Trong
đoàn trở về Kuku có ba nhóm tìm kiếm phần mộ người thân và hỏa
thiêu hài cốt nếu tìm thấy. Các thành viên khác trong đoàn -
ngoài mục đích thăm viếng, cầu nguyện và thu thập di vật thuyền
nhân - cũng nhân chuyến đi này tự nguyện “đỡ đần một tay” với
các nhóm đó, dù đa số không quen biết nhau trước khi lên đường.
Nhóm thứ
nhất là “Băng 3T”, gồm 3 anh em cột chèo: Triệu (từ Melbourne,
Úc), Tài và Tước (từ Sài Gòn, Việt Nam). Triệu là người chèo
lái, “rước” người chị đầu, Tài và Tước là hai người chèo mũi,
“ẵm” hai cô em sau. Do một cơ duyên tình cờ từ mấy tháng trước,
ba anh em cùng hẹn đến Kuku vì một lý do rất xa và rất gần...
Cách đây
gần đúng 27 năm, anh Triệu cùng người vợ mới cưới, chị Cecile
Hoàng Thu Minh, đến Kuku sau một chuyến vượt biên gian nan vào
đầu tháng 6.1982. Mối tình đầy trắc trở và thử thách qua thời
gian dài đã bắt đầu kết hoa đơm trái trên hòn đảo tỵ nạn này,
một nơi thiếu hụt mọi bề mà đôi vợ chồng son coi như thiên đường
trăng mật của họ.
Nhưng
định mệnh oan nghiệt đã cướp đi mạng sống của chị - và chiếc bào
thai vừa tượng hình trong bụng - sau gần 2 tháng đến đảo, giữa
lúc ước mơ về một tương lai hạnh phúc vừa chớm nở. Cơn sốt rét
cấp tính đã quật ngã chị - và xô luôn cả anh vào trũng xoáy
khủng hoảng - sau mấy tuần chống chọi trong tuyệt vọng với căn
bệnh. Chị được chôn cất vội vàng, chỉ vài giờ sau khi trút hơi
thở cuối cùng vào buổi sáng, vì lúc ấy chuyến tàu Cao ủy Tỵ nạn
LHQ đang chờ ngoài bãi Kuku và dự định sẽ nhổ neo vào lúc 3 giờ
chiều cùng ngày để đưa nhóm thuyền nhân ở đây về trại tỵ nạn
Galang.
Mọi
chuyện đều gấp rút. Anh bối rối không biết phải làm gì nên cứ
chống chọi với hoàn cảnh được tới đâu hay tới đó, theo từng phút
trôi qua. Rất may, chuyến tàu đã hoãn lại đến ngày hôm sau vì
một lý do gì đó nên anh và một số người đi cùng ghe có cơ hội
lên đồi thăm chị lần cuối để đốt nén nhang từ biệt... Phần mộ
của chị nằm cạnh bãi đáp trực thăng do những người bạn và nhân
viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ chung tay giúp anh thiết lập. Họ đã che
chắn chung quanh ngôi mộ bằng những thân cây lớn để chống mưa lũ
xói mòn và cắm một chiếc thánh giá bằng gỗ đơn sơ ghi tên người
quá vãng...
Trong nỗi
đau khổ tận cùng lúc đó, anh hầu như không còn tâm trí nào để
ghi nhận hoặc làm dấu nơi an nghỉ nghìn thu của người bạn đời.
Anh như một kẻ mất hồn, ai bảo sao làm vậy, chứ không chủ động
được việc gì trong nghi thức tang lễ hoặc mai táng cho chị. Anh
chỉ mang máng nhớ rằng, theo lời chỉ dẫn của các cô bác cùng
ghe, anh đã chôn theo trong quan tài những di vật (gương, lược,
áo quần...) và để luôn chiếc nhẫn cưới trên ngón tay áp út của
chị như lời kết nguyền một đời tình nghĩa phu thê. Anh cũng ghi
chép các chi tiết cá nhân của chị và bỏ vào một cái chai được
bịt kín để chôn trước đầu mộ, với hy vọng mai sau sẽ trở về tìm
lại - hoặc có ai tình cờ tìm thấy mà biết gốc tích của người nằm
dưới lòng đất và đốt giùm một nén nhang siêu thoát...
Nhìn lên
đỉnh đồi phủ mờ mây trắng như một giải khăn tang nghìn trùng xa
cách khi chiếc tàu Cao ủy rời xa dần Kuku, anh đã thầm nói lời
từ biệt với chị và hẹn ngày trở lại. Và hôm nay, hăm bảy năm
sau, anh đã giữ tròn lời hẹn...
Nhóm thứ
nhì là “Nhà họ Huỳnh”, gồm hai anh em Thế Trung - Thế Minh và
Bảo Thanh (vợ của Thế Minh) từ Sydney, Úc. Sự tham gia của ba
anh em vào chuyến đi cũng là một chuyện ngẫu nhiên. Chỉ vài tuần
trước khi lên đường, Minh tình cờ nghe được bản tin trên một đài
phát thanh địa phương về chuyến đi Kuku. Ngăn kéo ký ức từ lâu
phủ bụi bỗng như được thổi một làn gió mạnh, hiện ra nguyên vẹn
những kỷ niệm của một thời thơ ấu...
Hai anh
em Trung và Minh ngày ấy chỉ là những thiếu niên 14 - 16 tuổi,
ăn chưa no lo chưa tới, nhưng đã nhận biết và nếm trải cuộc đời
tỵ nạn gian truân trên hòn đảo này. Hơn nữa, Kuku là nơi gửi
thân của người cha vì một cơn bạo bệnh sau khi ông thực hiện ước
mơ của đời mình là đưa được mấy đứa con đến bờ tự do. Không một
ngày chần chờ, Trung và Minh thu xếp nhanh gọn công việc và ghi
danh tham gia chuyến đi ngay sau đó. Để cho chắc ăn, nhóm “Nhà
họ Huỳnh” này còn nằng nặc đòi được... đóng tiền trước vì sợ “lỡ
tàu”. Họ đã chờ đợi cơ hội này từ bao nhiêu năm rồi...
Trung -
Minh - Thanh lên đường với sự chuẩn bị khá đầy đủ và một tâm
trạng náo nức, tin tưởng. Trước ngày đến điểm “tập kết” ở
Singapore, cả ba cũng đã ghé Mã Lai để báo tin cho người bà con
duy nhất còn sống của giòng họ về ý định bốc mộ và hỏa thiêu di
hài của cha. Mấy anh em còn nhớ khá rõ vị trí mộ phần của cha
bên ngôi chùa cạnh dòng suối và những mốc điểm dễ nhận quanh đó.
Họ cũng có thời gian lưu lại đảo khá lâu sau cái chết của cha và
hàng ngày đều đến thắp nhang cầu nguyện. Trong ba nhóm tìm mộ,
có lẽ Nhà họ Huỳnh là nhóm có triển vọng thành công cao nhất.
Nhóm thứ
ba là “Bố vợ con rễ” từ Atlanta, Mỹ: David Lý và... Hồ Tặc
(vâng, chính “bác” đấy! Thật ra, bác tên Hồ Tắc, nhưng anh chị
em trong đoàn cứ thuận miệng gọi trại đi cho... khỏi phạm húy.
Được cái là bác không hề giận mà còn cười khanh khách khi “bị”
so sánh với... người kia). Bác Hồ Tắc tham gia chuyến đi là để
“hỗ trợ tinh thần cho thằng rễ” về Kuku tìm mộ của mẹ và cũng để
thăm lại đảo Air Raya (kế cận Kuku), nơi bác được vớt vào sau
chuyến vượt biển hãi hùng ba mươi năm trước.
David
cũng là một cựu thuyền nhân tỵ nạn, nhưng anh đến trại Bidong ở
Mã Lai chứ không phải Kuku. Gia đình anh chia nhau thành nhiều
toán vượt thoát khỏi Việt Nam bằng đường biển và đã đến các trại
khác nhau. Mẹ anh và một người dì đến Kuku, quãng năm 1980, khi
ấy David còn là một cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Mẹ anh đã vĩnh viễn
nằm lại trên đảo sau một cơn bệnh - và người dì, bây giờ chẳng
còn nhớ gì nhiều về vị trí chôn cất của chị vì bà cũng chỉ tạm
cư trên hòn đảo này trong thời gian rất ngắn. Chi tiết duy nhất
mà bà còn nhớ và kể lại cho David là mẹ anh được chôn trong một
miếng đất bằng, cạnh một cây cổ thụ, bên suối nước nhỏ...
David,
một kỹ sư họa đồ kiến trúc nhưng bỏ nghề để làm... đầu bếp và
hiện là chủ của nhiều nhà hàng nổi tiếng ở Atlanta, cũng tình cờ
biết tin về chuyến đi Kuku khi “mò” lên internet và được giới
thiệu đến Văn khố Thuyền nhân VN. Dù không mảy may hy vọng tìm
được mộ mẹ nhưng David vẫn nhất định tham dự chuyến đi vì một sự
thôi thúc lạ kỳ trong lòng. Bao nhiêu năm qua anh ao ước có dịp
đến Kuku để thắp một nén nhang cho người mẹ mà anh chỉ còn nhớ
hình ảnh lờ mờ trong ký ức tuổi thơ. Hành trang anh mang theo
trong chuyến đi tìm mộ chỉ là một tờ giấy viết tay ghi tên họ,
ngày tháng sinh tử của mẹ bằng tiếng Hoa (mà chính anh cũng
không biết đọc) và hai chiếc va-ly lớn chứa đầy vàng mả để cúng
vong cho những thuyền nhân Việt Nam nằm lại ở xứ người...
Nghe
chuyện của David, mọi người trong đoàn đều cảm động nhưng cũng
vui mừng về tấm lòng của một đứa con, dù lớn lên ở đất nước thực
dụng mà các giá trị tinh thần bị xếp hạng dưới xa sự thành công
về vật chất nhưng vẫn giữ trọn đạo hiếu nghĩa với đấng sinh
thành.
Sau màn
điểm danh và dặn dò, chúng tôi xếp hàng một đi lên đồi theo
những người hướng dẫn địa phương. Bao nhiêu cãi cọ trong nhóm
trước ngày lên đường chỉ trong phút chốc đã “gửi gió cho mây
ngàn bay” vì chẳng ai dám hó hé gì nữa về trí nhớ chắc như cua
gạch của mình về địa hình trên đảo. Cứ ngậm miệng mà bước theo
mấy ông Nam Dương đen nhẻm này cho chắc ăn!
Vượt qua
một bãi cỏ tranh khá rộng - mà chúng tôi được cho biết từng là
bệnh xá và khu barracks cũ - nhóm dẫn đường bắt đầu chặt cây đốn
cành mở lối lên đồi. Đường dốc và ẩm ướt nên họ vạt cho mỗi
người chúng tôi một cây gậy đi rừng, như kiểu gậy của các hướng
đạo sinh, dài khoảng hơn một mét, vừa để chống tay nghỉ mệt vừa
để chống... thú rừng. (Hú vía, chúng tôi đã không gặp một con kỳ
đà hoặc khỉ đột nào cả, dù vài người đã kể lại một cách quả
quyết về sự hiện diện của các giống thú này trên đảo). “Cái chân
thứ ba” đó đã nhiều phen cứu nguy những bàn thua trông thấy khi
một số người trong đoàn suýt trượt ngã hoặc mất thăng bằng qua
các khúc quanh trơn trợt. Vậy mà những người dẫn đường cứ tỉnh
queo vọt tới, chân trần phom phom và vai vác cả chục ký hành
lý...
Dù mệt lè
cả lưỡi khi lên đến bãi đáp trực thăng (có lẽ chỉ ông già viết
bài này cảm thấy như vậy thôi, chứ các bạn trẻ trong đoàn vẫn
còn... gân lắm!), chúng tôi nhanh chóng bày ra lễ phẩm để cầu
nguyện tập thể cho vong linh thuyền nhân VN nằm lại trên đảo.
Tuy đã từng vài lần tham dự những nghi thức tương tự nhưng tôi
chưa hề chứng kiến “một buổi lễ cầu nguyện quốc tế” không giống
ai nhưng lại hòa hợp đến trọn vẹn như thế! Ngoài kinh kệ chuông
mõ được Ban tổ chức chuẩn bị sẵn từ Úc, chiếc chiếu hoa mới
toanh trải trên nền xi-măng giữa trời thay cho bàn lễ là của
Đình Chấn đưa sang từ Đức, vàng mả và lễ phẩm cúng vong do bạn
trẻ David đóng thùng mang theo từ Mỹ, bánh kẹo và hoa quả do các
chị mua ở chợ Terempah từ hôm trước, thậm chí có cả những ổ bánh
chưng (thứ thực phẩm mà người vượt biên thường mang theo) và mấy
lít rượu đế của Tài và Tước mang từ Việt Nam... Và cả những cành
hoa rừng Kuku nữa! Tất cả những lễ phẩm này đều không có sự xếp
đặt trước, mỗi người cứ tùy lòng mà lo liệu, nhưng lại ăn khớp
như một lời đồng thanh mời gọi những linh hồn mồ côi cùng về
chứng tri buổi lễ cầu nguyện...
Giữa lúc
cả đoàn đang quây quần làm lễ, chúng tôi bỗng nghe tiếng kêu
thảng thốt “Anh Triệu ơi... Anh Triệu!” của Tài từ sau
lưng đồi, cách địa điểm cầu nguyện không xa. Mọi người dừng ngay
các việc đang làm và hướng mắt về phía tiếng kêu với vẻ lo ngại
hiện lên khuôn mặt. Trong đầu, ai cũng thoáng nghĩ đến chuyện
rủi ro hoặc tai nạn. Nhưng dường như tiếng kêu không phải là sự
báo nguy vì nó toát ra một âm thanh ngạc nhiên và mừng rỡ. Chắc
là...
Anh Triệu
cũng đoán thế! Anh, Tước và tôi cùng vài người địa phương cầm
dao rựa và gậy gộc băng tới nơi phát xuất tiếng kêu, chỉ cách
bãi trực thăng khoảng trăm mét bên mé phải, vừa mở đường vừa gọi
tên để định hướng. Tiếng đáp của Tài vọng lại mồn một cả góc
rừng yên tĩnh đã làm xúc động cho cả đoàn:
“Tìm thấy mộ rồi, anh Triệu ơi!”
Ngay bên
dưới sườn đồi khá dốc, Tài đứng đó, trước một tấm bia đá ghi rõ
họ tên người chị vợ quá cố, khuôn mặt còn ràn rụa thương cảm và
vui mừng. Anh Triệu, sau thời gian đăng đẳng chôn kín nỗi sầu
thương trong lòng, đã không ngăn giữ được nữa cảm xúc của mình.
Anh gần như ngã khụy xuống, để mặc cho dòng nước mắt tái ngộ
dâng trào. Một số người khác trong đoàn cũng vừa kéo đến, chúng
tôi ôm nhau chia sẻ niềm hạnh phúc đoàn tụ của anh, dưới bóng
những thân cây cao che rợp nắng trưa và tiếng chim hòa điệu bản
đàn thôn dã...
Vì sợ
không đủ thời gian trên đảo trong ngày đầu tiên nên Tài đã tách
đoàn để tranh thủ tìm mộ chị Cecile Hoàng Thu Minh lúc mọi người
còn đang chuẩn bị lễ cầu nguyện. Dù chưa đến Kuku lần nào (thật
ra, đây là lần đầu tiên hai anh em cột chèo Tài và Tước rời Việt
Nam ra nước ngoài) nhưng những câu chuyện nghe kể lại trong gia
đình và lòng thương cảm đối với người “chèo lái” mà họ coi như
anh ruột, Tài đã quyết định “xé lẻ” để thực hiện ý định của
mình. Hơn nữa, anh cũng có một ít kinh nghiệm về chuyện đi tìm
mộ ở Việt Nam nên đã khá dễ dàng xác định được địa điểm chôn cất
của người chị vợ. Và kết quả đã đến một cách không ngờ...
Ngay cả
anh Triệu cũng không ngờ. Trước chuyến đi, anh chỉ mơ hồ hồi
tưởng những chi tiết rời rạc về vị trí mộ phần của người vợ đầu
(anh đã tục huyền khi định cư ở Úc nhiều năm sau khi đoạn tang)
vì lúc mai táng anh hầu như không còn thần trí để ghi nhớ mọi
chuyện. Những di vật còn lại của biến cố bi thương trong đời đó
mà anh mang theo trong chuyến đi chỉ là vài tấm hình đã phai màu
của những người bạn cùng ghe đang đứng cầu nguyện trước ngôi mộ
của chị, lúc đó không có cả tấm bia đá được khắc tên rõ ràng như
bây giờ. Với anh, sự tìm thấy ngôi mộ - và tấm bia anh chưa một
lần nhìn thấy - là cả một phép lạ, dù nó đã nằm trong tiềm thức
của anh từ hơn phần tư thế kỷ qua.
Anh Triều
kể lại rằng sau khi rời đảo một cách vội vàng vì hoàn cảnh không
cho phép nấn ná thêm, anh được biết những người bạn còn ở lại đã
lập tấm bia cho chị theo ước nguyện của anh. Anh đã viết thư kể
chuyện này cho gia đình chị nhưng lại quên bẵng chi tiết quan
trọng đó khi chuẩn bị lên đường về Kuku. Nhưng Tài lại nhớ và
nhờ đó, đã tìm được. Ký ức của anh, như một cuốn phim cũ được
quay chậm lại, dần dần hiện ra nguyên vẹn và rõ ràng, dù qua màn
lệ nhòe nhoẹt dưới mái đầu đã nhuốm phong sương...
Ngày rời
Kuku 27 năm trước trên chiếc tàu Cao ủy đi đến trại Galang cùng
khoảng 450 người khác, anh đã dõi mắt lên đỉnh núi và khấn thầm
trong lòng: “Anh đã đưa em đi. Anh sẽ đưa em về!” Ngày
mai, anh Triệu và chúng tôi sẽ trở lại để cùng bốc mộ chị đưa về
đất mẹ, về với gia đình và bạn bè theo ý nguyện của anh.
Trong khi
anh Triệu vẫn còn chưa nguôi thương cảm, Tài và Tước đã chu đáo
sắp xếp những phong bánh và bình sữa cho đứa cháu chưa ra đời
trên chiếc hộp giấy đơn sơ trước phần mộ của người chị vợ. Hai
anh em cột chèo cũng kịp thời thông báo qua điện thoại di động
về tin vui này đến những người thân ở Hoa Kỳ và Việt Nam đang
ngày đêm cầu nguyện và mong đợi. Những tiếng nấc nghẹn hạnh phúc
và lời tạ ơn vọng lại từ cả hai bờ đại đương đến khu rừng tịch
mịch mênh mông này khiến ai cũng rưng rưng...
Lúc ấy,
buổi lễ chung tại bãi trực thăng cũng vừa dứt. Anh Trưởng đoàn
cùng mọi người kéo đến hiệp lời cầu nguyện cho Cecile. Trước
phần mộ của chị, anh Trưởng đoàn đốt nén nhang khấn vái:
“Chị Thu Minh ơi, tôi thay mặt cho cả đoàn xin
được chúc mừng cho chị. Anh Triệu và gia đình đã tìm kiếm chị từ
bao nhiêu năm nay đến bây giờ mới đủ duyên lành để hội ngộ. Kính
cầu nguyện cho linh hồn chị yên nghỉ ở nước Chúa. Ngày mai,
chúng tôi sẽ trở lại và kính xin được rước hài cốt của chị về
với gia đình. Xin được báo tin với chị và mong chi giúp cho đoàn
tìm được các mồ mả thuyền nhân VN khác trên đảo...”
Chúng tôi
đứng bên nhau cùng dâng lời cầu nguyện cho linh hồn người quá cố
được thảnh thơi nơi cõi vĩnh hằng và chúc mừng sự đoàn tụ của
anh chị, trong ý nghĩa thiêng liêng về sự kết hợp của Thiên
Chúa. Những bản thánh ca, lời kinh Lạy Cha và Kính Mừng cất lên,
dịu dàng và an ủi, như thấp thoáng trong bóng mát cây rừng Kuku
nụ cười xum họp của Cecile.
Sau nghi
thức ngắn ngủi nhưng đầy xúc động, chúng tôi xuống đồi tiếp tục
tìm kiếm những ngôi mộ khác. Nắng gắt buổi trưa và năng lượng bị
tiêu hao trong chuyến leo đồi buổi sáng đã làm cho nhiều người
thấm mệt nhưng ai nấy vẫn tỏ ra “dư sức qua cầu” sau tin vui của
Băng 3T. Lại nữa, cả đoàn vừa được bơm một liều vitamin độc đáo
và đúng lúc: một chục ổ bánh chưng và dưa món do Tài và Tước cắc
củm mang (lén) sang từ Sài Gòn để “đãi” anh chị em... Việt kiều
trên đất khách. (Quý hóa lắm, cái tình đồng bào rất đậm đà trong
lối nghĩ và cách thương cho nhau! Cám ơn hai bạn nhiều nhé. Có
dịp sang Úc, tôi sẽ mời lại món kangaroo nướng khói độc đáo của
quê hương thứ hai của tôi!).
Thật ra,
công ty du lịch đã chuẩn bị phần ăn trưa đầy đủ cho đoàn nhưng
chúng tôi nhường mấy chục hộp mì xào ớt đó cho khoảng 20 người
địa phương đi cùng để thưởng thức hương vị quê nhà ở nơi “trời
quen đất lạ” này.
Sau bữa
ăn “tay cầm” dã chiến trên đỉnh đồi, đoàn chia ra làm hai nhóm
để tìm kiếm và ghi nhận vị trí các ngôi mộ thuyền nhân VN trên
đảo. Trần Lão Gia dẫn một nhóm đi “quần” các khu vực trước đây
có nhiều người được chôn cất. Tôi tình nguyện dẫn nhóm thứ nhì
tìm mộ của “Nhà họ Huỳnh” theo bản đồ trí nhớ của mình căn cứ
trên những chi tiết được hai anh em Thế Trung - Thế Minh kể lại.
David Lý (và “bác Hồ” bố vợ) cũng theo nhóm của tôi để... cầu
may, vì thật sự anh hoàn toàn không biết vị trí ngôi mộ của mẹ.
Cả hai nhóm đều có người địa phương hướng dẫn và khuân vác giúp
những vật dụng cúng tế.
Sau
khoảng một giờ “trượt đồi” và băng qua vạt cỏ tranh cao gần đầu
người, nhóm chúng tôi đến một khu rừng thưa. Tôi quyết định cho
nhóm nghỉ chân tại bãi trống cạnh một con suối cạn để bà con
phục hồi công lực trước khi... chống gậy lê bước đi tiếp về
hướng ngôi chùa theo lời chỉ dẫn của những người địa phương.
Trong lúc cả nhóm (trong đó có cả một sĩ quan cảnh sát và một
người lính đi theo bảo vệ an ninh) giải lao cà-phê thuốc lá, vài
người bỗng phát giác có nhiều ngôi mộ rãi rác quanh bãi đất
trống này. Thật ra, đó chỉ là những hòn đá đã xanh rêu được xếp
thành hình bầu dục hoặc hình chữ nhật do bàn tay con người, một
phần bị lún sâu xuống đất sau bao mùa mưa nắng. Nhưng rõ ràng,
đó là những ngôi mộ thuyền nhân vì một số tấm bia có sơn hoặc
khắc danh tính của người chết bằng tiếng Việt và tiếng Hoa, được
tạo dựng trong khoảng thời gian người tỵ nạn lưu ngụ trên đảo.
Chúng tôi
quên cả mệt, lập tức giăng giây làm dấu địa điểm và bắt đầu chụp
hình, đốt nhang tại những ngôi mộ tìm thấy. Út Tuấn Hùng quay
phim hết toàn cảnh khu vực này, trong lúc David và những anh chị
khác bày biện lễ phẩm cúng tế. Chúng tôi tiếp tục sục sạo chung
quanh với hy vọng tìm thêm được các ngôi mộ khác. Tất cả đều cầu
nguyện thành tiếng để mong nhờ những linh hồn bơ vơ phù trợ cho
chúng tôi tìm được nơi gửi thân của họ mà thắp nén nhang tưởng
niệm...
Bỗng tôi
nghe một tiếng gọi lớn: “Anh Lưu Dân ơi, có một bia mộ nữa
nè!” Một dòng điện nửa như rờn rợn nửa như ấm áp chạy dọc
sống lưng tôi khi nhìn thấy màu sơn còn đỏ tươi trên phiến đá
nằm úp mặt xuống đất vừa được lật lên. Ngay lúc đó, tôi có linh
cảm một sự huyền nhiệm lạ lùng đang hiện đến...
Bất chợt,
tôi buột miệng gọi: “David, lại đây! Mẹ em tên gì vậy? Có
biết ngày sinh, ngày tử của bà không?” Tôi hỏi dồn dập mà
không ý thức đến cả việc tấm bia mộ chỉ viết bằng tiếng Hoa,
ngôn ngữ mà trong nhóm không ai biết đọc. Bác Hồ Tắc nhanh chân
phóng lại, nhưng ông lắc đầu bảo: “Chắc
không phải đâu, vì dì nó nói mẹ nó chôn bên cạnh một cây cổ thụ
rất lớn mà...”
Dù không
tin đó là ngôi mộ của mẹ mình, nhưng David cũng chạy vội đến và
suýt té ngã khi anh vấp chân vào một gốc cây bị đốn lìa gần sát
đất. Anh lấy ra mảnh giấy viết tay từ chiếc ba-lô đeo vai mấy
ngày nay để so chiếu với những chữ trên tấm bia. Bác Hồ Tắc cẩn
thận rưới bình nước uống mang theo để rửa sạch bùn đất trên tấm
bia và David cũng cởi phăng chiếc áo thun đang mặc để thấm khô
vết nước. Bàn tay anh run lên khi dòng chữ càng lúc càng hiện rõ
ra trên tấm bia. Với vốn liếng Hán văn nghèo nàn của bác Hồ Tắc
và tôi cộng lại khi so chiếu với dòng chữ trên giấy mà David
mang theo từ Mỹ, chúng tôi khẳng định đây chính là ngôi mộ của
mẹ anh vì tên tuổi, ngày sinh và ngày mất hoàn toàn khớp với
nhau. Và gốc cây bị đốn sát đất (có lẽ đã vài năm rồi) suýt làm
cho David vấp ngã chính là cây cổ thụ mà người dì ghi nhớ như
một điểm mốc về vị trí của ngôi mộ.
Kết quả
đến thật bất ngờ như một sự linh hiển trước mắt khiến mọi người
trong nhóm chấn động đến sững sờ. Ngay từ đầu chuyến đi, không
ai kỳ vọng sẽ tìm được mộ mẹ của David với những chi tiết mù mờ
như thế. Ở Kuku có hàng chục con suối và cả triệu cây rừng, biết
đâu mà mò. Chúng tôi cũng không có một hướng dẫn cụ thể nào về
phương hướng hoặc vị trí để tìm. Ngay cả David và nhạc phụ cũng
chưa hề đặt chân đến đây lần nào để có thể hình dung lại khung
cảnh gần 30 năm trước. Vậy mà...
Chúng tôi
đứng vòng quanh ngôi mộ, ôm nhau trong nỗi nghẹn ngào xúc cảm và
chúc mừng anh đạt được ước nguyện. Và David, một doanh nhân
thành công đã từng trải qua vô vàn gian nan lăn lóc trên đường
đời từ thời niên thiếu mồ côi nơi xứ lạ quê người, chợt ôm mặt
khóc rưng rức như một đứa trẻ thất lạc vừa tìm được mẹ...
Chúng tôi
bày biện lễ phẩm để thực hiện nghi thức cầu siêu chung cho những
người nằm lại nơi đây và giăng giây làm dấu mộ phần mẹ của David
để ngày mai trở lại bốc mộ. Làn khói trắng êm đềm tỏa lên từ bãi
đất trống giữa núi rừng trùng điệp trên bầu trời xanh thẳm của
buổi trưa đáng nhớ ấy đẹp như một bức tranh thoát tục, siêu
nhiên. Có lẽ không một họa sĩ nào có thể vẽ được bức tranh đó
bằng màu sắc trần gian mà chỉ chúng tôi mới có thể cảm nhận được
nó trong lòng...
Như đã
ước định trước, tôi thổi những hồi còi báo tin cho nhóm thứ nhất
nhưng không được đáp lại. Có lẽ anh Trưởng đoàn còn lặn lội phía
bên kia đồi và không nghe thấy. Chặp sau, một người địa phương
mà chúng tôi nhờ đi báo tin về đến và cho biết tin vui đã được
nhóm của Trần Lão Gia tiếp nhận với sự phấn khởi cao độ. Ít
nhất, cho đến giờ phút đó, chúng tôi đã đạt được hai phần ba mục
tiêu của chuyến đi ngay trong ngày đầu tiên, một “chỉ tiêu”
không người nào dám mơ ước dù ai cũng âm thầm hy vọng. Phần còn
lại là... ngon như cơm sườn, vì phần mộ thân phụ của hai anh em
Nhà họ Huỳnh có lẽ cũng dễ tìm được với những dấu tích và vị trí
khá rõ ràng. Trước chuyến đi, Thế Trung - Thế Minh nói chắc ăn
là sẽ tìm được, vì chính hai anh em đã làm mộ cho cha bằng
xi-măng vững chắc, cạnh sân chùa, trên sườn đồi, rất dễ tìm...
Chúng tôi
lại vượt suối băng rừng lên đồi đến ngôi chùa Phật giáo theo sự
dẫn đường của những người địa phương. Trời đã ngã về chiều và
không khí trong rừng cũng bắt đầu nhuốm lạnh, muỗi rừng và những
thân cây ngã đổ càng làm cho đường đi khó khăn trắc trở hơn.
Ngôi chùa
khá rộng ngày xưa chỉ còn trơ nền đất, không còn nhìn ra chánh
điện hoặc dấu tích gì của nơi thờ phượng, ngoài hai chiếc thùng
phuy cắt ngang một nửa trước đây được dùng làm bồn hoa bây giờ
đã hoen rỉ trước bậc tam cấp bên cổng. Cỏ dại và cây rừng đã
tràn kín cả vùng khiến chúng tôi không thể mạo hiểm đi xa hơn
vài chục mét.
Với những
chiếc tu huýt và đèn pin cá nhân, chúng tôi chia thành hai tốp
nhỏ bắt đầu tìm kiếm. Theo sự khẳng định của hai anh em họ
Huỳnh, ngôi mộ thân phụ của họ nằm ở một vị trí rất gần chung
quanh nền chùa. Lớp lá dầy ẩm ướt và những tảng đá rêu phong
trơn trợt khiến tốc độ tìm kiếm chậm lại, nhưng đến khi sục sạo
giáp vòng khu vực chúng tôi vẫn không tìm thấy. Mỗi lần đi một
lần khó, dễ gì có được cơ hội đến đây cả đoàn như thế này. Chúng
tôi lại cố gắng lần nữa, soi đèn vào từng gốc cây, lật lên từng
hòn đá, cạo sạch từng mảng rêu... nhưng cũng không kết quả. Đành
phải ngưng thôi, ngày mai trở lại tìm tiếp.
Nhóm của
anh Trưởng đoàn gồm gần chục người (cộng với 4 người dẫn đường
địa phương) cũng trèo đèo lội suối mấy đợt mới đến khu vực nghĩa
trang phía sau bãi trực thăng. Nhóm này cũng tìm thấy một cụm
5-6 ngôi mộ. Các bia mộ trong cụm này viết bằng tiếng Hoa nên
không biết là phần mộ của ai. Sau này tra cứu lại với những bản
họa đồ vẽ theo trí nhớ của những người từng ở Kuku trước đây,
chúng tôi mới xác định được đây có lẽ là khu vực mai táng dành
cho người Hoa. Khu nghĩa trang này cây cối um tùm chứ không được
khai quang như khu vực gần chùa hoặc dưới bãi tranh. Anh Trưởng
đoàn cũng đã bày ra một bàn thờ lộ thiên cúng tế cho vong linh
những người nằm lại trước khi trở về họp mặt với nhóm chúng tôi.
Cả đoàn
tập họp kiểm điểm quân số ở bãi biển quãng hơn bốn giờ chiều sau
một ngày “đã đời” với nhang khói, bùn sình và vài chiếc áo rách
vì vướng cây, ngã té. Báo cáo sơ khởi từ các nhóm cho thấy quân
ta bình yên vô sự (thật ra, có vài người trầy sướt chút đỉnh),
kết quả vượt chỉ tiêu (tìm thấy hai trong ba ngôi mộ muốn tìm),
thu nhặt được một số di vật (gồm chai lọ, dép, chén...) và quan
trọng hơn cả là hàng trăm tấm hình các ngôi mộ thuyền nhân VN ở
Kuku.
(Sau
chuyến đi, Văn khố Thuyền nhân VN được biết một gia đình ở
California, Hoa Kỳ, đã tình cờ nhìn thấy ngôi mộ người con gái
của họ tên là Bùi Thị Thu Kiều khi xem cuộc phỏng vấn chị Vân
Hải - từ Paris, Pháp quốc - trên đài SBTN và xem hình ảnh chuyến
đi trên trang web của Cộng đồng Người Việt ở Paris. Người cha đã
nghẹn ngào kể lại rằng chính ông đã tự tay khuân 16 hòn đá từ
dưới biển lên khu nghĩa trang để đắp quanh mộ phần của đứa con
gái 16 tuổi qua đời hai ngày sau khi lên đảo. Lạ lùng thay, họ
tên của cô gái vắn số vẫn còn tươi nét sơn trên chiếc thánh giá
bằng gỗ dù đã trải qua hơn phần tư thế kỷ dãi dầu mưa nắng.)
Chúng tôi
“tranh thủ nhúng nước” trên bãi Kuku, nhiều người mặc nguyên bộ
quần áo lội rừng, bơi ra chiếc ca-nô tốc hành thả neo chờ đợi từ
sáng để trở về hậu cứ Letung. Chẳng ai còn nhớ đến “Thằng Mặt
đen” hồi sáng, vì sau những gì chúng tôi trải qua ngày hôm nay,
mấy thứ vặt vãnh ấy đều là… chuyện ruồi bu.
Buổi tối,
chúng tôi được các quan chức trên đảo (gồm đại diện chính quyền,
quân đội và cảnh sát) thết đãi một buổi dạ tiệc tiếp tân khá
linh đình. Không có mì xào ớt, cơm chiên ớt mà đầy ngập tôm hùm,
ghẹ biển, cá tươi... Và có cả chất cay nữa, mà toàn là... thứ
thiệt. Lại cái chàng “trùm sò” bấm đốt ngón tay lẩm nhẩm:
“Thế này là đủ vốn rồi nhé! Mà chỉ mới nửa đường. Từ giờ, cuộc
hành tỏi bao nhiêu là lãi đấy!” Chẳng ai hiểu anh ta hành
tỏi giống gì, nhưng mọi người cứ... ngậm miệng mà nhai cái đã!
Giữa
những lời chào mừng vui vẻ, bát đũa xôn xao và tiếng nhạc xập
xình, chuông điện thoại của anh Trưởng đoàn cứ reo liên tục. Rất
may, dù cách xa đất liền nhưng nơi đây không nằm “ngoài vùng phủ
phê” mà còn lọt “trong vùng phủ song” nên vẫn liên lạc được
với... thế giới bên ngoài. Các đài phát thanh Á châu Tự do RFA,
BBC London và Little Saigon Radio gọi đến tới tấp để phỏng vấn
về chuyến đi nhớ đời này. Trần Lão Gia cứ như... gà mắc đẻ, vì
ổng vừa tiếp khách vừa trả lời các câu hỏi, vừa ngoắc người này
vừa lôi kẻ nọ đến để kể lại những câu chuyện của họ với thính
giả khắp năm châu.
Buổi tiệc rồi cũng tàn theo những đôi mắt nhướng hết lên và
những bộ giò rã rời đang tìm nơi giãn gân. Lúc ấy đã gần hai giờ
sáng...
Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT
NAM] 1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng
với quý
đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] và Văn
Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về
các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ
những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng
tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham
khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không
thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam. 2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần
"quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM]
cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự
do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị,
... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT
NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý
kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn. 3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho
các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật,
v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ
nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo
tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các
tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;
4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự
do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các
cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của
thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội
nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;
[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong
nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý
đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để
chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao
trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau.
Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả
thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.