02/2010

Thứ hai 25 tháng Giêng năm 2010
(Đông bộ Úc Châu)

trở về

Ngày 7 (16.04 Terempah - Batam): Đồng bào bỏ rơi... (Bài 8/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Mới 6 giờ sáng mà băng “già quậy” đã ngồi đồng trong quán cà-phê cầu tàu rồi. Giấc ngủ đầy đủ đêm qua đã bơm lại năng lượng tiêu hao mấy hôm nay nên họ tỏ ra sung sức trở lại. Từng nhóm nhỏ lục tục kéo đến nhập đoàn, chuyện trò náo động cả cầu tàu. Chẳng biết chuyện đâu ra mà lắm thế! Ai cũng nói như thể họ bị ông xã bà huyện ở nhà “tắt đài” hàng thế kỷ không bằng...

 

Lên đồi đến nghĩa trang thuyền nhân tại Terempa
 

 

Như đã hẹn trước, hôm nay chúng tôi sẽ cùng hát khúc “Đèo cao, dô ta...” với cánh xe ôm địa phương đi lên mỏm đồi phía trái của đảo để viếng mộ thuyền nhân.

Khoảng hai chục chiếc xe ôm đủ dạng đủ kiểu do Út Tuấn Hùng ra chợ “bắt mối” ào ào phóng tới đậu nghẹt kín trước quán cà-phê. Chúng tôi nhanh chóng bắt cặp với họ (“Nè, xấu đẹp tùy người đối diện nghe! Không được chọn anh da ngăm tóc quăn đẹp trai kia nhé. Của tôi đấy!” Cái máu tiếu lâm ngầm của các chị bây giờ mới... lộ ra hết). Đoàn xe phóng đi như con rắn dài trườn mình lên đường dốc cao, tiếng động cơ gào rú làm xao động cả một góc đảo. 

Rải rác trong bãi đất bằng trên đỉnh đồi là nơi an táng khoảng ba chục thuyền nhân Việt Nam. Đây là khu đất riêng rộng hàng trăm mẫu của một địa chủ gốc Hoa tử tế từng giúp đỡ người tỵ nạn khi họ đến Terempah hơn phần tư thế kỷ trước. Ông cũng vừa qua đời cách đây vài năm. Theo ước nguyện, phần mộ của ông được đặt trên một mô đất cao giữa những người tỵ nạn vắn số mà ông từng tự tay chôn cất. Ở vị trí này, ông có thể nhìn xuống vùng vịnh đẹp như tranh phía dưới. Ai cũng trầm trồ “quang cảnh trị giá hàng triệu đô-la” (million dollar view) đó và cũng mừng cho vong linh của những đồng bào gửi thân ở nơi tiên cảnh giữa cõi trần gian này.

Hôm nay, chúng tôi may mắn gặp được người con trai duy nhất của ông, một Mục sư hiền lành và thân thiện. Ông nói tiếng Anh khá thông thạo nên chúng tôi cũng đỡ... mỏi tay. Ông kể lại nhiều kỷ niệm thời niên thiếu của mình với người tỵ nạn VN và cho biết ông sẽ hiến tặng phần lớn đất đai của mình để xây trường tiểu học và bệnh xá cho dân địa phương, chỉ giữ lại một khoảnh nhỏ có phần mộ của thân phụ và các thuyền nhân VN trên đỉnh đồi...

Vì không có người chăm sóc trong nhiều năm nên các phần mộ của thuyền nhân VN bị xiêu lạc, mất dấu. Chúng tôi chỉ tìm thấy vài mô đất và tảng đá nhưng không có bia mộ ghi tên người quá vãng. Dân địa phương cho biết phía sau đồi cũng còn dăm ngôi mộ người Việt nữa nhưng đường dốc rất khó đi... Chúng tôi tập họp lại và cùng vị Mục sư hợp tế cho những người được an táng ở đây. Vì là địa điểm tưởng niệm cuối cùng trong chặng đường hành hương, phần nhang đèn và vàng mả còn lại của David mang từ Hoa Kỳ được mang ra đốt hết trong buổi lễ cầu nguyện này trước khi chúng tôi quay về bến tàu.

 

Ngư dân Việt Nam bị Nam dương bắt giữ chờ cả năm vẫn chưa được chính phủ Việt Nam nhận về!

 

Khi nghe tin đoàn trở lại Terempah, nhóm ngư dân VN bị bắt mà chúng tôi gặp gỡ trước đó mấy ngày trong chặng đi đã xin phép cảnh sát địa phương đến gặp để tâm tình đồng bào và nhắn tin về nhà. Nói là “xin phép” vì họ đang là những người tù, bị giam lỏng trên hòn đảo này về tội xâm nhập và khai thác hải sản bất hợp pháp trong lãnh hải Nam Dương. Hàng ngày, họ vẫn được ra ngoài làm tạp dịch dưới sự giám sát của cảnh sát Nam Dương để tự nuôi thân bằng mọi việc: khuân vác bến tàu, quét dọn đường xá, phụ hồ xây dựng, khai hoang làm rẫy...

Cuộc đời tù tuy khó khăn (thường khi bị chèn ép và đôi lúc bị đánh đập) nhưng họ vẫn cảm thấy chịu đựng được vì ít ra họ còn được cho phép ra khỏi hàng rào của khu tạm giam để kiếm sống, hòa nhập vào sinh hoạt của người địa phương và hít thở không khí tự do. Điều làm họ đau đớn và tủi nhục hơn là thái độ vô cảm đến mức ghẻ lạnh của nhân viên ngoại giao của chính nước mình.

Tuy đã nhiều lần cầu cứu với Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam ở Kuala Lumpur nhưng họ chỉ chạm mặt với một bức tường im lặng khủng khiếp. Cái cơ quan có nhiệm vụ đại diện và bảo vệ cho người dân của mình ở nước ngoài này không hề can thiệp, chẳng màng cử người đến thăm hỏi, thậm chí từ chối luôn cả việc chuyển thư của họ về thân nhân trong nước. Vì không có tiền, không có người bênh vực và lại bị giam giữ ở một hải đảo xa xôi, trường hợp của họ hầu như chẳng ai ở thế giới bên ngoài biết đến.

Đa số trong nhóm các ngư dân này là từ Nha Trang và Vũng Tàu. Họ chỉ là những người “đi bạn” trên các tàu đánh cá viễn duyên đó và không hề biết đã vi phạm luật hành nghề quốc tế. Có người đã ở đây gần một năm, có người mới chỉ vài tháng và tất cả đang chờ đợi ngày ra tòa hoặc phải nộp tiền phạt mới được trả về nguyên quán. Ở Terempah hiện có khoảng 30 ngư dân Việt Nam còn bị giam giữ vì không có tiền chuộc tàu hoặc chưa lãnh án. Chúng tôi cũng được biết số ngư dân VN bị bắt trong vùng này lên đến hàng trăm và đa số đang bị giam giữ ở Tangjung Pinang.

Trong tâm tình đồng bào, nhóm ngư dân VN bị giam ở Terempah kể cho chúng tôi về hoàn cảnh khổ cực và cô đơn của họ qua làn nước mắt: “Nhiều ngày anh em tụi tôi không có việc làm, phải nhịn đói. Ai cũng mong chờ ngày về gặp lại gia đình, nhưng làm sao có được hai ba trăm triệu đồng để nộp phạt? Số tiền đó bằng cả một đời làm lụng của chúng tôi chớ ít sao... Các chủ tàu thì đã phủi tay mà 'Nhà nước mình' cũng làm ngơ. Tụi tôi chỉ biết cầu Trời!”

(Nhớ lại chuyến đi thăm các trại tỵ nạn cũ ở Mã Lai hồi cuối năm 2005, tôi cũng đã gặp một nhóm “lao động xuất khẩu” biểu tình ở Kuala Lumpur vì bị chèn ép và ngược đãi nhưng chẳng hề được Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam can thiệp hoặc giúp đỡ. Chẳng biết quý ngài nhân viên ngoại giao ở đó làm chuyện gì, ngoài việc ăn chận tiền cò từ dịch vụ buôn bán nước mắt và mồ hôi của nhân dân cùng khổ!)

Buổi gặp gỡ ngắn ngủi với nhóm ngư dân ở Terempah bị cảnh sát cắt ngang vì “hết giờ thăm nuôi”. Chúng tôi góp lại những món quà thực tế để giúp họ qua cơn ngặt nghèo và nhận chuyển những lá thư gửi về nhà với cõi lòng nặng trĩu...

 

 Trong một nhà hàng nhỏ ăn trưa tại Terempa và chờ giờ ra sân bay về Tanjung Pinang!
 

 

Chuyến ca-nô tốc hành đưa chúng tôi về lại Matak vào buổi trưa nắng đẹp. Cũng như lượt đi, máy bay đến Tangjung Pinang lại... trễ giờ. Ngồi chờ lây lất trong một quán ăn ven đường, anh Trưởng đoàn và Edi cứ quýnh quáng như gà mắc đẻ, vì nếu không kịp chuyến phà chót trong ngày về Batam, chúng tôi phải nằm lại đây và ngủ... màn trời chiếu đất.

Cũng hên, khi mọi người gần như đã... đầu hàng giờ giấc của Air Riau, chúng tôi được báo tin máy bay đã đến và sẽ cất cánh trong vòng 10 phút nữa. Thế là ba-lô lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi người cuối cùng bước qua khỏi cầu thang, máy bay cũng vừa lăn bánh ra phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp sẵn, hành lý của chúng tôi gửi lại khách sạn mấy ngày trước đã được chuyển thẳng ra bến phà. Một lần nữa, chúng tôi là nhóm hành khách cuối cùng của chuyến chót trong ngày về Batam, nơi chúng tôi chỉ còn kịp thời gian để nhận phòng ở khách sạn Nagoya và... lăn đùng ra ngủ!

 

trở về

Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT NAM]
1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng với quý đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.
2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM] cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị, ... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn.

3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật, v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;

4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;

[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau. Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.

[TỴ NẠN VIỆT NAM] & VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
TRẦN ĐÔNG, MSc.
email: dongtran.vktn@gmail.com    web: www.vktnvn.com