02/2010

Thứ hai 25 tháng Giêng năm 2010
(Đông bộ Úc Châu)

trở về

 

Ngày 2 (11.04 Terempah - Kuku): Đoạn đường... chiến binh!

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Trước khi đến Tanjung Pinang, chúng tôi đã được Edi Surbakti, sếp của một công ty du lịch ở Batam và là người hướng dẫn đoàn, báo trước về một “trục trặc ngoài chương trình” khác: chiếc tàu khách hai tuần một chuyến từ Tanjung Pinang đến Letung mà chúng tôi đã đặt chỗ first-class cả tháng trước đang phải... nằm ụ để sửa chữa. Do vậy, thay vì cưỡi thuyền lướt sóng, chúng tôi sẽ đi mây về gió bằng chim sắt, không đến thẳng “hậu cứ Letung” mà phải bay vòng đến Matak rồi sau đó mới đáp tàu khách sang Terempah và ca-nô tốc hành đến Letung vào ngày hôm sau.

Do sự thay đổi lộ trình, mọi người được “gợi ý” (thực sự là... bắt buộc) chỉ mang theo “trang bị tác chiến” đủ cho 4 ngày mà thôi; như giấy tờ tùy thân, quần áo lội rừng, thuốc men cá nhân, lễ vật cầu nguyện và... mấy chai Martell phòng hờ. Phần hành lý còn lại phải gửi ở khách sạn Tanjung Pinang, vòng về tính sau.

Chuyện nhỏ, chẳng ai thắc mắc về sự thay đổi phương tiện di chuyển và chuẩn bị hành trang này, cho đến khi...

Dù Trần Lão Gia nhiều lần nhắc nhở về “kỷ luật giờ giấc” trong sinh hoạt tập thể nhưng dường như thói quen lề mề là một cố tật khó bỏ của... người Việt đáng yêu! Buổi ăn sáng dự trù 1 giờ được kéo giãn gấp đôi, có lẽ vì món cháo trắng thanh đạm nhưng ngon miệng với cá cơm kho và hột vịt muối đã níu chân chúng tôi thêm một tua nữa! Bù lại, khi Edi toét còi lên xe thì mọi người đều... đâu vào đấy! Màn điểm danh nhanh gọn “Số 1, có! Số 2, có!... Số 22, có! Đủ, hồn ai nấy giữ nhé. Lên đường!” Lệnh lạc cứ như là hành quân. Mà quả vậy, chúng tôi sắp đi qua một “đoạn đường chiến binh” (hiểu theo nghĩa kiên nhẫn, chịu đựng và... không càm ràm) mà hầu như chẳng ai biết trước...

Hai chiếc xe bus hôm qua lại đưa chúng tôi ra phi trường Tanjung Pinang. Tiết mục thử thách sơ khởi bắt đầu: chờ đợi! Như nhiều hãng hàng không nội địa ở các quốc gia khác, chuyến bay của Air Riau đến Matak bị trễ đến gần 2 tiếng đồng hồ. Lại một chuyện “ngoài chương trình” khiến anh chàng hướng dẫn viên Edi xuề xòa vui tính cũng phát cáu. Buổi cơm trưa tay cầm (lại bánh phồng cá, chả cá và... thêm cái đùi gà) được đưa vào tận phòng đợi cho mọi người. Dường như tất cả chúng tôi đều “thi đậu” màn thử thách kiên nhẫn này.

 

Phi trường Tanjung Pinang
 

 

Phi trường Tanjung Pinang thoạt trông cũng giống như các phi trường Đà Nẵng, Huế hoặc Cần Thơ của Việt Nam trước năm 1975, vẫn mang một nét vừa gần gũi vừa... nhà quê. Mọi thủ tục giấy tờ và khám xét hành lý đều làm bằng tay nên tốc độ khá chậm chạp. Rất may, chúng tôi đã được thu xếp trước nên đã tránh được sự phiền toái này. Mấy khi ở tỉnh lẻ lại có một nhóm “du khách quốc tế” đông đảo thế!

Vài chàng lấm tấm muối tiêu (và cả mấy trự “lơ thơ tơ liễu buông mành” trước trán nữa) “tranh thủ” vào một câu lạc bộ nhỏ xíu trong góc phòng chờ đợi, cà-phê thuốc lá và... tán gẫu với cô nhân viên thông tin khá xinh. Họ nói chuyện bằng miệng - với những chữ Nam Dương vừa học được “Salamat pagi” (Chào bạn), “Terimakasi” (Cám ơn)... - và bằng tay, vì vốn từ vựng của đôi bên chỉ đến bấy nhiêu. Bỗng nhớ Pleiku lạ lùng, “may mà có em đời còn dễ thương...”

Cà-phê ở phi trường - cũng như ở các hàng quán mà chúng tôi có dịp dừng chân trên đất Nam Dương - là... cực kỳ dở! (Ấy chết, chỉ là theo khẩu vị của kẻ viết bài này thôi. Nói phứa lên oan mạng có ngày!). Người bán cứ “vô tư” xúc hai muỗng nhóc cà-phê xay sẵn, đổ nước sôi vào, quậy tưng lên cho ra màu và trút thêm hai muỗng đường nữa là... xong, bất chấp người mua thích uống theo gout nào. Bạn phải chờ xác cà-phê lắng xuống, hớp nhẹ phần trên ngọt như chè và lim dim đến cả phút sau mới thấy... chất cafeine.

Còn thuốc lá thì... khỏi nói. Dân Nam Dương phì phèo như khói tàu. Họ thích hút loại thuốc Garam tẩm mùi đinh hương thơm phức và ngọt lịm, nổ tí tách theo từng hơi rít vào. Không gian nồng nồng cái mùi đặc biệt này nhưng dường như chẳng thấy ai tỏ vẻ khó chịu hoặc phàn nàn. Ở đâu họ cũng có thể hút thuốc thoải mái - trong khách sạn, nhà hàng, phòng họp... (có lẽ chỉ trừ trên máy bay). Mấy ông ghiền thuốc lá trong đoàn có vẻ khoái chí về "quyền tự do cá nhân" đó, chả bù với sự nghiêm cấm gắt gao tại những quốc gia họ đang sinh sống!

(Một ghi nhận nhỏ, thú vị: Khi làm thủ tục kiểm soát hành lý ở phi trường, tất cả hộp quẹt gas đều bị tịch thu vì lý do an toàn, nhưng lúc vào bên trong phòng đợi ai cũng móc ra... một cái khác để mồi thuốc lá. Hay thiệt!)

Cuối cùng, chiếc phi cơ Fokker 27 hai cánh quạt từ thời... Đệ nhị Thế chiến cũng đã đến. Cùng với các hành khách địa phương, chúng tôi (với 3 nhân viên tháp tùng của công ty du lịch) lục tục... đi bộ ra phi đạo. Nhìn chiếc máy bay, cả đoàn đều... thót ruột, nhưng sự lo ngại đó tan biến ngay bởi lời trấn an đầy thẩm quyền của niên trưởng Vinh, một cựu phi công dân sự quốc tế từng có 40 năm kinh nghiệm trong nghề: “Loại máy bay này tuy cũ nhưng an toàn lắm, không sao đâu!” Lại câu hát vô duyên của anh chàng mắc dịch vang lên: “Lỡ leo rồi, làm sao neo được em ơi...”

 

Vài hòn đảo nhìn thấy trên đường bay
 

 

Sự uể oải của mọi người dường như được “massage” tỉnh táo ngay bởi thái độ lịch sự của viên phi công và nụ cười duyên dáng của hai cô tiếp viên. Cậu út Tuấn Hùng bị hớp hồn từ lúc đó - và chẳng biết bằng cách nào, chàng trai độc thân 35 tuổi từ xứ Bắc Âu này đã “dụ” được cả hai mỹ nhân Nam Dương cho số phone và chụp chung hình với họ trong cockpit. Bái phục, “hậu sinh... khả ố” có khác!

Chuyến bay ngắn, chỉ trên dưới một giờ. Thời tiết khá tốt, phong cảnh bên dưới đẹp như tranh vẽ, trùng điệp những cánh rừng nhiệt đới xanh ngắt trên những hải đảo chập chùng không dứt. Chúng tôi thay phiên nhau ngồi bên các khung cửa sổ để quay phim và chụp hình, một phần vì không cưỡng lại được sức thu hút của vẻ đẹp thiên nhiên và phần khác, để “mở cửa xin chút... gió” vì hệ thống điều hòa bên trong có lẽ không hạ nhiệt nổi những trận cười nghiêng ngã từ các mẩu chuyện tiếu lâm râm ran suốt chuyến bay. Các hành khách Nam Dương đi cùng dường như bị truyền nhiễm niềm vui của chúng tôi nên họ cũng vỗ tay tán thưởng hoặc cười theo.

(Một ghi nhận nữa, cũng thú vị: Khi phi cơ đáp xuống đường băng, mọi hành khách đều đồng loạt vỗ tay hoan nghênh phi hành đoàn đã thực hiện một... chuyến bay an toàn. Cả hai lần chúng tôi bay ở Nam Dương đều như thế. Vậy, mỗi khi có dịp đáp phi cơ nội địa ở nước này, bạn hãy nhớ "thủ tục" đó nhé! Không nghe tiếng vỗ tay tức là... có chuyện rồi!)

Đến Matak, sau thủ tục gọn nhẹ, đoàn “du khách quốc tế” chúng tôi được đón tiếp niềm nở tại phi trường bởi chính... “chúa đảo”. Tôi cứ đoán bừa vị sĩ quan cao lớn, sắc phục chỉnh tề và có nụ cười dễ mến đó là... Đại úy, vì ông mang lon 3 mai vàng trên cổ áo, y chang như cấp bậc trong quân đội VNCH ngày xưa. Rồi bắt tay bắt chân, rồi chụp hình kỷ niệm, rồi “Selamat Datang” và “Terimakasi”... búa xua trước khi chúng tôi chất lên 2 xe mini-bus ra bến tàu khách cách đó khoảng 10 phút.

Bến tàu khách Matak tuyệt đẹp, nhà sàn sát mí nước, biển và rừng trùng điệp xanh ngắt. Chúng tôi đi cùng khoảng 50 người dân địa phương (cộng với xe gắn máy, gà vịt, mì gói và đủ thứ hàng tạp hóa khác) đến Terempah, giống hệt các chuyến đò ngang ở miền Tây Nam Bộ của quê hương nhưng trật tự và an toàn hơn. Nhiều người trong đoàn cũng cảm nhận một niềm vui nhẹ nhàng khi nhìn thấy một nhà sư Phật giáo trung niên đi cùng trên tàu. Ở đất nước Hồi giáo này, nhà thờ Công giáo hay chùa chiền Phật giáo là những hình ảnh hiếm thấy. Vạt áo cà sa màu vàng nghệ và khuôn mặt thư thái của vị sư nổi bật trên nền trời trong xanh giữa ngổn ngang những tất bật thế sự trên chuyến tàu hôm ấy đã mang đến một cảm giác yên bình và may mắn. Chúng tôi nào biết đó là cái duyên đầu tiên của mình trong chuyến đi tìm về kỷ niệm này...

 
Khu bến tàu Matak
 
 
 
Terempah!
 
 

Tàu càng xa bờ mọi người càng ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên. Ở đất nước có hơn 17 ngàn hòn đảo này, người ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu các bãi cát vàng tươi, các vách núi cheo leo, các hang động hiểm trở và các làng chài hiền hòa muôn thưở... Nhưng có lẽ ấn tượng đập mạnh nhất vào mắt chúng tôi khi tàu đến gần Terempah là ngôi chùa chênh vênh trên sườn núi, mái ngói đỏ au như một chấm son tươi trên nền đá xám dãi dầu. Nơi đây, vào buổi tối hôm đó, chúng tôi đến lễ Phật và gặp lại vị sư đi cùng tàu, người chỉ thỉnh thoảng từ Matak sang Terempah một lần nhân những ngày vía lớn.

Đến Terempah, chẳng có “quan chức” nào... ân cần tiếp đón cả, ngoài một bầy con nít tíu tít reo hò và những ánh mắt hiếu kỳ từ các hàng quán bên cầu tàu. Ừ, như thế dễ chịu hơn, chứ khách sáo hoài cũng mệt. Vậy mà chúng tôi vẫn nhìn thấy một tấm băng-rôn lớn giăng ngay trên đường phố chính của đảo “Chào mừng đoàn du khách đến thăm Kuku”.

Chúng tôi trọ ở 2 khách sạn “bảnh nhất” trên đảo, ngay cạnh bến tàu, có máy lạnh và nước nóng, nhưng vẫn bánh phồng cá, cà-ri cá, canh chua cá... Có một chút “cải thiện” trong thực đơn: mì xào đồ biển với ớt và cơm chiên đồ biển với ớt, hai món đưa cay mà chúng tôi thân ái làm quen suốt mấy ngày sau đó. (Nhớ lại, thật tội nghiệp cho nhóm từ Âu châu, tôm cua ê hề mà cứ vòi... rau muống! Rõ nghèo!)

Dù được biết nơi đây sẽ phát triển mạnh trong tương lai gần vì các công ty dầu khí quốc tế vừa quyết định thiết lập nhiều cơ sở tiếp vận và sản xuất, nhưng Terempah bây giờ vẫn... đi dăm phút đã về chốn cũ. “Rốn” đảo là một con đường dọc ghềnh đá, được lát xi-măng khá sạch, có nhiều hàng quán, đền thờ Hồi giáo, cơ sở hành chánh - quân sự (hầu như Nam Dương ở đâu cũng thấy... trại lính!). Người dân địa phương chất phác, thân thiện. Họ không tìm cách “nạo” những du khách cả đời mới đến đây một lần khi chúng tôi mua trái cây, uống cà-phê hoặc kêu mồi nhậu. Cũng có vài người la cà đến làm quen, kể lại những chuyện về người tỵ nạn Việt Nam từng ghé lại đây hồi... thế kỷ trước. Họ cho biết có nhiều ngôi mộ thuyền nhân Việt Nam phía trên đồi và sẵn sàng hướng dẫn chúng tôi đến đó. Vì không có đủ thời gian, chúng tôi hẹn lượt về (3 ngày sau) sẽ đi thăm.

Buổi tối, mới hơn 9 giờ mà trên đảo đã vắng teo. Băng “quậy” trong đoàn (gồm các trự trung niên khó ngủ, kể cả người viết bài này) cởi trần ra cầu tàu hóng mát và (hy vọng) tìm... vài lon bia giải khát. Mà tìm được thật, các bạn ạ. Thứ xịn nữa chứ: bia lon Tiger và Heineken ướp lạnh! Giá cả cũng khá mềm: tính ra chỉ khoảng hơn 1 đô Úc một lon. Từ chiều, Tuấn Hùng đã rảo một vòng trên đảo và chấm tọa độ một tiệm tạp hóa có bán bia. Thế là cứ đến gõ cửa, làm dấu, trả tiền và biến ra cầu tàu cùng với hai xâu bia tòng teng... “Cậu út” giỏi thật, đến đất lạ quê người heo hút mà vẫn moi ra được thứ “nhu yếu phẩm” này, chỉ tiếc đồ mồi hơi hẻo: chỉ bịch lạc rang và... vài cái bánh phồng cá (lạ thay, lúc ấy thật ngon!).

 
Khách sạn tại Terempah
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

trở về

Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT NAM]
1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng với quý đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.
2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM] cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị, ... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn.

3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật, v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;

4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;

[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau. Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.

[TỴ NẠN VIỆT NAM] & VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
TRẦN ĐÔNG, MSc.
email: dongtran.vktn@gmail.com    web: www.vktnvn.com