|
Ngày 2 (11.04 Terempah - Kuku): Đoạn đường...
chiến binh!
Lưu
Dân (Sydney - Australia)
Trước khi
đến Tanjung Pinang, chúng tôi đã được Edi Surbakti, sếp của một
công ty du lịch ở Batam và là người hướng dẫn đoàn, báo trước về
một “trục trặc ngoài chương trình” khác: chiếc tàu khách hai
tuần một chuyến từ Tanjung Pinang đến Letung mà chúng tôi đã đặt
chỗ first-class cả tháng trước đang phải... nằm ụ để sửa chữa.
Do vậy, thay vì cưỡi thuyền lướt sóng, chúng tôi sẽ đi mây về
gió bằng chim sắt, không đến thẳng “hậu cứ Letung” mà phải bay
vòng đến Matak rồi sau đó mới đáp tàu khách sang Terempah và
ca-nô tốc hành đến Letung vào ngày hôm sau.
Do sự
thay đổi lộ trình, mọi người được “gợi ý” (thực sự là... bắt
buộc) chỉ mang theo “trang bị tác chiến” đủ cho 4 ngày mà thôi;
như giấy tờ tùy thân, quần áo lội rừng, thuốc men cá nhân, lễ
vật cầu nguyện và... mấy chai Martell phòng hờ. Phần hành lý còn
lại phải gửi ở khách sạn Tanjung Pinang, vòng về tính sau.
Chuyện
nhỏ, chẳng ai thắc mắc về sự thay đổi phương tiện di chuyển và
chuẩn bị hành trang này, cho đến khi...
Dù Trần
Lão Gia nhiều lần nhắc nhở về “kỷ luật giờ giấc” trong sinh hoạt
tập thể nhưng dường như thói quen lề mề là một cố tật khó bỏ
của... người Việt đáng yêu! Buổi ăn sáng dự trù 1 giờ được kéo
giãn gấp đôi, có lẽ vì món cháo trắng thanh đạm nhưng ngon miệng
với cá cơm kho và hột vịt muối đã níu chân chúng tôi thêm một
tua nữa! Bù lại, khi Edi toét còi lên xe thì mọi người đều...
đâu vào đấy! Màn điểm danh nhanh gọn “Số 1, có! Số 2, có!...
Số 22, có! Đủ, hồn ai nấy giữ nhé. Lên đường!” Lệnh lạc cứ
như là hành quân. Mà quả vậy, chúng tôi sắp đi qua một “đoạn
đường chiến binh” (hiểu theo nghĩa kiên nhẫn, chịu đựng và...
không càm ràm) mà hầu như chẳng ai biết trước...
Hai chiếc
xe bus hôm qua lại đưa chúng tôi ra phi trường Tanjung Pinang.
Tiết mục thử thách sơ khởi bắt đầu: chờ đợi! Như nhiều hãng hàng
không nội địa ở các quốc gia khác, chuyến bay của Air Riau đến
Matak bị trễ đến gần 2 tiếng đồng hồ. Lại một chuyện “ngoài
chương trình” khiến anh chàng hướng dẫn viên Edi xuề xòa vui
tính cũng phát cáu. Buổi cơm trưa tay cầm (lại bánh phồng cá,
chả cá và... thêm cái đùi gà) được đưa vào tận phòng đợi cho mọi
người. Dường như tất cả chúng tôi đều “thi đậu” màn thử thách
kiên nhẫn này.
 |
|
|
Phi trường Tanjung
Pinang
|
|
Phi
trường Tanjung Pinang thoạt trông cũng giống như các phi trường
Đà Nẵng, Huế hoặc Cần Thơ của Việt Nam trước năm 1975, vẫn mang
một nét vừa gần gũi vừa... nhà quê. Mọi thủ tục giấy tờ và khám
xét hành lý đều làm bằng tay nên tốc độ khá chậm chạp. Rất may,
chúng tôi đã được thu xếp trước nên đã tránh được sự phiền toái
này. Mấy khi ở tỉnh lẻ lại có một nhóm “du khách quốc tế” đông
đảo thế!
Vài chàng
lấm tấm muối tiêu (và cả mấy trự “lơ thơ tơ liễu buông mành”
trước trán nữa) “tranh thủ” vào một câu lạc bộ nhỏ xíu trong góc
phòng chờ đợi, cà-phê thuốc lá và... tán gẫu với cô nhân viên
thông tin khá xinh. Họ nói chuyện bằng miệng - với những chữ Nam
Dương vừa học được “Salamat pagi” (Chào bạn), “Terimakasi” (Cám
ơn)... - và bằng tay, vì vốn từ vựng của đôi bên chỉ đến bấy
nhiêu. Bỗng nhớ Pleiku lạ lùng, “may mà có em đời còn dễ
thương...”
Cà-phê ở
phi trường - cũng như ở các hàng quán mà chúng tôi có dịp dừng
chân trên đất Nam Dương - là... cực kỳ dở! (Ấy chết, chỉ là theo
khẩu vị của kẻ viết bài này thôi. Nói phứa lên oan mạng có
ngày!). Người bán cứ “vô tư” xúc hai muỗng nhóc cà-phê xay sẵn,
đổ nước sôi vào, quậy tưng lên cho ra màu và trút thêm hai muỗng
đường nữa là... xong, bất chấp người mua thích uống theo gout
nào. Bạn phải chờ xác cà-phê lắng xuống, hớp nhẹ phần trên ngọt
như chè và lim dim đến cả phút sau mới thấy... chất cafeine.
Còn thuốc
lá thì... khỏi nói. Dân Nam Dương phì phèo như khói tàu. Họ
thích hút loại thuốc Garam tẩm mùi đinh hương thơm phức và ngọt
lịm, nổ tí tách theo từng hơi rít vào. Không gian nồng nồng cái
mùi đặc biệt này nhưng dường như chẳng thấy ai tỏ vẻ khó chịu
hoặc phàn nàn. Ở đâu họ cũng có thể hút thuốc thoải mái - trong
khách sạn, nhà hàng, phòng họp... (có lẽ chỉ trừ trên máy bay).
Mấy ông ghiền thuốc lá trong đoàn có vẻ khoái chí về "quyền tự
do cá nhân" đó, chả bù với sự nghiêm cấm gắt gao tại những quốc
gia họ đang sinh sống!
(Một ghi
nhận nhỏ, thú vị: Khi làm thủ tục kiểm soát hành lý ở phi
trường, tất cả hộp quẹt gas đều bị tịch thu vì lý do an toàn,
nhưng lúc vào bên trong phòng đợi ai cũng móc ra... một cái khác
để mồi thuốc lá. Hay thiệt!)
Cuối
cùng, chiếc phi cơ Fokker 27 hai cánh quạt từ thời... Đệ nhị Thế
chiến cũng đã đến. Cùng với các hành khách địa phương, chúng tôi
(với 3 nhân viên tháp tùng của công ty du lịch) lục tục... đi bộ
ra phi đạo. Nhìn chiếc máy bay, cả đoàn đều... thót ruột, nhưng
sự lo ngại đó tan biến ngay bởi lời trấn an đầy thẩm quyền của
niên trưởng Vinh, một cựu phi công dân sự quốc tế từng có 40 năm
kinh nghiệm trong nghề: “Loại máy bay này tuy cũ nhưng an
toàn lắm, không sao đâu!” Lại câu hát vô duyên của anh chàng
mắc dịch vang lên: “Lỡ leo rồi, làm sao
neo được em ơi...”
 |
|
|
Vài hòn đảo nhìn
thấy trên đường bay
|
|
Sự uể oải
của mọi người dường như được “massage” tỉnh táo ngay bởi thái độ
lịch sự của viên phi công và nụ cười duyên dáng của hai cô tiếp
viên. Cậu út Tuấn Hùng bị hớp hồn từ lúc đó - và chẳng biết bằng
cách nào, chàng trai độc thân 35 tuổi từ xứ Bắc Âu này đã “dụ”
được cả hai mỹ nhân Nam Dương cho số phone và chụp chung hình
với họ trong cockpit. Bái phục, “hậu sinh... khả ố” có khác!
Chuyến
bay ngắn, chỉ trên dưới một giờ. Thời tiết khá tốt, phong cảnh
bên dưới đẹp như tranh vẽ, trùng điệp những cánh rừng nhiệt đới
xanh ngắt trên những hải đảo chập chùng không dứt. Chúng tôi
thay phiên nhau ngồi bên các khung cửa sổ để quay phim và chụp
hình, một phần vì không cưỡng lại được sức thu hút của vẻ đẹp
thiên nhiên và phần khác, để “mở cửa xin chút... gió” vì hệ
thống điều hòa bên trong có lẽ không hạ nhiệt nổi những trận
cười nghiêng ngã từ các mẩu chuyện tiếu lâm râm ran suốt chuyến
bay. Các hành khách Nam Dương đi cùng dường như bị truyền nhiễm
niềm vui của chúng tôi nên họ cũng vỗ tay tán thưởng hoặc cười
theo.
(Một ghi
nhận nữa, cũng thú vị: Khi phi cơ đáp xuống đường băng, mọi hành
khách đều đồng loạt vỗ tay hoan nghênh phi hành đoàn đã thực
hiện một... chuyến bay an toàn. Cả hai lần chúng tôi bay ở Nam
Dương đều như thế. Vậy, mỗi khi có dịp đáp phi cơ nội địa ở nước
này, bạn hãy nhớ "thủ tục" đó nhé! Không nghe tiếng vỗ tay tức
là... có chuyện rồi!)
Đến
Matak, sau thủ tục gọn nhẹ, đoàn “du khách quốc tế” chúng tôi
được đón tiếp niềm nở tại phi trường bởi chính... “chúa đảo”.
Tôi cứ đoán bừa vị sĩ quan cao lớn, sắc phục chỉnh tề và có nụ
cười dễ mến đó là... Đại úy, vì ông mang lon 3 mai vàng trên cổ
áo, y chang như cấp bậc trong quân đội VNCH ngày xưa. Rồi bắt
tay bắt chân, rồi chụp hình kỷ niệm, rồi “Selamat Datang” và
“Terimakasi”... búa xua trước khi chúng tôi chất lên 2 xe
mini-bus ra bến tàu khách cách đó khoảng 10 phút.
Bến tàu
khách Matak tuyệt đẹp, nhà sàn sát mí nước, biển và rừng trùng
điệp xanh ngắt. Chúng tôi đi cùng khoảng 50 người dân địa phương
(cộng với xe gắn máy, gà vịt, mì gói và đủ thứ hàng tạp hóa
khác) đến Terempah, giống hệt các chuyến đò ngang ở miền Tây Nam
Bộ của quê hương nhưng trật tự và an toàn hơn. Nhiều người trong
đoàn cũng cảm nhận một niềm vui nhẹ nhàng khi nhìn thấy một nhà
sư Phật giáo trung niên đi cùng trên tàu. Ở đất nước Hồi giáo
này, nhà thờ Công giáo hay chùa chiền Phật giáo là những hình
ảnh hiếm thấy. Vạt áo cà sa màu vàng nghệ và khuôn mặt thư thái
của vị sư nổi bật trên nền trời trong xanh giữa ngổn ngang những
tất bật thế sự trên chuyến tàu hôm ấy đã mang đến một cảm giác
yên bình và may mắn. Chúng tôi nào biết đó là cái duyên đầu tiên
của mình trong chuyến đi tìm về kỷ niệm này...
 |
|
Khu bến
tàu Matak
|
|
 |
|
Terempah!
|
|
Tàu càng
xa bờ mọi người càng ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên
nhiên. Ở đất nước có hơn 17 ngàn hòn đảo này, người ta có thể
bắt gặp bất cứ nơi đâu các bãi cát vàng tươi, các vách núi cheo
leo, các hang động hiểm trở và các làng chài hiền hòa muôn
thưở... Nhưng có lẽ ấn tượng đập mạnh nhất vào mắt chúng tôi khi
tàu đến gần Terempah là ngôi chùa chênh vênh trên sườn núi, mái
ngói đỏ au như một chấm son tươi trên nền đá xám dãi dầu. Nơi
đây, vào buổi tối hôm đó, chúng tôi đến lễ Phật và gặp lại vị sư
đi cùng tàu, người chỉ thỉnh thoảng từ Matak sang Terempah một
lần nhân những ngày vía lớn.
Đến
Terempah, chẳng có “quan chức” nào... ân cần tiếp đón cả, ngoài
một bầy con nít tíu tít reo hò và những ánh mắt hiếu kỳ từ các
hàng quán bên cầu tàu. Ừ, như thế dễ chịu hơn, chứ khách sáo
hoài cũng mệt. Vậy mà chúng tôi vẫn nhìn thấy một tấm băng-rôn
lớn giăng ngay trên đường phố chính của đảo “Chào mừng đoàn du
khách đến thăm Kuku”.
Chúng tôi
trọ ở 2 khách sạn “bảnh nhất” trên đảo, ngay cạnh bến tàu, có
máy lạnh và nước nóng, nhưng vẫn bánh phồng cá, cà-ri cá, canh
chua cá... Có một chút “cải thiện” trong thực đơn: mì xào đồ
biển với ớt và cơm chiên đồ biển với ớt, hai món đưa cay mà
chúng tôi thân ái làm quen suốt mấy ngày sau đó. (Nhớ lại, thật
tội nghiệp cho nhóm từ Âu châu, tôm cua ê hề mà cứ vòi... rau
muống! Rõ nghèo!)
Dù được
biết nơi đây sẽ phát triển mạnh trong tương lai gần vì các công
ty dầu khí quốc tế vừa quyết định thiết lập nhiều cơ sở tiếp vận
và sản xuất, nhưng Terempah bây giờ vẫn... đi dăm phút đã về
chốn cũ. “Rốn” đảo là một con đường dọc ghềnh đá, được lát
xi-măng khá sạch, có nhiều hàng quán, đền thờ Hồi giáo, cơ sở
hành chánh - quân sự (hầu như Nam Dương ở đâu cũng thấy... trại
lính!). Người dân địa phương chất phác, thân thiện. Họ không tìm
cách “nạo” những du khách cả đời mới đến đây một lần khi chúng
tôi mua trái cây, uống cà-phê hoặc kêu mồi nhậu. Cũng có vài
người la cà đến làm quen, kể lại những chuyện về người tỵ nạn
Việt Nam từng ghé lại đây hồi... thế kỷ trước. Họ cho biết có
nhiều ngôi mộ thuyền nhân Việt Nam phía trên đồi và sẵn sàng
hướng dẫn chúng tôi đến đó. Vì không có đủ thời gian, chúng tôi
hẹn lượt về (3 ngày sau) sẽ đi thăm.
Buổi tối,
mới hơn 9 giờ mà trên đảo đã vắng teo. Băng “quậy” trong đoàn
(gồm các trự trung niên khó ngủ, kể cả người viết bài này) cởi
trần ra cầu tàu hóng mát và (hy vọng) tìm... vài lon bia giải
khát. Mà tìm được thật, các bạn ạ. Thứ xịn nữa chứ: bia lon
Tiger và Heineken ướp lạnh! Giá cả cũng khá mềm: tính ra chỉ
khoảng hơn 1 đô Úc một lon. Từ chiều, Tuấn Hùng đã rảo một vòng
trên đảo và chấm tọa độ một tiệm tạp hóa có bán bia. Thế là cứ
đến gõ cửa, làm dấu, trả tiền và biến ra cầu tàu cùng với hai
xâu bia tòng teng... “Cậu út” giỏi thật, đến đất lạ quê người
heo hút mà vẫn moi ra được thứ “nhu yếu phẩm” này, chỉ tiếc đồ
mồi hơi hẻo: chỉ bịch lạc rang và... vài cái bánh phồng cá (lạ
thay, lúc ấy thật ngon!).
 |
|
Khách
sạn tại Terempah
|
|

trở về
 |