|

Ngày 9
(18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay... (Bài
10/10)
Lưu
Dân (Sydney - Australia)
 |
|
|
Chia tay với công ty du
lịch Batam! |
|
Buổi
sáng, băng 3T Triệu - Tài - Tước và anh em Nhà họ Huỳnh đã ra
ngồi lại quán cà-phê lề đường ở vùng Geylang từ sớm. Trần Lão
Gia, út Tuấn Hùng và tôi cũng lục tục tấp vào. Ly cà-phê sữa tổ
chảng (chỉ 80 xu Sing) đã giúp chống lên đôi mí mắt lúc nào cũng
chực sụp xuống vì thiếu ngủ. Lác đác những cô gái ăn sương thức
sớm ghé lại ăn sáng, gương mặt không son phấn trông phờ phạc,
mệt mỏi...
Thấm
thoát mà đã 10 ngày. Mười ngày trước, chúng tôi cũng đã ngồi ở
đây, chưa biết đoạn đường sắp tới sẽ ra sao nhưng mọi người đều
háo hức, nôn nả. Bây giờ, gia tài tinh thần của từng người phong
phú hơn, tình cảm với nhau mặn mà hơn nhưng không tránh khỏi tâm
trạng bồi hồi, quyến luyến trước giờ giã từ.
Ngoài
những người sắp cất cánh về nhà, Út Tuấn Hùng (từ Thụy Điển) sẽ
trở lại Galang trong ngày để trùng tu lại Miếu Ba Cô như lời
khấn nguyện. Anh Trưởng đoàn ngày mai sẽ tiếp tục lên đường đi
Mã Lai đến Hội Hồng Nguyệt ở thủ đô Kuala Lumpur để thu xếp việc
scan lại hàng trăm ngàn thẻ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từng ghé
lại đất nước này. Riêng tôi lại lòng vòng mò đến trại tỵ nạn xưa
và tìm thăm những bạn cũ ở Singapore.
Mọi người
xốc ba-lô lên vai, xiết tay nhau cú chót và chúc nhau “bảo
trọng”.
Lời
kết:
Thế đấy,
chúng tôi 22 người từ 6 quốc gia, hầu hết chưa quen biết nhau
trước, đã sống với nhau trọn vẹn trong gần 10 ngày của chuyến đi
để đời này. Chúng tôi đã chia sẻ với nhau những món hải sản tươi
rói mới vớt lên từ lòng biển trong veo hoặc những tô mì gói
nguội ngắt giữa đêm khuya, trong những khách sạn đầy đủ tiện
nghi ở thành phố hoặc những phòng trọ qua đêm ở vùng quê được
ngăn bởi tấm vách không đủ độ dày để đẩy lùi tiếng ngáy của...
mấy ông thợ kéo gỗ, với những quyến luyến không rời giữa những
người bạn mới quen mà đã trở thành tri kỷ, với những nén nhang
thành tâm lung linh trước các mộ phần vô danh của thuyền nhân
Việt Nam ở nơi cùng trời cuối đất này.
Trong
chuyến đi, không ai trong đoàn tiên đoán được hết những bất ngờ
dọc đường. Chương trình được linh động điều chỉnh liên tục vì sự
thay đổi ngoài dự tính. Chúng tôi đã di chuyển bằng mọi phương
tiện có thể thu xếp được tại chỗ; từ những phi cơ hiện đại của
các hãng hàng không quốc tế đến các chuyến bay nội địa bằng phi
cơ cánh quạt thời... Đệ nhị Thế chiến, từ những chiếc ca-nô cao
tốc đến các chiếc tàu khách chậm rì, từ những xe du lịch rì rào
máy lạnh êm như ru đến các chiếc xe đò cởi hết cả áo vẫn còn
chảy mồ hôi (thật là... tội nghiệp cho các bà các cô!), từ các
đoạn "xe ôm" từng cặp bất đắc dĩ đến những cuốc... xe dép mỏi
nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng ai thốt ra một lời than. Vậy mà chỉ
nghe tiếng cười, câu hát, chuyện vui rộn ràng trên những đoạn
đường tìm về kỷ niệm...
 |
|
|
Thơ mộng của Letung!
Thiên nhiên, trời và nước! |
|
Chúng tôi
đã hưởng thụ - theo nghĩa đúng nhất - những phong cảnh kỳ vĩ của
thiên nhiên và thổ sản địa phương độc đáo mà những du khách dư
dã tiền bạc chưa chắc đã mua được. Làm sao bạn có thể ngắm được
ánh nắng chiều ráng đỏ trên đường chân trời giữa chập chùng hải
đảo? Làm sao bạn có thể ngâm mình dưới làn nước trong veo như
thủy tinh trên bãi cát trắng mịn ở bãi biển mà người địa phương
đặt tên là "Nước của Trời", uống ngụm nước dừa mới hái và ăn
ngay tại bãi những con tôm hùm còn quẫy đuôi tanh tách do các
ngư dân mang đến trên những chiếc ghe độc mộc chèo tay? Và làm
sao có được những đêm văn nghệ ngẫu hứng vui nhộn bằng các ngôn
ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam Dương được trình diễn bởi "những
giọng hát quốc tế chưa hề cầm micro chuyên nghiệp" nhưng hay
chẳng kém bất cứ siêu sao ca nhạc nào?
Chúng tôi
cũng đã sớt chia với nhau những dòng nước mắt rưng rưng hạnh
phúc khi cùng các bạn đồng hành tìm thấy mộ phần quạnh hiu nhang
khói từ hàng chục năm qua của người thân nằm lại trên đảo, nhặt
từng chiếc dép, sợi neo, mảnh chén... còn vương mùi dâu bể của
cuộc hành trình gian truân và bi thảm nhất trong lịch sử dân
tộc.
Nhưng thú
vị và cảm động nhất vẫn là những ân tình đậm đà với những người
mà chúng tôi một thời đã chịu ơn, hoặc với những người đương
thời mà chúng tôi đang mắc nợ.
|
 |
|
|
Đoàn chúng tôi và trẻ
em tại Letung!
|
|
Trước hết
phải kể đến người dân địa phương hiền hòa và chất phác ở Matak,
Terempah, Letung, Air Raya, Keramut... Nhớ lại trước đây, họ đã
đón tiếp các đợt thuyền nhân Việt Nam trôi dạt đến vùng quần đảo
Anambas này bằng những bàn tay nâng đỡ, những nồi cháo hồi sinh,
những tấm áo lành lặn tạm che tấm thân tơi tả vì sóng gió hoặc
hải tặc. Bây giờ, cũng chính họ phá rừng mở lối, hướng dẫn tìm
mộ, cùng san sớt niềm vui nỗi buồn trong câu chuyện xưa với
những người họ từng một thời cưu mang. Dưới lưng áo bạc trắng
muối biển và làn da đen sạm nắng gió nhiệt đới, trái tim của họ
vẫn đỏ tươi một tình người thủy chung, bất biến. Họ tiếp đón
chúng tôi bằng bàn tay nắm chặt và nụ cười hồn nhiên như những
bác Ba, chú Tư, cô Năm, dì Sáu... ở miền Trung, miền Tây của quê
hương Việt Nam trong lòng những kẻ xa quê lâu lắm mới có dịp trở
về - không phân biệt đoàn "du khách quốc tế" này ngày xưa là
chén sành bây giờ là chén kiểu.
Chúng tôi
cũng đã có cơ duyên hạnh ngộ với những ân nhân thầm lặng của
thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam như Adnan Nala, người đã dành trọn
tuổi thanh xuân cho lý tưởng nhân đạo cao thượng mà hy sinh cả
tương lai sự nghiệp của mình.
Và chúng
tôi cũng đã gặp gỡ các ngư dân Việt Nam bị tù giam ở Terempah
trong một hoàn cảnh bẽ bàng, buồn tủi vì bị bỏ rơi bởi chính
những kẻ vẫn luôn miệng rêu rao là “chính quyền nhân dân”. Có
sống những giây phút tận cùng mâu thuẫn và nghịch lý ấy mới thấy
thấm thía ý nghĩa của những chữ đồng bào và đồng hương.
Sau cùng
là anh chàng hướng dẫn viên xuề xòa dễ mến Edi Surbakti, xếp của
một công ty du lịch ở Thành phố Batam. Suốt chuyến đi, hầu như
anh chỉ ngủ mỗi đêm vài giờ nhưng phải thường trực đối phó với
"những việc không tên" nặng như búa tạ mà có lẽ rất ít người
trong đoàn biết được. Ngày từ giã chúng tôi, Edi đã không cầm
được nước mắt. Anh đã nhiều lần đích thân phụ trách hướng dẫn
các đoàn của VKTNVN về thăm các trại tỵ nạn ở Nam Dương từ năm
2005, mỗi lần đối với anh là một kỷ niệm khó quên, nhưng dường
như anh chưa hề bộc lộ sự xúc động cao độ như lần này.
 |
|
|
Edi! Giám đốc công ty
du lịch Batam!
|
|
Là một
người hoạt bát và thích bông đùa, Edi lại trở nên lúng túng
nghẹn ngào khi nói lời chia tay với một giọng sũng nước. Nhân
danh một công dân Nam Dương bình thường và biết xấu hổ, anh đã
xin lỗi mọi người về hành vi quấy nhiễu và hối lộ của "những
thằng chó chết" (các quan chức tham ô ở địa phương) trong một số
chặng đường chúng tôi đã qua. Thật ra, nhiều người trong đoàn
hoàn toàn không biết gì về những chuyện ấy cho đến ngày cuối
cùng vì anh đã chịu đựng nín nhịn để gìn giữ không khí thoải mái
của chuyến đi. Nghe được chuyện, tôi chỉ ao ước phải chi những
kẻ đang cầm quyền cai trị đất nước Việt Nam cũng biết xấu hổ như
một công dân bình thường Edi ở Nam Dương...
Có vài
độc giả khi đọc bài phóng sự lê thê này đã hỏi tôi một câu rất
thực tế: “Đi như vậy tốn bao nhiêu tiền?”
Tôi hiểu
câu hỏi này xuất phát từ sự quan tâm chính đáng vì, ngoài nhu
cầu tâm linh và mục đích rõ ràng như vậy, họ cũng phải chuẩn bị
về khả năng tài chánh để tham dự chuyến đi. Những người tham dự
chuyến đi vừa qua cũng đã từng đặt câu hỏi như thế. Và, như vài
đoạn viết vui về “anh chàng trùm sò” trong bài, mọi người đều
nhẩm tính rằng họ đã “lời to” sau chuyến đi, không những trong ý
nghĩa vật chất mà còn cả về phương diện tinh thần.
Nhân đây,
xin được kể một câu chuyện ngoài lề để kết thúc bài phóng sự
này: Sau hàng chục năm “cày sâu cuốc bẩm”, anh Triệu (từ
Melbourne - Úc) dành dụm được ít tiền dằn túi để cố gắng thực
hiện lời hứa đưa di hài của vợ từ Kuku về gia đình. Anh từng dự
tính thực hiện một chuyến đi riêng (trước khi biết đến Văn khố
Thuyền nhân VN) với chi phí ước chừng... vài chục ngàn đô-la
(xin lỗi anh Triệu, tôi phải nói ít đi một chút cho độc giả tin,
chứ nói cả trăm ngàn thì sợ... trộm viếng nhà anh!) vì nó bao
gồm các phương tiện di chuyển và giấy tờ rất nhiêu khê, tốn kém;
như thuê tàu bè, trực thăng chuyên dụng, nhân công địa phương,
thủ tục bốc mộ và mang tro cốt về nước v.v... Nhưng khi được bạn
bè và gia đình hỏi về chi phí cho chuyến đi vừa qua với kết quả
tốt đẹp ngoài sự mong đợi, anh cho biết toàn bộ chỉ tốn khoảng
6000AUD cho cả ba anh em 3T, kể cả những chi phí riêng. Ai cũng
cho là... “quá bèo”, dù so với giá cả và mức sống ở Việt Nam!
Bài đến
đây đã dài. Cám ơn các bạn đã theo dõi. Nếu hưỡn, các bạn có thể
xem thêm tin tức, hình ảnh và một số bài viết khác quanh
chuyến đi Kuku - Galang tại
http://www.vnbp.org/vbtd/vbtd06/
trở về
 |