|

Ngày 6
(15.04 Keramut - Air Raya): Cầu nguyện giữa trưa (Bài 7/10)
Lưu
Dân (Sydney - Australia)
Những bàn
tay vẫy chào quyến luyến của người dân Letung tiễn đưa chúng tôi
đã phủ màn sương mỏng trên mắt mọi người. Tuy chỉ vài ngày ngắn
ngủi nhưng sự mộc mạc và hiếu khách của họ đã để lại kỷ niệm sâu
đậm trong lòng chúng tôi. Dù biết cơ hội trở lại nơi này là rất
mong manh nhưng tôi tin nếu có điều kiện, bất cứ ai trong đoàn
cũng đều muốn đến thăm Letung lần nữa...
 |
|
|
Những cái vẫy tay tạm
biệt của Letung
|
|
Chiếc
ca-nô tốc hành đưa chúng tôi đến Keramut, một hòn đảo cách
Letung khoảng nửa giờ, để viếng mộ thuyền nhân VN. Keramut nhỏ
hơn Letung, cũng mang dáng dấp hiền hòa và yên bình của một làng
chài miền xa. Chỉ cách cầu tàu giữa làng chừng vài trăm mét,
chúng tôi được dẫn đến hai ngôi mộ chôn cạnh nhau trong vườn của
một gia đình ở cạnh bờ biển. Tất cả cùng đến làm cỏ và dọn dẹp
chung quanh phần mộ trước khi cầu nguyện với nghi thức tôn giáo
riêng của từng người trong đoàn. Chúng tôi cũng gửi một ít quà
và nhờ người địa phương chăm sóc cho những ngôi mộ trên sườn núi
mà hôm ấy không có đủ thời gian và điều kiện đến thăm.
Theo lời
kể của ông Adnan Nala từ hôm trước, chúng tôi tiếp tục đến Air
Raya, nơi hàng ngàn thuyền nhân VN đã tấp vào và tạm cư ở đây
trước khi trại Kuku được thành lập. Cũng như Kuku, Air Raya bây
giờ là một đảo hoang, bốn bề mênh mông hiu quạnh, chỉ còn lại
vài cây dừa lão cao ngất. Ca-nô không ủi bãi được nhưng mọi
người đều muốn lội nước vào bờ, cứ như sống lại thuở ngày xưa
lên đảo...
Chúng tôi
đến vào quãng giữa trưa, cát nóng như than hầm dưới chân. May
quá, một chiếc tàu tiếp liệu nào đó đã đến đây mấy ngày trước và
để lại ít mẩu ván và cột gỗ. Chúng tôi bèn... “xin phép ông địa”
để sử dụng các vật dụng này làm bàn thờ cầu siêu cho đồng bào
gửi thân trên đảo. Lễ phẩm cúng tế được bày ra đơn sơ trên tấm
gỗ ngay trên bãi biển. Những nén nhang và các xấp vàng mả được
đốt lên dưới cái nóng rát mặt trên làn da bắt đầu bỏng rộp.
Những bài kinh cầu siêu và thánh ca vang lên, ngậm ngùi và thành
kính.
 |
|
|
Nhang đèn vàng mã cầu
nguyện cho vong linh oan thác trên bờ biển tại Air Raya
|
|
Bác Hồ Tắc, đến Air Raya
cách đây trên 30 năm, không nén được xúc cảm khi nhìn lại cảnh
bể dâu thế sự, nước mắt chảy ròng trên khuôn mặt hằn dấu gian
truân của một người từng hai lần trong đời phải rời bỏ quê hương
xứ sở để mong tìm một cuộc sống trong nhân phẩm và tình người.
Ông xin được thay mặt cho đoàn để khấn vái với những ngườøi bạn
đồng hành nửa đường nằm lại:
“Quý
ông bà, anh chị em ơi... Tôi và gia đình cũng đã đến đây hơn ba
mươi năm trước và đã may mắn đến được đất nước định cư. Nay trở
lại thăm nơi cũ, lòng dạ não nề trước cảnh điêu tàn hoang phế
qua thời gian, bùi ngùi tưởng tiếc những người gửi thây nơi đảo
vắng rừng xa trên đường tìm tự do... Tôi xin dâng nén nhang
thành kính này để cầu nguyện hương linh quý ông bà, anh chị em
nhẹ nhàng siêu thoát, trút bỏ những oan khiên cừu hận để thảnh
thơi yên nghỉ nơi chín suối. Xin những hương hồn vất vưởng đầu
cây ngọn cỏ ở Air Raya này chứng tri cho tấc lòng của chúng
tôi...”
Chúng tôi
đứng quanh chiếc bàn thờ dựng tạm, lịm người dưới ánh nắng trưa
như đổ lửa mà rưng rưng theo tiếng nấc của người anh vui tính
nhất trong đoàn. Mấy ngày qua, tất cả chúng tôi đều nhìn bác Hồ
Tắc như một “Lão Ngoan Đồng” vô tư nhất trần gian. Ông đùa
nghịch như một đứa trẻ và hòa đồng với mọi người trong từng bữa
ăn, giấc ngủ. Vậy mà, ký ức đau thương về quãng đời đã qua hơn
phần tư thế kỷ vẫn còn làm ông day dứt, u buồn...
 |
|
|
Bãi biền Air Raya.
Cầu tàu ngày xưa giờ còn trơ những trụ gỗ
|
|
Chúng tôi
đào một hố cát trên bãi để lấp lại tro than như một phần mộ
trong tâm tưởng và cũng để tránh cháy rừng vì những cơn gió khô
thổi lan sang các bụi cây chung quanh trước khi rời đảo.
Lội ra
lại ca-nô, Edi, người dẫn đoàn luôn ở bên cạnh chúng tôi trong
suốt chuyến đi, chợt thốt lên một câu trào phúng để xóa bớt
không khí lắng đọng sau buổi lễ tưởng niệm:
“Các bạn đã đói rồi chắc? Chúng ta ăn trưa ở
Thiên đàng nhé? Có ai muốn theo tôi không?”
Dĩ nhiên
rồi, nhưng Thiên đàng ở đâu?
Edi quay
lại xổ một tràng tiếng Nam Dương với tài công và chiếc ca-nô
quay mũi đến một hòn đảo nhỏ giữa chập chùng hàng chục hải đảo
trong vùng Anambas. Từ xa, mọi người đã ồ lên một tiếng kinh
ngạc. Chúng tôi chưa từng nhìn thấy một hải đảo đẹp như thế bao
giờ! Hòn đảo như chưa hề có vết chân người, những bụi cây thấp
với màu lá xanh mướt như ngọc, hàng dừa lã thân trên bãi cát
trắng tinh tít tắp. Và làn nước trong vắt như pha lê, nhìn rõ cả
những đàn cá đủ màu nhởn nhơ đẹp như... màn hình computer. Thảo
nào, người địa phương đặt tên hòn đảo này là Impol (Waters of
God): Nước của Trời!
Thật ra,
Edi đã sắp xếp từ trước cho chúng tôi nghỉ trưa ở đây. Anh đã
không đắn đo khi phải “chi thêm chút đỉnh ngoài ngân sách” để
khoe với du khách về cảnh đẹp của đất nước mình. Ai cũng ngây
ngất chiêm ngưỡng tác phẩm toàn hảo này của thiên nhiên. Tôi may
mắn đã từng có dịp đến một số hòn đảo đẹp của quê hương mình,
nhưng công bằng mà nói, các đảo Phú Quý, Thổ Châu, Hòn Rơm, Hòn
Cau... so với Impol còn thua nửa bước.
 |
|
|
Bãi biển thần tiên! Hòn
đảo Thuỷ Thần
|
|
Chúng tôi
“hạ trại” ở đó. Mấy thùng mì xào ớt (độn sò điệp và tôm sú) được
mang ra “xử lý” tại chỗ với những ngụm nước dừa tươi ngọt lịm.
Ai cũng tưởng cái món truyền thống của Xứ Vạn Đảo đã làm mọi
người ngán tận cổ mấy ngày hôm nay, nhưng anh bạn người Huế sành
ăn lại so sánh “mì thiên đàng” Nam Dương là kỳ phùng địch thủ
với “cơm âm phủ” của đất thần kinh ở Việt Nam. Nhiều người trong
đoàn chưa biết món đặc sản Huế nổi tiếng này nhưng ai cũng vét
đến cọng mì cuối cùng trong “cái tô” làm bằng nửa trái dừa tươi
còn nguyên lớp cơm đúng nạo trơn mềm và béo ngậy...
Rời “Nước
của Trời” khi vừa tắt nắng, chúng tôi bắn thẳng về Terempah,
“tiền trạm” của chuyến đi, với một tâm hồn và thân xác nhẹ nhàng
như được tắm gội từ suối nguồn tinh khiết của thế giới tâm linh
huyền diệu và tình người chan chứa trong vùng hải đảo thần tiên
này...
 |
 |
|
|
Nước biển trong vắt
lóng lánh như pha lê |
Hòn đảo Thuỷ Thần
(Impol) |
|
trở về
 |