Lên đường vào bãi
đáp trực thăng tại Kuku để
đi tìm mộ thuyền nhân
Giấc ngủ
thẳng cẳng và chầu điểm tâm “cải cách” với cháo cá và bún gà do
bác Hồ Tắc (chủ nhà hàng ở Atlanta) đích thân vào bếp đã nạp đầy
lại năng lượng tiêu hao trong mấy ngày qua. Tiếng cười đùa rộn
ràng làm xao động không khí yên tĩnh của chiếc quán nhỏ trong
ngôi làng chài hiền hòa này. Sự thân thiện và hòa đồng của chúng
tôi với người địa phương đã xóa hẳn những ngăn cách và e dè lúc
đầu. Vài người mang những vỏ ốc hoặc viên đá xinh xắn đến tặng
làm kỷ niệm, ai cũng vẫy tay “hello” khi chúng tôi đi ngang. Và
các em học sinh, trong những bộ đồng phục sạch sẽ và thẳng nếp,
đã không còn ngại ngùng hoặc mắc cỡ khi nhận quà hoặc chụp hình
với chúng tôi.
Cả đoàn
hôm nay chỉ trang bị nhẹ vì tất cả hành lý đều để lại nhà trọ.
Những ngày trước, vì chưa biết “đoạn đường chiến binh” sẽ cam go
như thế nào nên ai nấy đều mang theo mọi thứ có thể vác trên
lưng để phòng hờ, từ lọ thuốc xịt muỗi đến... thỏi son môi. (Một
ông nào đó trong đoàn đã “dại miệng” thốt lên rằng ở Kuku chẳng
có khỉ để... làm điệu đâu! Trời hỡi, làm sao bụm miệng cho kịp.
“Lời nói không mất tiền mua, liệu lời mà nói cho... vừa người
nghe” chứ! Chẳng lẽ ổng không hiểu rằng đụng chạm đến mấy vụ này
là một hành vi “phạm thượng” không thể tha thứ được sao? Từ đó
đến cuối chuyến đi, đương sự bị “trừng phạt đích đáng” bằng biện
pháp cúp hẳn phần ô mai xí muội dọc đường!).
Mọi người
đều phấn chấn và sẵn sàng. Ai cũng biết, hôm nay là ngày N, cái
“đích” của cuộc hành trình. Chúng tôi đã thảo luận các phương
án... hành quân, chia nhóm và phân công nhiệm vụ cho từng người
từ tối hôm trước. “Mũi ai nấy thở” nhé, cứ thế mà làm. Anh
Trưởng đoàn dặn đi dặn lại mãi. Vậy mà các chị, các cô vẫn...
tranh thủ đi xem ngôi chợ quê và mua sắm một ít đồ tươi trong
khi chờ ca-nô tách bến. Cái “máu shopping” muôn thưở đó, buổi
sáng hôm ấy như nhờ có... bà độ, đã mang lại một niềm vui tràn
ngập và bất ngờ cho cả đoàn: một cuộc hạnh ngộ tuyệt vời với
người cũ nơi cảnh xưa!
Lúc “rảo”
chợ tìm mua trái cây, các cô Kim Vân, Xuân Hương, Ngọc Thúy...
bỗng nghe từ phía sau lưng một lời chào hỏi bằng tiếng Việt với
giọng miền Nam đặc sệt: “Các chị ơi, tới đây hồi nào dzậy? Ở
lại lâu hông? Tôi giúp gì được hông?” Giọng nói ấy bộc lộ sự
mừng rỡ pha lẫn chút thích thú. Quay lại, họ thấy một người đàn
ông trung niên, khuôn mặt trí thức và trang phục lịch sự, đang
đứng mĩm cười thân thiện. Các cô chưa hết ngạc nhiên thì ông ấy
tiếp: “Tôi là Adnan Nala, từng làm việc
nhiều năm cho người tỵ nạn Việt Nam ở Kuku và Galang. Bữa nay
tôi về Letung thăm gia đình. Thấy mấy chị là người lạ và nghe
nói tiếng Việt, tôi tới hỏi thăm... Thiệt là hên!”
Ông Adnan Nala, cựu
Cao Uỷ khu vực Anambas
Phong
cách niềm nở, thái độ chân thành và gần gũi của Nala đã tạo nên
một sự tin cậy tức khắc. Các cô tíu tít bắt chuyện và mời ông
đến cầu tàu, nơi cả đoàn đang chờ đợi nhổ neo. Chẳng chút ngần
ngừ, Nala vui vẻ nhận lời sau khi kín đáo ra hiệu cho mấy người
đứng chung quanh (dường như là cảnh sát bảo vệ) cứ để ông tự
nhiên đi một mình. Cử chỉ ấy không thoát qua đôi mắt quan sát
tinh tế của các cô. Họ có cảm giác đang tiếp xúc với một VIP dù
không ai hỏi và cũng chẳng ai nói.
Cái duyên
hạnh ngộ với Nala bắt đầu một cách đột ngột như thế và câu
chuyện sau đó được kể lại về sự liên hệ của ông với thuyền nhân
tỵ nạn Việt Nam đẹp như một huyền thoại có thật trong đời. Khi
chúng tôi mời Nala đến ăn tối với đoàn ở khu nhà trọ, ông thoáng
lưỡng lự nhưng lại gật đầu ngay. Trên khuôn mặt ông lúc ấy phảng
phất một nét bồn chồn mà mãi đến buổi tối hôm ấy chúng tôi mới
biết...
“Số 1,
có! Số 2, có... Số 22, tây đui là... tui đây! Đủ rồi, bác tài.
Nhổ neo!”
Chiếc
ca-nô nhẹ nhàng rời bến, phóng mình ra biển trực chỉ hướng Kuku.
Hôm nay, ngoài đoàn chúng tôi còn có gần chục người khác - gồm
các cảnh sát và lính Nam Dương đi theo bảo vệ. Chúng tôi cũng
được khoảng 20 người địa phương từ Air Raya đến trước để giúp
việc bốc mộ và hỏa thiêu di hài.
Theo sự
phân công, chúng tôi chia làm ba cánh, “đánh” ba hướng khác
nhau. Nhóm thứ nhất cùng đi với Băng 3T để bốc mộ chị Thu Minh
trên đồi trực thăng. Nhóm thứ nhì theo David và bác Hồ Tắc bốc
mộ cho mẹ của David ở con suối cạnh bãi tranh. Nhóm thứ ba đi
với gia đình Nhà họ Huỳnh tiếp tục tìm kiếm ngôi mộ thân phụ của
Thế Trung và Thế Minh. Tất cả đều chuẩn bị khá kỹ (áo quần lao
động, dụng cụ đi rừng, lễ phẩm cúng tế...).
Nhờ tấm bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy,
chị Thu Minh được nằm trọn vẹn bên trong
Tôi cùng
Mimi Đài Trang và Kim Vân theo nhóm đầu, đi với ba anh em Triệu
- Tài - Tước lên đồi. Khoảng 10 người Nam Dương giúp việc đã chờ
sẵn với đầy đủ cuốc xẻng, dao rựa. Sau nghi thức cầu nguyện
ngắn, chúng tôi bắt tay ngay vào việc để tranh thủ thời tiết còn
mát vào buổi sáng. Toán nhân công địa phương chặt bớt cây cành
và mở rộng diện tích chung quanh ngôi mộ cho dễ làm việc. Anh
Triệu lần dở từng tấm hình 27 năm trước để nhớ lại và cám ơn
những người bạn đã giúp anh mai táng Cecile trên đảo. Tài và
Tước cũng sắp đặt những vật dụng cần thiết cho lễ hỏa thiêu. Hai
anh em đã chuẩn bị khá kỹ lưỡng cho chuyến đi này từ Việt Nam.
Họ mang theo cả chiếc xẻng cá nhân mới keng (loại có thể xếp gọn
lại, như lính VNCH ngày xưa thường mang trên ba-lô hành quân),
mấy lít rượu đế để rửa hài cốt và chiếc hủ đựng tro xương. Hai
ông bạn này chu đáo... đến khiếp, từ việc mang (lén) bánh chưng
dưa món ra nước ngoài để “chiêu đãi Việt kiều” đến chuyện đem
theo cả cuốc xẻng và rượu đế lên máy bay! Cử chỉ ấy đã nói lên
tình nghĩa gia đình với người quá cố, dù cả Tài và Tước đều chưa
từng gặp mặt chị Thu Minh lúc sinh thời.
(Một
chuyện nhỏ ngoài lề: Nhiều người địa phương xăm xoi nhìn chiếc
xẻng cá nhân với một vẻ thích thú đặc biệt. Họ ướm lời muốn xin
hoặc mua chiếc xẻng ấy, nhưng Tài và Tước đều lắc đầu vì muốn
giữ nó như một vật kỷ niệm của chuyến đi).
Trái với
sự lo ngại của chúng tôi, nơi an táng chị Thu Minh là một vùng
đất sét pha cát khá xốp chứ không phải đá núi nên việc bốc mộ
diễn ra khá êm xuôi. Dù vậy, anh Triệu đã bắt đầu đứng ngồi
không yên khi những người phu đã đào sâu đến ngực, lưng áo đẫm
ướt mồ hôi mà vẫn chưa thấy quan tài. Và họ cũng chẳng tìm được
chiếc chai bịt kín mà anh đã ghi chi tiết của người quá cố chôn
trước đầu mộ. Có lẽ nào...
Chúng tôi
quyết định tạm ngưng để bàn bạc với nhau. Anh Triệu vẫn còn nhớ
như in lúc quan tài của vợ được hạ huyện, chỉ sâu khoảng này mà
thôi. Mọi người lại định thần và chuyên chú cầu nguyện. Hai cô
Mimi và Kim Vân cứ thấp thỏm nắm tay nhau đi lên đi xuống từ đồi
trực thăng, hỏi thăm và đem nước uống cho chúng tôi. (Sau này,
hai cô mới “tự thú” rằng họ không dám chứng kiến cảnh bốc mộ
vì... sợ. Ngay cả việc chụp hình lúc các phu mộ đang đào bới họ
cũng lâm râm cầu nguyện và xin phép vong linh người quá cố.)
Đột
nhiên, anh Triệu như sực nhớ một điều gì và yêu cầu toán phu mộ
móc sâu qua phía tay phải. Quả nhiên, chỉ sau vài nhát xẻng, họ
đã đụng ngay vách ván thiên. Tiếng bồm bộp dội lên từ lòng huyệt
làm anh Triệu chấn động, tay run lên suýt đánh rơi điếu thuốc
đang hút dở. Anh chồm đến như muốn nhảy xuống để tận tay sờ vào
chiếc áo quan. Tài và Tước xắn tay áo phụ giúp các phu mộ mở
rộng chiếc hố từ phía trên. Chẳng mấy chốc, bốn vách quan tài
hiện dần ra nhưng nắp ván thiên đã tiêu rã thành cát bụi dưới
sức nặng của mô đất phía trên sau thời gian dằng dặc...
Thì ra,
lúc những người bạn của anh Triệu còn ở lại Kuku lập bia cho chị
Thu Minh, họ đã cắm nó hơi lệch sang hướng trái nên khi các phu
mộ đào thẳng xuống không đụng quan tài. Anh Triệu cũng nghĩ rằng
những ân nhân chí tình đó của anh cũng đã hủy chiếc chai dấu
tích sau khi họ thiết lập tấm bia mộ đàng hoàng cho chị.
Lượm và rửa bằng
rượu phần di hài của Thu Minh
Nhờ tấm
bọc bằng nhựa khá dầy và chắc chắn của Cao ủy, chị Thu Minh được
nằm trọn vẹn bên trong mà không bị xiêu lạc hoặc bị rễ cây đâm
xuyên dù hài cốt đã phân hủy gần hết. Và, thật là một tình cờ
mầu nhiệm, khi di thể của chị vừa được đưa lên khỏi huyệt mộ,
trời bỗng đổ cơn mưa xối xả như để gội rửa thân thể lấm lem của
những người phu mộ vất vả cả buổi sáng, để xóa tan những dòng lệ
thương cảm của người thân chất chứa bao tháng năm dài và để tắm
mát một linh hồn vừa tái hợp với gia đình sau cuộc phân ly đăng
đẳng...
Trên nền
xi-măng của bãi trực thăng dưới cơn mưa nặng hạt, Tài và Tước tỉ
mỉ tìm kiếm và thu nhặt những mẩu xương cốt còn lại của người
chị vợ trong lúc anh Triệu thẫn thờ cầm những di vật của người
bạn đời vừa tìm được trong chiếc bọc. Đoạn phim cũ của thời điểm
đau buồn đó cứ chiếu lại trong tâm trí anh, đứt quãng nhòe nhoẹt
mà tươi nguyên như mới hôm qua...
Chiếc
gương, cây lược và những bộ áo quần đó kéo anh về quá khứ của
một tuần trăng mật tuyệt vời và gần hai tháng lo âu, khủng hoảng
đến gần suy sụp trên đảo Kuku 27 năm trước. Tai anh vẫn văng
vẳng lời nhắc nhở của cô bé 14 tuổi đi cùng ghe tên Hiền lúc anh
như kẻ mất hồn vì sự ra đi quá thương đau của chị:
“Anh Triệu nhớ đem theo áo quần, gương lược cho
chị Minh xài...”
Bé Hiền
ơi, anh Triệu đây! Anh vẫn còn nhớ vóc dáng nhỏ nhắn của em cẩn
thận gói ghém những vật dụng đó cho chị Minh lúc anh vô cùng bối
rối trước cảnh sinh ly tử biệt. Bao nhiêu năm nay, chị đã có
gương lược bầu bạn và có cả sự chăm chút ấm áp của đứa em nhỏ
trong phút lâm chung, dù hai chị em chỉ quen biết nhau trong
thời gian ngắn ngủi trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề của cuộc
đời tỵ nạn. Bé Hiền ngày nào ơi, bây giờ anh đã gặp lại chị Minh
ở nơi chốn ngút ngàn kỷ niệm hạnh phúc lẫn đau thương của cả một
đời người. Hãy cho anh gửi một lời cảm ơn từ đáy lòng.
Đang miên
man trong nỗi hồi tưởng về quá khứ, anh Triệu chợt bừng tỉnh vì
lời gọi của Tài: “Anh Triệu, chiếc nhẫn của chị nè...”
Tài đã biết chuyện người anh cột chèo của mình quyết định để
nguyên chiếc nhẫn cưới trên bàn tay của vợ khi anh vĩnh biệt
chị. Hai anh chị là những con chiên thuần thành và họ đã sống
đạo một cách trọn vẹn theo lời dạy trong Kinh Thánh: “Sự gì
Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”. Với
suy luận tự nhiên, Tài tìm thấy chiếc nhẫn ngay vị trí bàn tay
trái của di hài dù xương cốt phần cơ thể này đã tiêu tan vào
lòng đất.
Hoả táng được thực
hiện trên bờ biển Kuku
Thực sự,
sau khi tìm được gương và lược, anh Triệu vẫn chưa “chắc ăn”
rằng bộ hài cốt trong tấm bọc nylon là di thể của vợ, vì trong
vài ngày qua chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện huyền
nhiệm không thể giải thích được. Anh vẫn còn âm thầm chờ đợi một
xác định cuối cùng. Anh căn dặn Tài và Tước cả chục lần: “Còn
chiếc nhẫn cưới nữa!” Và khi Tài tìm thấy nó, anh đã thở
phào như trút ra tất cả những ưu tư chất chứa từ đầu chuyến
đi...
Ôi, bằng
chứng kết ước của tình nghĩa vợ chồng vẫn còn nguyên vẹn. Anh
Triệu cầm lấy chiếc nhẫn còn dính đất và đeo ngay vào tay mình,
như thể không còn chờ đợi thêm một giây nào nữa! Anh kể lại rằng
anh đã giữ lại và đem theo bông tai và dây chuyền của chị như
một kỷ vật vì sợ người chết bị quấy nhiễu bởi những kẻ đạo chích
vô lương muốn quật mộ để tìm vàng. Riêng chiếc nhẫn này anh
quyết định chôn theo chị như lời nguyện chung thân của hai người
trong ngày hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm trong hủ cốt của chị khi
anh đưa chị về Việt Nam.
Trong lúc
anh Triệu và Tước tiếp tục thu nhặt và rửa sạch hài cốt, tôi
cùng với Tài và toán nhân công địa phương trở lại mộ phần của
chị Thu Minh để lấp lại huyệt mộ. Theo ý nguyện của gia đình, mộ
bia cùng với tấm bọc Cao ủy và rễ cây trong đó được gửi lại
xuống lòng huyệt như một lời tạ ơn đất trời Kuku về sự nương náu
xác thân từ 27 năm qua.
Trên
đường về bãi trực thăng, những người phu mộ chỉ cho tôi thấy một
lõm đất trũng cách đó không xa. Đó là ngôi mộ của một thuyền
nhân VN được hốt cốt cách đây khoảng một năm bởi thân nhân từ
Hoa Kỳ. Sự kiện này được xác định khi chúng tôi trở về Letung và
tìm thấy trong thời gian đó có tên 5 người Việt trong danh sách
khách trọ nơi chúng tôi đang trú ngụ.
Sau lễ tạ
từ, nhóm chúng tôi xuống bãi biển để thực hiện cuộc hỏa thiêu
hài cốt. Những người địa phương, qua sự thu xếp của công ty du
lịch, đã đào hai cái hố cát hình chữ nhật sâu khoảng một mét,
chất sẵn củi khô phía dưới và một bình dầu lửa. Họ chỉ yên lặng
theo dõi cuộc hỏa thiêu mà không góp tay, có lẽ một phần vì tôn
trọng niềm tin tôn giáo hoặc tình cảm gia đình và phần khác, họ
cũng chẳng biết phải làm gì vì chưa hề chứng kiến một nghi thức
như thế.
Trong
nhóm chúng tôi cũng không ai từng thực hiện hoặc chứng kiến sự
hỏa thiêu hài cốt bao giờ nên chẳng biết tiến hành thế nào.
Riêng tôi vài lần được nghe thoang thoáng nhưng trong hoàn cảnh
này, có lẽ là người “rành” nhất. Chúng tôi lại bàn với nhau và
anh Triệu cũng đồng ý là mọi việc cốt ở tấm lòng, không nề hà
thủ tục gì cả.
Rồi chúng
tôi bày ra bình hương giữa trời, tang chủ cáo tế trời đất để xin
hỏa thiêu di hài và mỗi người một nén nhang cầu nguyện cho linh
hồn Cecile siêu thoát. Bộ hài cốt của Cecile Thu Minh được nhẹ
nhàng đặt lên trên lớp củi ẩm ướt vì mưa và được mồi bằng dầu
hỏa. Ngọn lửa hồng tươi bùng lên và hài cốt dần dần biến thành
tro trắng sau khoảng hơn một giờ hỏa thiêu... Ba anh em hốt nắm
tro xương và nén lại trong một chiếc túi nhỏ trước khi bỏ vào
hộp plastic mà Tài và Tước mang theo từ Việt Nam. Những tro vụn
và tàn củi còn sót lại được gom vào hai chiếc bao lớn mang theo
lên ca-nô để rải xuống biển trên đường về Letung.
Trong lúc
cánh thứ nhất "hành quân" trên đồi, hai nhóm thứ nhì và thứ ba
(do anh Trưởng đoàn dẫn đầu, gồm hai gia đình Trung - Minh -
Thanh và David Lý - Hồ Tắc cùng các anh chị em khác trong đoàn)
"tảo thanh" các khu mộ địa phía dưới. Họ quyết định đi chung với
nhau thay vì tách làm hai, vì cùng theo một hướng.
Đường ra
khu mộ khá vất vả. Họ phải băng ngang một con suối nhỏ, mực nước
khoảng lưng chừng ống quyển. Chàng nào muốn làm “người hùng cõng
giai nhân qua bờ suối” cũng không được, vì chính bản thân mình
còn lo chưa xong. Giày vớ bị ướt là... chuyện nhỏ. Hôm nay là
ngày thứ nhì ở Kuku, thân thể còn không kể số gì thì giày vớ đâu
thuộc vào diện... ưu tiên bảo toàn. Lên dốc con suối hơi khó vì
bờ suối đứng thẳng và cao hơn một mét. Vài người địa phương băng
qua trước và họ vịn cây, nắm tay kéo lên... từng em một, vì dù
bạn có mang loại giày thể thao tốt nhất của siêu cường Mỹ cũng
không thể bám vào vách đất như bàn chân trần của họ được.
Ra tới
khu nghĩa trang nơi có mộ của mẹ David, chúng tôi thấy người địa
phương đã phát quang một khoảng trống chừng trăm mét vuông.
Trong khi chờ mọi người tới đủ, Trần Lão Gia đi một vòng chụp
hình. Không có mộ nào có hình dạng một ngôi mộ bình thường như
người ta vẫn nhìn thấy. Tất cả chỉ là những gộp đá có đánh dấu
trên đầu ngôi mộ, chúng tôi nghĩ như thế, vì có cục đá còn dấu
sơn đỏ. Một ngôi mộ kế bên có vẻ như bị sụp vì giữa mộ bị lõm
xuống chừng 3 - 4 tấc.
Cả nhóm
quây quần góp tay bày biện lễ phẩm cúng tế trên đầu ngôi mộ mẹ
của David. Trước khi xướng kinh cầu nguyện, anh Trưởng đoàn cùng
bác Hồ Tắc kiểm lại lần cuối các chi tiết trên tấm bia. Bia ghi
bằng Hán tự tên họ và ngày tháng qua đời là Trịnh Đinh Hằng,
chết ngày 31.07.1979 (lúc ấy 44 - 45 tuổi). Như vậy, tính đến
ngày tìm thấy ngôi mộ, bà đã được an táng gần đúng 30 năm.
Sau khi
khẳng định đúng với mọi chi tiết là mẹ của David, anh Trưởng
đoàn khấn vái vong linh người quá vãng:
"Thưa chị, tôi là Trần Đông, Giám đốc Văn khố
Thuyền nhân Việt Nam, cùng các anh chị em đến đây để tìm kiếm mộ
phần của thuyền nhân và thăm lại di tích của người tỵ nạn VN.
Cùng đi trong đoàn có David, ở tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ, là con
của chị. Cháu lặn lội đường xa ngàn dặm đến đây tìm mộ phần mẹ
để đưa di hài của chị về Hoa Kỳ. Thay mặt cho tất cả anh em
trong đoàn, tôi xin khấn báo với chị và xin phép được rước hài
cốt chị lên để hỏa táng và đưa về đoàn tụ với gia đình. Kính cầu
nguyện vong linh của chị và cầu nguyện ơn trên gia hộ cho chị
được yên nghỉ nơi cõi vĩnh hằng. Xin chị gia hộ cho đoàn được
yên ổn và tìm được nhiều mộ phần thuyền nhân VN như mong ước."
Sau tuần
nhang khấn báo và đốt giấy vàng bạc theo nghi thức của người
Hoa, David cầm cuốc khai mộ với ba nhát cuốc đầu tiên trước khi
các phu mộ địa phương tiếp tay anh thực hiện việc khai quật. Họ
đào chỉ hơn năm tấc thì tìm thấy quần áo. Thêm chút nữa thấy
những lớp đất đổi màu đen. Theo kinh nghiệm của các phu mộ, đó
có thể là phần tan rửa của di hài. Họ tiếp tuc đào sâu thêm hơn
một mét và mở rộng lòng huyệt đến hai mét nhưng vẫn không tìm
thấy được chút xương nào.
Tuy cực
nhọc - lúc ấy, trời lại đổ cơn mưa lớn - nhưng những người địa
phương đã tỏ ra hết sức tận tụy với công việc. Họ không ngại ướt
lạnh hoặc nhớp nháp mà chỉ cố làm cho được việc vì cảm động
trước tấm lòng hiếu thảo của một đứa con và tình nghĩa đồng bào
của người Việt Nam.
Mưa càng
lúc càng nặng hạt. Chúng tôi phải căng một chiếc bạt lớn để che
tạm trong lúc David và các phu mộ vẫn dầm mưa tiếp tục công
việc. Giờ trưa, mọi người ngồi ăn trong lều. Buổi ăn trưa đơn
giản nơi hoang dã, chỉ mì xào và nước lọc. Anh Trưởng đoàn nới
đùa với mọi người: "Thật hoàn toàn
không thể tin nổi có những người bỏ hàng ngàn đô-la đi nửa vòng
trái đất vào nơi cùng trời cuối đất này, đội mưa ăn cơm tay cầm
như thế này, mà lại còn đòi tổ chức để đi nữa!"
Mọi người
đều cười: "Như vậy mới có nhiều kỷ
niệm!"
Cuối cùng
David đành phải đầu hàng hoàn cảnh. Anh tự an ủi rằng mẹ mình ở
đây lâu quá, con cái không biết chỗ và không ngờ mình lại tìm
được đường đến đây. Bà có bạn bè ở đây nhiều và chắc đã quen chỗ
nên nên không muốn “định cư” ở đâu nữa. David gom lại mấy mảnh
áo của mẹ ra biển giặt rửa rồi đem hỏa táng, trong chiếc hố thứ
nhì tại bãi biển, bên cạnh nơi vừa hỏa thiêu hài cốt của chị Thu
Minh. Ngôi mộ mẹ của David được đắp đất trở lại và tấm bia được
dựng lên ngay vị trí cũ.
Khi cuộc
khai mộ mẹ của David bắt đầu, một toán 6 người khác lên đường đi
tìm mộ Ba của Trung - Minh ở cách đó không xa. Cùng đi với toán
này có 3 người địa phương dẫn đường. Nhóm này đi từ mé bên trái
của nền chùa, nhìn ra hướng bãi biển nơi Trung và Minh chắc chắn
là khu vực mộ phần của Ba mình ngày trước. Cả hai anh đều khẳng
định nơi đây là vị trí ngôi mộ của cha, vì chính họ đã tự tay
xây mộ và thăm viếng hàng ngày trong mấy tháng ở đảo. Nhóm Trung
- Minh tìm quanh cả tiếng đồng hồ nhưng tuyệt nhiên không thấy
một chút dấu tích nào của một ngôi mộ xi măng. Từ trước khi khởi
hành chuyến đi, ai cũng tin rằng ngôi mộ của Nhà họ Huỳnh có
nhiều hy vọng tìm thấy nhất vì mọi chi tiết về vị trí và dấu
tích đều rất rõ ràng nhưng, có lẽ do ước muốn của người quá cố,
chúng tôi đành đốt nén nhang từ biệt và hẹn sẽ có cơ hội trở lại
tìm kiếm thêm một lần nữa.
Như dự
định, cả đoàn tập trung tại bãi biển vào quãng ba giờ chiều khi
mọi việc cũng vừa hoàn tất. Chúng tôi tận dụng thời gian còn lại
tản ra chung quanh khu vực văn phòng Cao ủy và bệnh viện cũ để
tìm kiếm di vật thuyền nhân với ước vọng sẽ thành lập một viện
bảo tàng (hoặc nơi lưu giữ những chứng tích đó) cho các nhà viết
sử hoặc cho những thế hệ sau. Tuy thời gian đã xóa nhòa gần hết
dấu vết của người tỵ nạn trên hòn đảo này nhưng chúng tôi cũng
còn tìm được những đoạn giây neo, vài chiếc dép nhựa và những
mảnh chén bát còn sót lại trong các dãy barrack ngày xưa...
Chiếc
ca-nô đưa chúng tôi quay về Letung khi trời đã bắt đầu xế chiều.
Dù vậy, để "kiếm chút lời", nhóm từ Âu châu lại "vòi" thêm phần
bonus: ghé ngang qua bãi Kuku 2 để... nhúng mình năm phút. Chả
là họ đã từng sống một khoảng thời gian đáng nhớ ở bãi này nên
tận dụng cơ hội... ba mươi năm một lần để sống lại giai đoạn đầy
kỷ niệm đó. Mọi người ô-kê cái rụp và viên tài công cũng cười
toét miệng gật đầu. Làn nước trong xanh mát rượi và tiếng cười
đùa vui vẻ của chúng tôi như truyền nhiễm và làm lay động đến cả
những cây dừa cao ngất cô đơn còn sót lại trên bãi...
Hoàng hôn
xuống thật nhanh trên biển. Chúng tôi về lại Letung khi trời đã
sẫm tối. Cứ như các hướng đạo sinh đi "trại chạy", mọi người chỉ
kịp dội qua loa vài gáo nước lạnh cho trôi lớp muối biển trên
thân thể trước khi tập họp tại "quán đầu ngõ" cho buổi cơm tối.
Đêm nay, chúng tôi có những người khách đặc biệt: viên cảnh sát
trưởng Letung, vị sĩ quan chỉ huy lực lượng quân sự trên đảo,
xếp bến tàu "Mặt Đen" (cũng được mời... cho phải phép) và Adnan
Nala, một người mà thực tình cho đến lúc đó chúng tôi cũng chưa
biết ông đang làm gì.
Buổi ăn
tối trong chiếc quán bình dân rộn ràng tiếng nói cười nhưng cũng
đậm đà tình cảm với Nala (ông muốn chúng tôi gọi tên như thế cho
thân mật). Chúng tôi ôn lại những kỷ niệm cũ ở các trại Air
Raya, Kuku, Galang... như thể các câu chuyện đó vừa xảy ra hôm
qua. Những tên cảnh, tên người một thời từng là niềm an ủi, là
nguồn hy vọng của người tỵ nạn cũng được ưu ái nhắc đến dù họ
vắng mặt; như các nhân viên định cư người Nam Dương của Cao ủy
Tỵ nạn LHQ (UNHCR): chàng Martin tóc quăn tốt bụng hút thuốc như
khói tàu (được tin đã qua đời cách đây 3 năm vì bệnh gan), cô
Chandra tròn trĩnh thường phát kẹo cho con nít (nghe rằng đang
là một nhà ngoại giao ở tận Dubai), ông George mập vui tính luôn
tình nguyện báo tin mừng cho những người "bị đá" (cũng được biết
đang là một công chức cao cấp ở thủ đô Jakarta) v.v...
Nhiều người bỏ hàng
ngàn đô-la về vùng rừng núi Kuku che lều trú mưa ăn trưa
dã chiến giữa núi rừng trong lúc tìm hài cốt mẹ của
David. Thế nhưng lòng ai cũng rộn ràng vui tươi, ngàn
vàng há có dễ mua!
Cả một
trời quá khứ hiện về trong chiếc quán ấm cúng ở ngôi làng chài
này. Nó hiển hiện trước mắt trong giọng kể bùi ngùi của Adnan
Nala, người từng sống một cuộc đời đẹp hơn bất cứ quyển tiểu
thuyết nào mà bạn đã đọc. Đêm nay, người đàn ông có khuôn mặt
dày dạn phong sương với nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ đó đang
ngồi cạnh chúng tôi...
Hơn 30
năm trước, Nala là một sinh viên trẻ trung yêu đời ở thủ đô
Jakarka với cả chân trời tương lai rộng mở trước mặt, nhưng
không ngờ cuộc đời anh rẽ sang một hướng hoàn toàn không định
trước bởi một mẩu tin nhắn từ người dì ruột ở hòn đảo Letung xa
xôi tít mù này.
"Cháu
ơi, nhân dịp mấy tuần nghỉ hè, hãy về đây... Gấp lắm cháu ạ,
hàng ngày có cả chục, cả trăm người chết... xác tấp vào bờ
hoang, xác trôi bập bềnh giữa biển, xác nằm vắt trên ghe... thảm
lắm! Họ là những người chạy nạn từ Việt Nam, bỏ hết tất cả, bất
chấp bão tố biển khơi và đói khát để tìm một cuộc sống tự do...
Dì cũng đang giúp đỡ, an ủi họ... Sắp xếp về ngay cháu nhé, gấp
lắm! Dì mong cháu sẽ góp tay xoa dịu phần nào nỗi đau khổ
này..."
Với chiếc
túi vải đựng bộ đồ đi đường và vài ba quyển sách, Nala rời căn
phòng trọ êm ấm ở thủ đô để đáp tàu về quê ngoại ngay hôm sau.
Chàng sinh viên ăm ắp lý tưởng nhân văn ngày đó chỉ tưởng "công
tác nhân đạo tình nguyện" trong vài tuần nghỉ hè nhưng cuối cùng
anh đã dành trọn cả tuổi thanh xuân của mình - suốt gần 20 năm
trời chứ ít gì - để góp phần làm vơi bớt nỗi khổ đau thăm thẳm
của thuyền nhân tỵ nạn Việt Nam.
"Ngày
rời Jakarta tôi không mang theo gì cả, vì đâu có ngờ mình sẽ
không bao giờ trở lại căn phòng trọ sinh viên độc thân rất vui
vẻ đó... Sau mấy tuần hè, tôi không thể nào đành lòng trở lại
học hành khi mỗi ngày vẫn còn thấy thảm kịch con người tiếp diễn
trước mắt, ở ngay Letung này chứ đâu xa - và những hòn đảo kế
cận như Air Raya, Air Biru, Berhala, Keramut... Trong mấy năm
đầu, mỗi ngày tôi bế trên tay mình ít nhất một người chết vì
kiệt sức hoặc bệnh tật trên đảo, hoặc những xác thuyền nhân trôi
giạt vào bờ. Cứ như thế, thời gian vẫn vô tình trôi qua với
những chuyện dồn dập từng ngày. Một tháng, rồi một năm, rồi vài
ba năm... cho đến khi giai đoạn cao điểm tạm lắng xuống, đầu tôi
chỉ còn vài cụm tóc lưa thưa. Trong thời gian đó, tôi học tiếng
Việt và được tuyển dụng làm nhân viên cứu trợ khẩn cấp của Cao
ủy Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Tôi là người đầu tiên khánh
thành văn phòng UNHCR ở Tanjung Penang và cũng là người cuối
cùng đóng cửa cơ quan này hơn 20 năm sau...
Buổi tối tâm tình
cùng ông Nala.
"Không... Tôi không kể câu chuyện này để gợi lại những đau
thương mất mát quá lớn của người tỵ nạn Việt Nam thời đó, nhưng
thực sự tôi đã khóc vì vui mừng khi gặp lại các bạn sáng nay.
Hẳn là linh hồn của những người nằm lại ở đây sẽ được an ủi rất
nhiều vì các bạn đã không quên họ... Nếu được sống một cuộc đời
khác, tôi chỉ xin giữ lại thời gian đáng nhớ và đầy tình người
đó..."
Với một
giọng kể đầm ấm và thân mật, Nala cười vui tiếp:
"Nhưng
cũng nhờ cơ duyên làm việc cho người tỵ nạn, tôi mới bị... 'kẹt
luôn' ở đây. Tôi kết hôn với một cô giáo làng Letung ngoan hiền
và xinh đẹp. Chúng tôi sống hạnh phúc với nhau gần 20 năm qua.
Hôm nay, tôi về đây thăm gia đình và tình cờ gặp lại các bạn. Có
lẽ, cái duyên của tôi với người Việt Nam chưa dứt!"
Cái duyên
đó, ngay trong buổi tái ngộ trên hòn đảo Letung này, chúng tôi
hân hoan đón nhận một tin vui cũng hết sức bất ngờ: trong lúc
chúng tôi còn tất bật khai quật và hỏa thiêu hài cốt ở Kuku,
Adnan Nala được chính thức xác nhận đã đắc cử dân biểu của Quốc
hội bang Tanjung Pinang! Thảo nào, ông đã nén lại sự sốt ruột
sùng sục khi đến thăm chúng tôi ở cầu tàu vào buổi sáng. Chúng
tôi càng cảm kích nghĩa tình đó khi biết tối hôm nay, ông đã
phải từ chối nhiều lời mời mọc liên hoan khác để đến dự buổi cơm
thân mật với chúng tôi trong một quán bình dân bên đường, kể lại
chuyện tỵ nạn - bằng tiếng Việt rặc giọng miền Nam và rất đúng
văn phạm - mà tròng mắt đỏ hoe...
(Cuộc
hạnh ngộ với Nala khiến tôi bùi ngùi nhớ đến Alcoh Wong, một đại
ân nhân khác của người tỵ nạn Việt Nam ở Mã Lai và cũng là một
người đỡ đần rất nhiều cho công tác của Văn khố Thuyền nhân Việt
Nam. Là một sử gia gốc Hoa ở Terrenganu, ông Wong cũng đã dành
gần trọn cuộc đời trưởng thành của mình cho việc cứu giúp, chôn
cất và ghi chép thảm kịch con người này trong gần ba thập niên,
từ khi thuyền nhân Việt Nam đầu tiên đặt chân lên trại tỵ nạn
Bidong năm 1977 cho đến khi ông qua đời vì một cơn bạo bệnh cách
đây hơn ba năm...
Trong
suốt thời gian dài dặc đó, ông Wong đã bôn ba khắp nơi để gõ cửa
xin các cơ quan từ thiện cứu trợ cho người tỵ nạn, đã lặn lội
đến mọi bãi biển ở Mã Lai mỗi khi nghe tin có xác thuyền nhân
Việt Nam trôi dạt vào bờ, đã ghi chép bất cứ chi tiết nào có
được của người xấu số để chôn cất, lập bia và in sách cho thân
nhân tìm kiếm về sau... Ông đã làm tất cả những việc đó trong âm
thầm, bằng thời giờ và tiền túi của mình, mà không mảy may mong
chờ một sự đền đáp. Bây giờ, Alcoh Wong đã vĩnh viễn ra đi,
nhưng chắc chắn hình ảnh của ông vẫn sống mãi trong lòng những
người từng thọ ơn ông...)
Buổi cơm
tối với liều lượng vitamin tình cảm tràn đầy cùng Nala đã gội
rửa sạch sẽ hai ngày dãi dầu mưa nắng ở Kuku. Chúng tôi hầu như
đã gửi lại trên hòn đảo ấy những niềm vui nỗi buồn của thời long
đong tỵ nạn, để chỉ còn trân trọng nâng niu giờ phút quý giá bên
nhau giữa những người tuy không cùng nguồn gốc chủng tộc - văn
hóa nhưng lại vô cùng gần gũi trong tình người và lẽ sống.
Tối nay,
anh Trưởng đoàn tuyên bố... xả giới nghiêm, mọi người có thể tha
hồ "chơi xả láng, sáng dậy... trễ", vì ngày mai là một chương
trình hoàn toàn tự do để thư giãn và... phục hồi công lực. Khỏi
cần nói, xếp ơi! Thấy ông bận bịu quá nên tụi tui đã tự động
chuẩn bị đâu vào đấy cả rồi. Út Hùng ra chợ đẩy về một xe cút
kít đầy... bia Tiger. Bác Hồ Tắc vào bếp trổ tài nấu cà-ri cá
đuối làm mồi. Bạn Văn Nam lòng vòng kiếm được một chiếc guitar
từ thời Suharto mới lên cầm quyền. Cô nương Mimi rảo trong xóm
rủ rê các em thiếu nhi đi xem "văn nghệ quốc tế". Ông nhà báo
Lựu Đạn đóng vai chủ xị, ai lạng quạng là phạt... chết liền! Và
toàn thể anh chị em trong đoàn - không chừa người nào - đều trở
thành "ngôi sao một đêm" của xóm chài Letung, nơi chúng tôi so
sánh một cách lãng mạn (có kẻ xấu miệng lại bảo là lãng... xẹt!)
như một Venice của Á châu.
Buổi tối xả cảng với
giới chức địa phương!
Sân khấu
(kiêm bàn nhậu) là phần sàn gỗ trước căn nhà trọ "tổng hành
dinh" của đoàn. (Bây giờ nghĩ lại mới thấy... ớn. Rủi bửa đó có
chàng nào xỉn xỉn mà "ôm trăng đánh giấc" dưới nước như nhà thơ
Lý Bạch thì khốn!). Hai hàng ghế dài bày ra, lổn ngổn ở giữa
là... bánh phồng cá, cà-ri cá và những thứ đồ nhậu không tên
khác. Mọi người cứ "tự nhiên như ruồi" chứ chẳng có màn... nhà
hàng hết lòng phụ vụ quý khách đâu nghen!
Khán
thính giả bao gồm cả các vị "đại diện" (dịch nôm na là... tai to
mặt lớn) chính quyền và quân đội trên đảo - kể cả "Thằng Mặt
Đen" bây giờ cũng nhập sòng và đã góp phần trình diễn vài bài
hát khá hay - và... một bầy tang tình con nít! Thành phần "diễn
viên và ca sĩ chủ lực" không ai khác hơn là... tụi tui, dù chẳng
mạng nào qua trường lớp ca hát đâu cả nhưng đã "xuất thần" chẳng
kém các thí sinh chung kết của American Idols! Nếu có ai muốn
đánh đổi buổi văn nghệ ngẫu hứng đó bằng bất kỳ chiếc vé đại
nhạc hội thượng hạng nào trong các hí viện "hoành tráng" nhất ở
Úc, Đức, Pháp hay Mỹ với sự hiện diện của các siêu sao "vào cầu
rực lửa" lừng danh thế giới, tôi chắc rằng chẳng ai trong
đoàn... thèm vào!
Vì dễ gì
bạn nghe "Khúc hát Air Raya" (một trong những nhạc phẩm đầu tiên
được viết bởi chính người tỵ nạn VN ở hải ngoại) từng được sáng
tác ở ngay trên hòn đảo này hơn 30 năm trước, dễ gì có cảm xúc
bồi hồi "Trở về mái nhà xưa" bởi giọng ca rè của cựu ca truởng
Ca đoàn (V)ô nhiễm Nguyễn Triệu, dễ gì được quằn quại cùng "Nửa
hồn thương đau" với Oanh Oanh, dễ gì có cơ hội được thưởng thức
các "tài năng trẻ" mới vừa "xuất khẩu" từ trong nước (không theo
Nghị quyết 36) của Tài và Tước... Rồi được cười lộn ruột với
những vũ điệu sút quần của cựu cán bộ nông thôn Hồ Tắc, với
những mẩu chuyện tiếu lâm mặn hơn nước biển của ông già làm báo.
Và những "mầm non văn nghệ" ở tuổi... tri thiên mệnh; như Đình
Chung, Ngọc Thúy, Kim Vân...
Nhưng
xuất sắc nhất vẫn là những giọng ca hồn nhiên trong sáng của các
em nhỏ Letung trong những bài dân ca Nam Dương tuyệt vời. Chỉ
nhìn các em say sưa đánh đàn gõ trống (trên chiếc can nhựa đựng
nước) với tất cả sự nhiệt tình và ngây thơ của tuổi trẻ, đám
người lớn chỉ biết... lắc đầu chào thua. "Thôi tiếc mà chi,
than mà chi..." Thời của các bác, các chú, các cô đã qua
rồi! Giấc mơ trở thành ca sĩ xin vui vẻ nhường lại từ đây...
Rồi buổi
tiệc cũng tàn. Chiến trường la liệt xác... quân ta. Làng chài
yên ắng trở lại. Khi thu dọn "sân khấu về khuya", tôi đã nghe
tiếng gà gáy sáng và lác đác đã có người đẩy ghe ra biển, bắt
đầu một ngày mới cho cuộc sống bình dị của người dân địa phương
như từ bao đời nay...
Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT
NAM] 1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng
với quý
đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] và Văn
Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về
các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ
những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng
tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham
khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không
thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam. 2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần
"quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM]
cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự
do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị,
... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT
NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý
kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn. 3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho
các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật,
v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ
nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo
tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các
tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;
4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự
do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các
cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của
thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội
nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;
[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong
nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý
đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để
chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao
trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau.
Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả
thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.