02/2010

Thứ hai 25 tháng Giêng năm 2010
(Đông bộ Úc Châu)

trở về

Ngày 9 (18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay... (Bài 10/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 

Chia tay với công ty du lịch Batam!

 

Buổi sáng, băng 3T Triệu - Tài - Tước và anh em Nhà họ Huỳnh đã ra ngồi lại quán cà-phê lề đường ở vùng Geylang từ sớm. Trần Lão Gia, út Tuấn Hùng và tôi cũng lục tục tấp vào. Ly cà-phê sữa tổ chảng (chỉ 80 xu Sing) đã giúp chống lên đôi mí mắt lúc nào cũng chực sụp xuống vì thiếu ngủ. Lác đác những cô gái ăn sương thức sớm ghé lại ăn sáng, gương mặt không son phấn trông phờ phạc, mệt mỏi...

Thấm thoát mà đã 10 ngày. Mười ngày trước, chúng tôi cũng đã ngồi ở đây, chưa biết đoạn đường sắp tới sẽ ra sao nhưng mọi người đều háo hức, nôn nả. Bây giờ, gia tài tinh thần của từng người phong phú hơn, tình cảm với nhau mặn mà hơn nhưng không tránh khỏi tâm trạng bồi hồi, quyến luyến trước giờ giã từ.

Ngoài những người sắp cất cánh về nhà, Út Tuấn Hùng (từ Thụy Điển) sẽ trở lại Galang trong ngày để trùng tu lại Miếu Ba Cô như lời khấn nguyện. Anh Trưởng đoàn ngày mai sẽ tiếp tục lên đường đi Mã Lai đến Hội Hồng Nguyệt ở thủ đô Kuala Lumpur để thu xếp việc scan lại hàng trăm ngàn thẻ thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đất nước này. Riêng tôi lại lòng vòng mò đến trại tỵ nạn xưa và tìm thăm những bạn cũ ở Singapore.

Mọi người xốc ba-lô lên vai, xiết tay nhau cú chót và chúc nhau “bảo trọng”.

Lời kết:

 

 

Thế đấy, chúng tôi 22 người từ 6 quốc gia, hầu hết chưa quen biết nhau trước, đã sống với nhau trọn vẹn trong gần 10 ngày của chuyến đi để đời này. Chúng tôi đã chia sẻ với nhau những món hải sản tươi rói mới vớt lên từ lòng biển trong veo hoặc những tô mì gói nguội ngắt giữa đêm khuya, trong những khách sạn đầy đủ tiện nghi ở thành phố hoặc những phòng trọ qua đêm ở vùng quê được ngăn bởi tấm vách không đủ độ dày để đẩy lùi tiếng ngáy của... mấy ông thợ kéo gỗ, với những quyến luyến không rời giữa những người bạn mới quen mà đã trở thành tri kỷ, với những nén nhang thành tâm lung linh trước các mộ phần vô danh của thuyền nhân Việt Nam ở nơi cùng trời cuối đất này.

Trong chuyến đi, không ai trong đoàn tiên đoán được hết những bất ngờ dọc đường. Chương trình được linh động điều chỉnh liên tục vì sự thay đổi ngoài dự tính. Chúng tôi đã di chuyển bằng mọi phương tiện có thể thu xếp được tại chỗ; từ những phi cơ hiện đại của các hãng hàng không quốc tế đến các chuyến bay nội địa bằng phi cơ cánh quạt thời... Đệ nhị Thế chiến, từ những chiếc ca-nô cao tốc đến các chiếc tàu khách chậm rì, từ những xe du lịch rì rào máy lạnh êm như ru đến các chiếc xe đò cởi hết cả áo vẫn còn chảy mồ hôi (thật là... tội nghiệp cho các bà các cô!), từ các đoạn "xe ôm" từng cặp bất đắc dĩ đến những cuốc... xe dép mỏi nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng ai thốt ra một lời than. Vậy mà chỉ nghe tiếng cười, câu hát, chuyện vui rộn ràng trên những đoạn đường tìm về kỷ niệm...

 

Thơ mộng của Letung! Thiên nhiên, trời và nước!

 

 

Chúng tôi đã hưởng thụ - theo nghĩa đúng nhất - những phong cảnh kỳ vĩ của thiên nhiên và thổ sản địa phương độc đáo mà những du khách dư dã tiền bạc chưa chắc đã mua được. Làm sao bạn có thể ngắm được ánh nắng chiều ráng đỏ trên đường chân trời giữa chập chùng hải đảo? Làm sao bạn có thể ngâm mình dưới làn nước trong veo như thủy tinh trên bãi cát trắng mịn ở bãi biển mà người địa phương đặt tên là "Nước của Trời", uống ngụm nước dừa mới hái và ăn ngay tại bãi những con tôm hùm còn quẫy đuôi tanh tách do các ngư dân mang đến trên những chiếc ghe độc mộc chèo tay? Và làm sao có được những đêm văn nghệ ngẫu hứng vui nhộn bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam Dương được trình diễn bởi "những giọng hát quốc tế chưa hề cầm micro chuyên nghiệp" nhưng hay chẳng kém bất cứ siêu sao ca nhạc nào?

Chúng tôi cũng đã sớt chia với nhau những dòng nước mắt rưng rưng hạnh phúc khi cùng các bạn đồng hành tìm thấy mộ phần quạnh hiu nhang khói từ hàng chục năm qua của người thân nằm lại trên đảo, nhặt từng chiếc dép, sợi neo, mảnh chén... còn vương mùi dâu bể của cuộc hành trình gian truân và bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc.

Nhưng thú vị và cảm động nhất vẫn là những ân tình đậm đà với những người mà chúng tôi một thời đã chịu ơn, hoặc với những người đương thời mà chúng tôi đang mắc nợ.

 

Đoàn chúng tôi và trẻ em tại Letung!
 

 

Trước hết phải kể đến người dân địa phương hiền hòa và chất phác ở Matak, Terempah, Letung, Air Raya, Keramut... Nhớ lại trước đây, họ đã đón tiếp các đợt thuyền nhân Việt Nam trôi dạt đến vùng quần đảo Anambas này bằng những bàn tay nâng đỡ, những nồi cháo hồi sinh, những tấm áo lành lặn tạm che tấm thân tơi tả vì sóng gió hoặc hải tặc. Bây giờ, cũng chính họ phá rừng mở lối, hướng dẫn tìm mộ, cùng san sớt niềm vui nỗi buồn trong câu chuyện xưa với những người họ từng một thời cưu mang. Dưới lưng áo bạc trắng muối biển và làn da đen sạm nắng gió nhiệt đới, trái tim của họ vẫn đỏ tươi một tình người thủy chung, bất biến. Họ tiếp đón chúng tôi bằng bàn tay nắm chặt và nụ cười hồn nhiên như những bác Ba, chú Tư, cô Năm, dì Sáu... ở miền Trung, miền Tây của quê hương Việt Nam trong lòng những kẻ xa quê lâu lắm mới có dịp trở về - không phân biệt đoàn "du khách quốc tế" này ngày xưa là chén sành bây giờ là chén kiểu.

Chúng tôi cũng đã có cơ duyên hạnh ngộ với những ân nhân thầm lặng của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam như Adnan Nala, người đã dành trọn tuổi thanh xuân cho lý tưởng nhân đạo cao thượng mà hy sinh cả tương lai sự nghiệp của mình.

Và chúng tôi cũng đã gặp gỡ các ngư dân Việt Nam bị tù giam ở Terempah trong một hoàn cảnh bẽ bàng, buồn tủi vì bị bỏ rơi bởi chính những kẻ vẫn luôn miệng rêu rao là “chính quyền nhân dân”. Có sống những giây phút tận cùng mâu thuẫn và nghịch lý ấy mới thấy thấm thía ý nghĩa của những chữ đồng bào và đồng hương.

Sau cùng là anh chàng hướng dẫn viên xuề xòa dễ mến Edi Surbakti, xếp của một công ty du lịch ở Thành phố Batam. Suốt chuyến đi, hầu như anh chỉ ngủ mỗi đêm vài giờ nhưng phải thường trực đối phó với "những việc không tên" nặng như búa tạ mà có lẽ rất ít người trong đoàn biết được. Ngày từ giã chúng tôi, Edi đã không cầm được nước mắt. Anh đã nhiều lần đích thân phụ trách hướng dẫn các đoàn của VKTNVN về thăm các trại tỵ nạn ở Nam Dương từ năm 2005, mỗi lần đối với anh là một kỷ niệm khó quên, nhưng dường như anh chưa hề bộc lộ sự xúc động cao độ như lần này.

 

Edi! Giám đốc công ty du lịch Batam!
 

 

Là một người hoạt bát và thích bông đùa, Edi lại trở nên lúng túng nghẹn ngào khi nói lời chia tay với một giọng sũng nước. Nhân danh một công dân Nam Dương bình thường và biết xấu hổ, anh đã xin lỗi mọi người về hành vi quấy nhiễu và hối lộ của "những thằng chó chết" (các quan chức tham ô ở địa phương) trong một số chặng đường chúng tôi đã qua. Thật ra, nhiều người trong đoàn hoàn toàn không biết gì về những chuyện ấy cho đến ngày cuối cùng vì anh đã chịu đựng nín nhịn để gìn giữ không khí thoải mái của chuyến đi. Nghe được chuyện, tôi chỉ ao ước phải chi những kẻ đang cầm quyền cai trị đất nước Việt Nam cũng biết xấu hổ như một công dân bình thường Edi ở Nam Dương...

Có vài độc giả khi đọc bài phóng sự lê thê này đã hỏi tôi một câu rất thực tế: “Đi như vậy tốn bao nhiêu tiền?”

Tôi hiểu câu hỏi này xuất phát từ sự quan tâm chính đáng vì, ngoài nhu cầu tâm linh và mục đích rõ ràng như vậy, họ cũng phải chuẩn bị về khả năng tài chánh để tham dự chuyến đi. Những người tham dự chuyến đi vừa qua cũng đã từng đặt câu hỏi như thế. Và, như vài đoạn viết vui về “anh chàng trùm sò” trong bài, mọi người đều nhẩm tính rằng họ đã “lời to” sau chuyến đi, không những trong ý nghĩa vật chất mà còn cả về phương diện tinh thần.

Nhân đây, xin được kể một câu chuyện ngoài lề để kết thúc bài phóng sự này: Sau hàng chục năm “cày sâu cuốc bẩm”, anh Triệu (từ Melbourne - Úc) dành dụm được ít tiền dằn túi để cố gắng thực hiện lời hứa đưa di hài của vợ từ Kuku về gia đình. Anh từng dự tính thực hiện một chuyến đi riêng (trước khi biết đến Văn khố Thuyền nhân VN) với chi phí ước chừng... vài chục ngàn đô-la (xin lỗi anh Triệu, tôi phải nói ít đi một chút cho độc giả tin, chứ nói cả trăm ngàn thì sợ... trộm viếng nhà anh!) vì nó bao gồm các phương tiện di chuyển và giấy tờ rất nhiêu khê, tốn kém; như thuê tàu bè, trực thăng chuyên dụng, nhân công địa phương, thủ tục bốc mộ và mang tro cốt về nước v.v... Nhưng khi được bạn bè và gia đình hỏi về chi phí cho chuyến đi vừa qua với kết quả tốt đẹp ngoài sự mong đợi, anh cho biết toàn bộ chỉ tốn khoảng 6000AUD cho cả ba anh em 3T, kể cả những chi phí riêng. Ai cũng cho là... “quá bèo”, dù so với giá cả và mức sống ở Việt Nam!

Bài đến đây đã dài. Cám ơn các bạn đã theo dõi. Nếu hưỡn, các bạn có thể xem thêm tin tức,  hình ảnh và một số bài viết khác quanh chuyến đi Kuku - Galang tại http://www.vnbp.org/vbtd/vbtd06/

 

trở về

Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT NAM]
1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng với quý đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.
2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM] cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị, ... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn.

3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật, v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;

4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;

[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau. Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.

[TỴ NẠN VIỆT NAM] & VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
TRẦN ĐÔNG, MSc.
email: dongtran.vktn@gmail.com    web: www.vktnvn.com