Ngày 7
(16.04 Terempah - Batam): Đồng bào bỏ rơi... (Bài 8/10)
Lưu
Dân (Sydney - Australia)
Mới 6 giờ
sáng mà băng “già quậy” đã ngồi đồng trong quán cà-phê cầu tàu
rồi. Giấc ngủ đầy đủ đêm qua đã bơm lại năng lượng tiêu hao mấy
hôm nay nên họ tỏ ra sung sức trở lại. Từng nhóm nhỏ lục tục kéo
đến nhập đoàn, chuyện trò náo động cả cầu tàu. Chẳng biết chuyện
đâu ra mà lắm thế! Ai cũng nói như thể họ bị ông xã bà huyện ở
nhà “tắt đài” hàng thế kỷ không bằng...
Lên đồi đến nghĩa trang
thuyền nhân tại Terempa
Như đã
hẹn trước, hôm nay chúng tôi sẽ cùng hát khúc “Đèo cao, dô
ta...” với cánh xe ôm địa phương đi lên mỏm đồi phía trái
của đảo để viếng mộ thuyền nhân.
Khoảng
hai chục chiếc xe ôm đủ dạng đủ kiểu do Út Tuấn Hùng ra chợ “bắt
mối” ào ào phóng tới đậu nghẹt kín trước quán cà-phê. Chúng tôi
nhanh chóng bắt cặp với họ (“Nè, xấu đẹp tùy người đối diện
nghe! Không được chọn anh da ngăm tóc quăn đẹp trai kia nhé. Của
tôi đấy!” Cái máu tiếu lâm ngầm của các chị bây giờ mới...
lộ ra hết). Đoàn xe phóng đi như con rắn dài trườn mình lên
đường dốc cao, tiếng động cơ gào rú làm xao động cả một góc
đảo.
Rải rác
trong bãi đất bằng trên đỉnh đồi là nơi an táng khoảng ba chục
thuyền nhân Việt Nam. Đây là khu đất riêng rộng hàng trăm mẫu
của một địa chủ gốc Hoa tử tế từng giúp đỡ người tỵ nạn khi họ
đến Terempah hơn phần tư thế kỷ trước. Ông cũng vừa qua đời cách
đây vài năm. Theo ước nguyện, phần mộ của ông được đặt trên một
mô đất cao giữa những người tỵ nạn vắn số mà ông từng tự tay
chôn cất. Ở vị trí này, ông có thể nhìn xuống vùng vịnh đẹp như
tranh phía dưới. Ai cũng trầm trồ “quang cảnh trị giá hàng triệu
đô-la” (million dollar view) đó và cũng mừng cho vong linh của
những đồng bào gửi thân ở nơi tiên cảnh giữa cõi trần gian này.
Hôm nay,
chúng tôi may mắn gặp được người con trai duy nhất của ông, một
Mục sư hiền lành và thân thiện. Ông nói tiếng Anh khá thông thạo
nên chúng tôi cũng đỡ... mỏi tay. Ông kể lại nhiều kỷ niệm thời
niên thiếu của mình với người tỵ nạn VN và cho biết ông sẽ hiến
tặng phần lớn đất đai của mình để xây trường tiểu học và bệnh xá
cho dân địa phương, chỉ giữ lại một khoảnh nhỏ có phần mộ của
thân phụ và các thuyền nhân VN trên đỉnh đồi...
Vì không
có người chăm sóc trong nhiều năm nên các phần mộ của thuyền
nhân VN bị xiêu lạc, mất dấu. Chúng tôi chỉ tìm thấy vài mô đất
và tảng đá nhưng không có bia mộ ghi tên người quá vãng. Dân địa
phương cho biết phía sau đồi cũng còn dăm ngôi mộ người Việt nữa
nhưng đường dốc rất khó đi... Chúng tôi tập họp lại và cùng vị
Mục sư hợp tế cho những người được an táng ở đây. Vì là địa điểm
tưởng niệm cuối cùng trong chặng đường hành hương, phần nhang
đèn và vàng mả còn lại của David mang từ Hoa Kỳ được mang ra đốt
hết trong buổi lễ cầu nguyện này trước khi chúng tôi quay về bến
tàu.
Ngư dân Việt Nam bị Nam
dương bắt giữ chờ cả năm vẫn chưa được chính phủ Việt
Nam nhận về!
Khi nghe
tin đoàn trở lại Terempah, nhóm ngư dân VN bị bắt mà chúng tôi
gặp gỡ trước đó mấy ngày trong chặng đi đã xin phép cảnh sát địa
phương đến gặp để tâm tình đồng bào và nhắn tin về nhà. Nói là
“xin phép” vì họ đang là những người tù, bị giam lỏng trên hòn
đảo này về tội xâm nhập và khai thác hải sản bất hợp pháp trong
lãnh hải Nam Dương. Hàng ngày, họ vẫn được ra ngoài làm tạp dịch
dưới sự giám sát của cảnh sát Nam Dương để tự nuôi thân bằng mọi
việc: khuân vác bến tàu, quét dọn đường xá, phụ hồ xây dựng,
khai hoang làm rẫy...
Cuộc đời
tù tuy khó khăn (thường khi bị chèn ép và đôi lúc bị đánh đập)
nhưng họ vẫn cảm thấy chịu đựng được vì ít ra họ còn được cho
phép ra khỏi hàng rào của khu tạm giam để kiếm sống, hòa nhập
vào sinh hoạt của người địa phương và hít thở không khí tự do.
Điều làm họ đau đớn và tủi nhục hơn là thái độ vô cảm đến mức
ghẻ lạnh của nhân viên ngoại giao của chính nước mình.
Tuy đã
nhiều lần cầu cứu với Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam ở Kuala Lumpur
nhưng họ chỉ chạm mặt với một bức tường im lặng khủng khiếp. Cái
cơ quan có nhiệm vụ đại diện và bảo vệ cho người dân của mình ở
nước ngoài này không hề can thiệp, chẳng màng cử người đến thăm
hỏi, thậm chí từ chối luôn cả việc chuyển thư của họ về thân
nhân trong nước. Vì không có tiền, không có người bênh vực và
lại bị giam giữ ở một hải đảo xa xôi, trường hợp của họ hầu như
chẳng ai ở thế giới bên ngoài biết đến.
Đa số
trong nhóm các ngư dân này là từ Nha Trang và Vũng Tàu. Họ chỉ
là những người “đi bạn” trên các tàu đánh cá viễn duyên đó và
không hề biết đã vi phạm luật hành nghề quốc tế. Có người đã ở
đây gần một năm, có người mới chỉ vài tháng và tất cả đang chờ
đợi ngày ra tòa hoặc phải nộp tiền phạt mới được trả về nguyên
quán. Ở Terempah hiện có khoảng 30 ngư dân Việt Nam còn bị giam
giữ vì không có tiền chuộc tàu hoặc chưa lãnh án. Chúng tôi cũng
được biết số ngư dân VN bị bắt trong vùng này lên đến hàng trăm
và đa số đang bị giam giữ ở Tangjung Pinang.
Trong tâm
tình đồng bào, nhóm ngư dân VN bị giam ở Terempah kể cho chúng
tôi về hoàn cảnh khổ cực và cô đơn của họ qua làn nước mắt:
“Nhiều ngày anh em tụi tôi không có
việc làm, phải nhịn đói. Ai cũng mong chờ ngày về gặp lại gia
đình, nhưng làm sao có được hai ba trăm triệu đồng để nộp phạt?
Số tiền đó bằng cả một đời làm lụng của chúng tôi chớ ít sao...
Các chủ tàu thì đã phủi tay mà 'Nhà nước mình' cũng làm ngơ. Tụi
tôi chỉ biết cầu Trời!”
(Nhớ lại
chuyến đi thăm các trại tỵ nạn cũ ở Mã Lai hồi cuối năm 2005,
tôi cũng đã gặp một nhóm “lao động xuất khẩu” biểu tình ở Kuala
Lumpur vì bị chèn ép và ngược đãi nhưng chẳng hề được Đại sứ
quán CHXHCN Việt Nam can thiệp hoặc giúp đỡ. Chẳng biết quý ngài
nhân viên ngoại giao ở đó làm chuyện gì, ngoài việc ăn chận tiền
cò từ dịch vụ buôn bán nước mắt và mồ hôi của nhân dân cùng
khổ!)
Buổi gặp
gỡ ngắn ngủi với nhóm ngư dân ở Terempah bị cảnh sát cắt ngang
vì “hết giờ thăm nuôi”. Chúng tôi góp lại những món quà thực tế
để giúp họ qua cơn ngặt nghèo và nhận chuyển những lá thư gửi về
nhà với cõi lòng nặng trĩu...
Trong một nhà hàng nhỏ
ăn trưa tại Terempa và chờ giờ ra sân bay về Tanjung
Pinang!
Chuyến
ca-nô tốc hành đưa chúng tôi về lại Matak vào buổi trưa nắng
đẹp. Cũng như lượt đi, máy bay đến Tangjung Pinang lại... trễ
giờ. Ngồi chờ lây lất trong một quán ăn ven đường, anh Trưởng
đoàn và Edi cứ quýnh quáng như gà mắc đẻ, vì nếu không kịp
chuyến phà chót trong ngày về Batam, chúng tôi phải nằm lại đây
và ngủ... màn trời chiếu đất.
Cũng hên,
khi mọi người gần như đã... đầu hàng giờ giấc của Air Riau,
chúng tôi được báo tin máy bay đã đến và sẽ cất cánh trong vòng
10 phút nữa. Thế là ba-lô lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi người
cuối cùng bước qua khỏi cầu thang, máy bay cũng vừa lăn bánh ra
phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp sẵn, hành lý của chúng tôi gửi lại
khách sạn mấy ngày trước đã được chuyển thẳng ra bến phà. Một
lần nữa, chúng tôi là nhóm hành khách cuối cùng của chuyến chót
trong ngày về Batam, nơi chúng tôi chỉ còn kịp thời gian để nhận
phòng ở khách sạn Nagoya và... lăn đùng ra ngủ!
Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT
NAM] 1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng
với quý
đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] và Văn
Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về
các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ
những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng
tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham
khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không
thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam. 2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần
"quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM]
cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự
do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị,
... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT
NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý
kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn. 3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho
các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật,
v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ
nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo
tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các
tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;
4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự
do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các
cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của
thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội
nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;
[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong
nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý
đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để
chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao
trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau.
Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả
thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.