02/2010

Thứ hai 25 tháng Giêng năm 2010
(Đông bộ Úc Châu)

trở về

 

Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ... (Bài 6/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 

Hòn đảo Berhala, nơi ngày xưa có hàng ngàn thuyền nhân tạm trú nay có cầu nối vào Letung.
 

 

Tuy là ngày "sinh hoạt tự do" trong chương trình nhưng chúng tôi cũng đã tận dụng thời gian để... đi cho biết đó biết đây. Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, cả đoàn rủ nhau đi bộ đến đảo Berhala kế cận, nơi được biết có vài chục ngôi mộ thuyền nhân VN an táng từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ đến đảo" có vẻ hơi... là lạ, nhưng thật sự là vậy. Một chiếc cầu đá dài và vững chắc đã được xây từ nhiều năm trước (sau thời người tỵ nạn VN đến đây) nối liền Letung với Berhala cho người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có thể chạy trên chiếc cầu.

Trên đảo Berhala chỉ có vài ngôi nhà và một đài hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc tế qua lại trên vùng biển này. Nơi đây cũng rất gần với hải phận quốc tế và là một "khu vực nhạy cảm" trong tình hình tranh chấp lãnh hải hiện nay giữa những quốc gia lân cận, đặc biệt là từ khi Trung Quốc công bố "bản đồ lưỡi bò" dành phần chủ quyền của họ trên Biển Đông. Chính phủ Nam Dương không ồn ào tranh cãi về tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán từ phương Bắc nhưng rõ ràng họ đã khẳng định tư cách chủ nhân của mình bằng hành động. Chiếc cầu Berhala và lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là một tuyên ngôn không lời, nhưng rõ ràng và quyết liệt biểu hiện ý chí bảo vệ giang sơn của họ.

Chúng tôi đi bộ trên chiếc cầu với một tâm trạng nao nao khi nghĩ về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phần lãnh thổ của tổ quốc nằm rất xa nơi đây đang bị nuốt chửng thô bạo bởi những kẻ từng một thời tự coi như "vừa là đồng chí, vừa là anh em" với chế độ đương quyền ở quê nhà. Tự dưng, chẳng ai bảo ai, những khúc dân ca, những bài hát đánh thức lòng yêu nước và tình tự dân tộc được cất lên, say sưa và xúc cảm, cứ như chúng tôi đang đi trên con đường cái quan Việt Nam...

"Tôi đi từ Ải Nam Quan qua vài ngàn năm lẻ...", "Anh em ta cùng mẹ cha, nhớ chuyện cũ trong tích xưa khi thế gian còn mù mờ...", "Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn, đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang...", "Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi! Ai chiến thắng không hề chiến bại..."

 

Cầu ngang biển ra đảo Berhala, nước trong vắt thấy rõ từng cây san hô dưới đáy.
 

 

Dường như trời mây non nước Nam Dương cũng cảm thông với tấc lòng hoài quốc của đoàn lữ khách. Ánh nắng buổi sáng nhiệt đới có phần dịu xuống trên lưng áo đã bắt đầu rướm mồ hôi của chúng tôi.

Đến đảo, chúng tôi được viên cảnh sát trưởng Letung dẫn lên một ngọn đồi sát biển để tìm mộ thuyền nhân VN. Dốc đá cao và khá hiểm trở nên anh Trưởng đoàn chỉ đồng ý cho vài người gân cốt tương đối còn vững vàng đi theo. Khi đo bằng mắt, chúng tôi ước lượng chỉ tốn khoảng 10 phút là đến nơi nhưng nhóm tình nguyện đã mất hơn nửa giờ mới lên được đỉnh đồi. Rừng dầy, ẩm và nhiều muỗi. Dù được trang bị bởi những loại nhang mùi, thuốc bôi, thuốc xịt và áo quần khá kỹ nhưng chúng tôi vẫn bị tấn công tới tấp bởi đàn muỗi đói kinh niên. Lạ một điều là chúng chỉ... nhào vào bọn tôi thôi, còn những người địa phương lại an toàn vô sự. Chắc vì... mùi thịt mới chăng?

Sau khoảng nửa giờ tìm kiếm không kết quả, chúng tôi tập trung đến một khoảng trống giữa rừng, cùng đốt nhang khấn vái cho vong hồn những đồng bào còn vất vưởng được siêu thoát trước khi xuống bãi nhập lại với nhóm đang đợi.

Tại đây, chúng tôi được một số người địa phương đến tặng các món quà quý báu: những tấm hình chụp từ hai ba chục năm trước của họ với thuyền nhân Việt Nam. Dù đã phai màu nhưng những tấm hình này là chứng tích không thể phủ nhận được của cuộc bỏ phiếu bằng chân đắt giá nhất trong lịch sử Việt Nam cho tự do và nhân quyền. Có người cho biết những tấm hình kỷ niệm đó là của ông, của cha họ (bây giờ đã qua đời) khi còn làm việc cho Cao ủy Tỵ nạn LHQ hoặc cho các tổ chức nhân đạo quốc tế ở Kuku và Letung. Họ đã giữ những tấm hình đó trên bàn thờ gia đình từ lâu rồi, nhưng nay trân trọng trao lại cho chúng tôi như những kỷ vật để nhớ đến người chết và để nhắc cho người sống. Anh Trưởng đoàn tiếp nhận những tấm hình đó mà bàn tay run run vì cảm động, không nói nên lời...  

 

Đảo chỉ có 2 chiếc xe, một chiếc xe làm đường và một chiếc xe chở học sinh đi học.
 

 

Chiếc xe bus chuyên chở học sinh - có lẽ được xuất xưởng từ ngày... Nam Dương khôi phục nền độc lập - đã chờ sẵn bên kia cầu để đưa chúng tôi đến Air Biru, bãi sau của Letung và là nơi được xếp hạng thứ 6 hoặc thứ 7 trong số các bãi biển thiên nhiên đẹp nhất Á châu. (Về sau, tôi mới biết đây là chiếc xe bus duy nhất trên đảo do cựu Tổng thống Suharto tặng cho trường tiểu học Letung khi ông đến kinh lý hòn đảo này từ năm... một ngàn chín trăm hồi đó! Nó được tạm thời "trưng dụng" cho chúng tôi, báo hại các em học sinh hôm đó phải cuốc bộ đến trường. Thật áy náy quá!)

Quả thật, danh bất hư truyền... Bãi Air Biru dài cả chục cây số, cong như cánh cung, được che chở bởi dãy núi sừng sững, bờ cát trắng mịn và thoai thoải tận phía xa. Không cần một lời mời gọi, cả đoàn - nhất là băng từ Âu châu thèm biển từ đời nào - cởi phăng hết... lớp ngoài, phóng mình xuống làn nước mát rượi.

Ở đây, ngoài vài túp lều đơn sơ của ngư dân địa phương, chỉ có dừa và... dê. Mà ngộ thiệt, mấy "ông thầy" cứ lảng vảng quanh quý bà (đúng là cái nết đánh chết không chừa!) để kiếm vài chiếc vỏ dưa hấu hoặc rau cải mang theo cho buổi BBQ trong khi các nàng dê cái lại quấn quít hơn với các ông (xin thề, nói thật 100%) chẳng biết... để làm gì.

Rồi bên lò cá nướng, quanh tấm bạt trải ra trên bãi cỏ, chúng tôi lại văn nghệ dã chiến với chiếc đàn thùng lạc cả giây và những ly “nước mắt quê hương” (dừa tươi pha rượu) chuyền tay đến tận giọt cuối cùng. Ngày xả hơi trôi qua êm đềm đến khi các bà đỏ ửng lên như tôm luộc vì rám nắng và các ông cũng ngật ngừ với hai chai cognac cắc củm mang qua từ Singapore hồi đầu chuyến đi. Anh chàng trùm sò lại ghi sổ: "Lời to rồi, bà con ơi! Ai còn bạc cắc xin cứ tự nhiên đóng góp cho Trần Lão Gia để vớt thêm bonus nhá!" Vẫn biết là câu nói đùa nhưng ai cũng thừa nhận chuyến đi thật... đáng công đáng của.

Đêm xuống Letung nhẹ nhàng và thơ mộng dưới ánh trăng loang loáng cả mặt biển phẳng lì. Vài nhóm nhỏ rủ nhau dạo làng, tặng quà cho trẻ con hoặc ra cầu tàu tâm sự vụn cho trôi bữa cơm tối. Lục đục đến khuya âm thanh trong căn nhà trọ mới chuyển tông từ những chuỗi cười rôm rả sang bản hợp xướng kéo gỗ nhịp nhàng vào đêm cuối cùng ở "Venice của châu Á"...

     

Bãi biển Letung, cát trắng xoá, nước trong veo. Một khu du lịch đầy tiềm năng trong tương lai.

 

Chúng tôi dừng chân trên bãi biển, tắm, đàn hát và uống rượu. Một ngày "relax" hoàn toàn trước khi tạm biệt Letung.

   

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trở về

Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT NAM]
1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng với quý đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.
2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM] cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị, ... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn.

3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật, v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;

4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;

[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau. Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.

[TỴ NẠN VIỆT NAM] & VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
TRẦN ĐÔNG, MSc.
email: dongtran.vktn@gmail.com    web: www.vktnvn.com