một
tệ hại hơn. Kết quả
những công trình nghiên
cứu thường phơi bày sự
thật rất trái ngược với
luận điệu tuyên truyền
của đảng. Sự thật lần
hồi phá vỡ nền tảng và
cơ cấu quyền lực,
dẫn đến tình trạng khủng
hoảng tư tưởng mà đảng
Cộng sản
gọi là “diễn biến hoà
bình”.
Trong lĩnh vực báo chí
Chỉ thị 34-CT/TW nêu rõ:
“Thời
gian qua, có một số
lãnh đạo và báo chí,
phóng viên đã bộc lộ tư
tưởng báo chí đối lập
với Đảng, quá nhấn
mạnh vai trò “phản biện”
và lạm dụng “quyền lực
xã hội” để đưa các bài
viết công kích sự lãnh
đạo của Đảng và Nhà
nước.”
Hai
năm 2008
và
2009 vừa qua
là những năm đại hạn của
nền báo chí Việt Nam.
Nhiều nhà báo bị tạm
giam, bị bắt hay mất
việc, nhiều Tổng biên
tập bị thay đổi, nhiều
tờ báo bị đóng cửa cũng
chỉ vì thông tin trung
thực khách quan và toàn
diện trái ngược với
tuyên truyền chính thống
và như thế đương nhiên
bị coi là chống đảng.
Đa số cán bộ trung và
cao cấp trong quân đội
đều trưởng thành trong
cuộc chiến tại Cam Bốt
và cuộc chiến chống bá
quyền Trung Quốc. Về
quốc sự, họ có cách nhìn
và suy nghĩ khác với
thiểu số cầm quyền cộng
sản. Vì thế Bộ Chính trị
(khóa IX) đã phải ban
hành Nghị quyết 51 tiến
đến việc thực hiện chế
độ chính ủy, chính trị
viên trong quân đội theo
đúng khuôn mẫu đảng Cộng
sản Trung Quốc. Báo Quân
Đội Nhân Dân ngày
17/12/2009,
Trung tướng, Tiến Sỹ
Nguyễn Tiến Quốc,
Chính uỷ Học viện Chính
trị
cho biết “Vẫn còn
một số cán bộ, đảng
viên, trong đó có cả cán
bộ chủ trì chưa nhận
thức đúng, đầy đủ và rõ
ràng về Nghị quyết 51...”
Một dấu hiệu cho thấy
giới quân nhân đã đặt
trung với Tổ Quốc
lên trên việc trung
với đảng, thách thức
quyền lãnh đạo của đảng
Cộng sản, khi đảng này
đang cấu kết với Trung
Quốc đi ngược quyền lợi
dân tộc. Tạo cho đảng
Cộng sản nỗi lo sợ quân
đội sẽ đứng về phiá
người dân để giành lại
các quyền tự do cho toàn
dân tộc.
Nói tóm lại, từ trung
ương đến cơ sở, từ trong
đảng đến ngoài dân, từ
trí thức đến quân nhân,
cả người trẻ lẫn người
già đều mong muốn, đều
đòi hỏi những thay đổi
chính trị để đất nước
Việt Nam có thể vẹn toàn
và dân tộc có thể hoà
nhập cộng đồng thế giới.
Đại Hội VI, đảng Cộng
sản vì lo sợ sự phát
triển của hai đảng Dân
Chủ và Xã Hội dẫn đến đa
nguyên đa đảng nên đã ra
lệnh giải tán hai đảng
này. Đại Hội lần này và
kỷ niệm 80 năm thành
lập, đảng lại mang tai
mang tiếng đang thẳng
tay đàn áp đảng Dân chủ
phục hoạt.
Theo cáo trạng của công
an, các đảng viên đảng
Dân chủ đã chủ trương
diễn biến hoà bình bằng
cách cộng tác với thành
phần cấp tiến trong đảng
Cộng sản để thực hiện
cương lĩnh đảng Dân chủ
(Điều 4 – Phần I) là
“Thực
hiện quyền ứng cử và bầu
cử tự do, công bằng,
trung thực (có quốc tế
giám sát) để xây dựng
một Quốc hội mới, một
Nhà nước mới thực sự của
Dân, do Dân, vì Dân.
Quốc hội mới sẽ xây dựng
một Hiến pháp mới
thực sự dân chủ, một hệ
thống luật pháp mới thực
sự công minh”.
Ngày 28/12/2009, trước
toà án tỉnh Thái Bình
ông Trần kim Anh hùng
hồn tuyên bố:
"Tôi
tham gia Đảng Dân chủ
Việt Nam và Khối 8406
để đấu tranh cho tự
do dân chủ và nhân
quyền thông qua đối
thoại hòa bình và
hình thức bất bạo
động."
Những ngày sắp tới các
đảng viên đảng Dân chủ
gồm anh Nguyễn Tiến
Trung,
các ông Lê Công Định,
Trần Huỳnh Duy Thức và
Lê Thăng Long
và các bà Lê Thị Thu
Thu, Trần Thị Thu, Cù
Thị Phương sẽ ra đưa ra
toà vì tội
"hoạt
động nhằm lật đổ chính
quyền nhân dân".
Vụ án này đã đang và sẽ
tiếp tục là đề tài cho
thế giới biết thêm sự
thật về nhà nước pháp
quyền Cộng Hòa Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam và
đảng Cộng sản Việt Nam .
Chỉ trước Đại Hội VI một
năm, vào ngày 2/01/1985,
nhà cầm quyền Việt Nam
đã hành quyết dã man 19
liệt sỹ kháng chiến quốc
gia trong Mật Trận Thống
Nhất Các Lực Lượng Yêu
Nước Gỉai Phóng Nam Việt
Nam. Vài ngày sau
8/01/1985, liệt sỹ Trần
văn Bá, một trí thức trẻ
từ Pháp về lãnh đạo,
cũng đã bị hành quyết
bất chấp sự can thiệp
của chánh phủ và chánh
giới Pháp. Ngày nay đảng
Cộng sản chỉ sử dụng toà
án và bản án tử hình để
đe doạ các hoạt động đấu
tranh.
Cũng vậy chỉ vài năm
trước đây, vì dịch bài
“What is Democracy?”
trên website của Toà Đại
sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội,
Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã
bị nhà cầm quyền cộng
sản tuyên án 10 năm tù
và 3 năm quản chế. Ngày
nay, dịch, viết và quảng
bá cho sự thật là việc
làm xảy ra thường xuyên
của nhiều thành viên
đang vận động dân chủ.
Có so sánh như thế mới
thấy đảng Cộng sản càng
ngày càng co rụm, sợ hãi
dư luận mất dần độc
quyền tuyên truyền độc
quyền kiểm soát tư tưởng
và mất dần quyền năng
trấn áp các lực lượng
đấu tranh. Có so sánh
như thế mới thấy rõ
thành quả và tiến trình
của công cuộc đấu tranh
chung.
Diễn Biến Hoà Bình là Sự
Thật
Cụm từ “diễn tiến hoà
bình” càng ngày càng
được nhà cầm quyền cộng
sản sử dụng một cách
thường xuyên hơn. Chỉ
riêng Chỉ Thị 34-CT/TW
người viết đã đếm được
28 lần cụm từ này xuất
hiện. Nhiều lần các cụm
từ “tự diễn biến”, “tự
chuyển hoá” cũng xuất
hiện. Như vậy “diễn biến
hoà bình”, “tự diễn
biến”, “tự chuyển hoá”
đã được đảng Cộng sản
xác nhận là thách thức
lớn nhất đối với độc
quyền cai trị từ bên
trong hệ thống.
Sự sống còn của đảng
Cộng sản dựa trên nền
tảng giả dối, biạ đặt và
tuyên truyền. Trong khi
đó, diễn tiến hoà bình
là quá trình tìm kiếm
sự thực và truyền bá
thông tin sự thật đến
quảng đại quần chúng.
Sự thật bao gồm từ những
điều xẩy ra trong đời
sống hàng ngày đến những
sự thật lịch sử. Riêng
sự thật lịch sử là chỗ
dựa cuối cùng mà đảng
Cộng sản đang cố công
bám giữ. Đẩy mạnh diễn
biến hoà bình hay đẩy
mạnh quá trình quảng bá
sự thật sẽ từng bước phá
tan nền tảng quyền lực
cuả đảng. Nhờ đó người
dân sẽ từng bước giành
lại các quyền tự do cho
chính mình, nhất là
quyền được yêu nước
chống xâm lăng Trung
Quốc trong hoàn cảnh
hiện nay.
Việt Nam Đi về Đâu ?
Hai mươi năm trước, dân
chúng các quốc gia Âu
Châu bị cộng sản chiếm
đóng đã đứng lên giành
lại tự do. Bốn yếu tố
chính giúp cho các dân
tộc này thành công là
(1) số nhỏ nồng cốt lãnh
đạo (2) đòi hỏi bức
thiết từ phiá dân chúng
(3) đồng thuận từ bên
trong giới cầm quyền và
(4) tình hình thế giới
với xu hướng dân chủ hoá
toàn cầu không thể cưỡng
lại.
Bài viết này chỉ thấy
ngoại trừ một thiểu số
cầm quyền có thể chấp
nhận Việt Nam trở thành
một bán thuộc địa Trung
Quốc. Đaị khối dân tộc
đang từng bước đồng
thuận con đường duy nhất
phải tới là giữ toàn vẹn
lãnh thổ lãnh hải và dân
chủ hoá để hội nhập toàn
cầu. Bốn yếu tố được nêu
bên trên càng ngày càng
thuận lợi cho đaị khối
dân tộc. Một yếu tố khác
là chiến tranh với Trung
Quốc có thể xảy ra bất
cứ lúc nào, vì thế công
cuộc dân chủ hoá Việt
Nam cần chủ động hơn.
Để có thể chủ động được
thời cuộc, các đảng
phái, các tổ chức, các
khối, các nhóm, các nhân
sỹ cần đồng tâm ngồi lại
với nhau để thảo luận,
để sọan ra một Dự
Thảo Hiến Pháp. Dự
thảo này sẽ là nền tảng
để xây dựng một chính
phủ dân chủ, hiến định
và pháp quyền. Sẽ quy
định các nguyên tắc xây
dựng quyền lực cho chính
phủ, các giới hạn của
chính phủ và đề ra các
thủ tục họat động cơ bản
cho chính phủ. Là nền
tảng xây dựng các chính
sách xã hội, giáo dục,
chính trị, kinh tế, văn
hoá, ..., các quyết định
pháp lý và các đạo luật
quốc gia. Dự Thảo
Hiến Pháp này sẽ
giúp:
1. xây dựng và sửa sọan
một hướng đi, đưa dân
tộc chúng ta, một cách
bình thường và bình đẳng
hội nhập vào cộng đồng
thế giới;
2. phương tiện đấu tranh
cho dân chủ quyết liệt
trong ôn hòa bất bạo
động;
3. giáo dục đại chúng về
các quyền các bổn phận
cá nhân và chính phủ
4. là giải pháp ít rủi
ro nhất cho các đảng
viên đảng cộng sản, vì
khi bị áp bức đến cùng
cực, cách mạng bạo lực
ắt sẽ xẩy ra; và
5. làm căn bản cho một
Quốc Hội Lập Hiến cứu
xét và đưa ra trưng cầu
dân ý.
Người viết tin rằng đây
không phải là một việc
khó làm vì qua bài viết
này ít nhất Khối 8406 và
đảng Dân chủ đều có cùng
chủ trương. Cái khó nhất
là làm sao chúng ta có
thể xoá bỏ sự khác biệt
để cùng nhau hướng đến
việc chung:
Việt Nam phải Tự Do
và Dân Chủ.
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
06/1/2010