02/2010

Ngày 25 tháng Giêng năm 2010


 


 

Mục lục:

- Chuyến đi tảo mộ & thăm viếng di tích thuyền nhân tháng 3 & 4 năm 2010 Singapore – Malaysia – Kuku & Galang (Indonesia)

Chuyến tiền trạm Kuku do Văn Khố Thuyền Nhân thực hiện vào tháng 4-2009, đã tìm được gần 30 ngôi mộ và tiếp xúc được với vị cựu Trưởng Cao Uỷ khu vực này. Ông Nala cho biết có khoảng 2.000 thuyền nhân đã qua đời vì sốt rét rừng và được mai táng trong khu vực. Những nỗ lực sắp tới của VKTN là trở về khu vực này nhiều lần nữa để tìm kiếm mồ mả thuyền nhân.

Chúng tôi hân hạnh giới thiệu những bài viết sau đây của nhà báo Lưu Dân, anh đã tham gia chuyến đi này, bài viết ghi một số nét chính về chuyến đi hồi tháng 4-2009 vừa qua.

- Những ngôi mộ bị lãng quên được tìm thấy tại Kuku tháng 4-2009
- Kuku, nhật ký dọc đường... (Bài 1/10)
- Ngày 2 (11.04 Terempah - Kuku): Đoạn đường... chiến binh! (Bài 2/10)
- Ngày 3 (12.04 Letung - Kuku): Trời quen đất lạ… (Bài 3/10)
- Ngày 3 (12.04 Kuku): Phép lạ giữa đời... (4/10)

- Ngày 4 (13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ tuyệt vời (Bài 5/10)
-
Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ... (Bài 6/10)
- Ngày 6 (15.04 Keramut - Air Raya): Cầu nguyện giữa trưa (Bài 7/10)
- Ngày 7 (16.04 Terempah - Batam): Đồng bào bỏ rơi... (Bài 8/10)
- Ngày 8 (17.04 Galang - Singapore): Ngưỡng cửa Tình người (Bài 9/10)
- Ngày 9 (18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay... (Bài 10/10)

 


 

CHUYẾN ĐI TẢO MỘ - THĂM VIẾNG DI TÍCH THUYỀN NHÂN
Tháng 3 & 4 năm 2010
Singapore – Malaysia – Kuku & Galang (Indonesia)

 

Kỷ niệm 35 năm định cư hải ngoại Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam (VKTNVN) sẽ tổ chức chuyến viếng thăm và cầu nguyện đến các trại tỵ nạn cũ ở Malaysia và Indonesia.

Đây là lần thứ 8 kể từ tháng 4 năm 2005 VKTNVN thực hiện các chuyến Về Bến Tự Do với mục đích tưởng niệm những đồng bào vĩnh viễn gửi thân ở xứ người trên đường vượt biển, thăm lại các nơi chốn tạm cư của thời tỵ nạn, thu thập tài liệu – di vật cho Viện Bảo tàng Thuyền nhân VN tương lai và, trong khả năng cho phép, đền ơn đáp nghĩa phần nào cho những cá nhân, tổ chức thiện nguyện quốc tế và quốc gia từng cứu giúp chúng ta trong hoàn cảnh khốn khó. Từ đó đến nay, mỗi chuyến là một sự thành công khác nhau và đều mang những ý nghĩa đặc sắc riêng. Mọi người tham dự đều hài lòng, tình thân ái gắn bó nhau chặt chẽ.

Chuyến Về Bến Tự Do 8 được dự trù tổ chức vào cuối tháng Ba đến giữa tháng Tư 2010, gồm 3 chặng. Quý đồng hương có thể tham dự toàn phần chuyến đi hoặc có thể tham dự từng chặng:

       ² Chặng 1: Singapore – Bidong, từ ngày 26-03 đến 02-04-2010.
 
² Chặng 2: Singapore – Kuku & Galang, từ ngày 30-03 đến 11-04-2010.
 ² Chặng 3 (gồm cả chặng 1 và chặng 2), từ ngày 26-03 đến 11-04-2010.

+ Lịch trình chuyến đi Bidong - Kuku Galang 2010
+ ITINERARY IN NGLISH
+ Những điều cần biết để chuẩn bị chuyến đi

Đọc tiếp bản tin này ...


Những ngôi mộ bị lãng quên
được tìm thấy tại Kuku tháng 4-2009

 

Sau 4 năm vất vả tìm kiếm vị trí "đảo Kuku" và đường đi đến khu vực này, cuối cùng chuyến đi tiền trạm cũng được hình thành với 22 "tiền trạm viên" tham dự.

Chúng tôi đã tìm được nhiều ngôi mộ thuyền nhân, có trên 30 ngôi mộ, kể cả những mộ "nhà nghèo" đánh dấu bằng những gộp đá, giống như ở trại Bataan (Philippines). Người địa phương đi rừng đã biết đến những ngôi mộ này. Họ hướng dẫn chúng tôi đến những nơi họ biết.

Dưới đây là một số hình các ngôi mộ tại khu vực Kuku, chúng tôi giới thiệu để quý đọc giả có thể hình dung ra được. Trong toàn khu vực quần đảo Anambas và Natuna, theo suy đoán và tìm hiểu của VKTN chúng tôi chắc chắn còn có nhiều mộ phần thuyền nhân với giống như Kuku mà chúng ta đã biết.

   
   
   
   
   
   
   
   
   
   

Với kinh nghiệm sẵn có, với một kế hoạch đầy đủ hơn và sau khi đã biết được đường đi nước bước đến khu vực này VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM sẽ tìm được nhiều mộ phần thuyền nhân khác trong toàn vùng Anambas và Natuna nơi mà ông Nala, Cao Uỷ Trưởng của khu vực vào thập niên 70 - 80 cho biết có khoảng 2.000 thuyền nhân đã qua đời vì bệnh sốt rét rừng và được mai táng nơi đây.

Ông Nala, Cao Uỷ Trưởng khu vực Anambas và Natuna thập niên 70 - 80.


 

Kuku, nhật ký dọc đường... (Bài 1/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Buổi ăn trưa, thay vì dự định ở Nam Dương, được đặt bàn cấp tốc tại một nhà hàng gần khách sạn để o bế bao tử của “thập bát anh hào” (vì ai nấy đều... ăn khỏe như trâu) trước khi 18 trự (không kể 4 mạng đã “cắm dùi” trước bên Nam Dương) chất lên chiếc mini-bus thuê bao trực chỉ hướng trung tâm thành phố.

 

Tại Singapore
 

 

Ông nhà báo Lưu Dân (mà mọi người cứ “vô tư” bỏ dấu sai thành... Lựu Đạn) tình nguyện làm hướng dẫn viên du lịch vì đã nhiều lần đến Sing. Chiếc xe - với chàng tài xế nói tiếng Anh khá sõi - đưa chúng tôi đến các thắng cảnh nổi tiếng, như: Nhà hát Sầu Riêng (vì hình dáng của nó trông giống loại trái cây này), Viện Bảo tàng Nghệ thuật Á châu (khi ấy đang có cuộc triển lãm về các phẩm vật triều cống của các nước chư hầu cho Trung Hoa trong những thế kỷ trước), Công viên Merlion Park (nơi đặt bức tượng đầu sư tử đuôi cá đang phun nước, biểu tượng của Singapore) và Mount Faber (đỉnh núi có đường giây cáp treo đến đảo du lịch Sentosa)...

Âm thanh và ánh sáng từ các chiếc máy hình đủ loại, đủ kiểu cứ vang lên tí tách ở mỗi nơi dừng lại. Kẻ đứng tạo dáng, người khom bấm máy rộn cả góc trời khiến ông trưởng đoàn phát hoảng la toáng lên: “Nè, chừa memory cho hình ảnh Kuku nghen. Chuyến đi chưa thực sự bắt đầu đâu, bà con ơi!” Thế chứ, tưởng trục trặc hóa ra lại hay, và đáng đồng tiền bát gạo. Chuyến City Tour đã “gỡ” lại được phần tư vé bay rồi đấy! Đến 4 giờ chiều, mọi người lên tàu tốc hành sang Nam Dương mà câu chuyện vẫn râm ran chưa dứt.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 2 (11.04 Terempah - Kuku): Đoạn đường... chiến binh! (Bài 2/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Bến tàu khách Matak tuyệt đẹp, nhà sàn sát mí nước, biển và rừng trùng điệp xanh ngắt. Chúng tôi đi cùng khoảng 50 người dân địa phương (cộng với xe gắn máy, gà vịt, mì gói và đủ thứ hàng tạp hóa khác) đến Terempah, giống hệt các chuyến đò ngang ở miền Tây Nam Bộ của quê hương nhưng trật tự và an toàn hơn. Nhiều người trong đoàn cũng cảm nhận một niềm vui nhẹ nhàng khi nhìn thấy một nhà sư Phật giáo trung niên đi cùng trên tàu. Ở đất nước Hồi giáo này, nhà thờ Công giáo hay chùa chiền Phật giáo là những hình ảnh hiếm thấy. Vạt áo cà sa màu vàng nghệ và khuôn mặt thư thái của vị sư nổi bật trên nền trời trong xanh giữa ngổn ngang những tất bật thế sự trên chuyến tàu hôm ấy đã mang đến một cảm giác yên bình và may mắn. Chúng tôi nào biết đó là cái duyên đầu tiên của mình trong chuyến đi tìm về kỷ niệm này...

 
Khu bến tàu Matak
 
 

Tàu càng xa bờ mọi người càng ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên. Ở đất nước có hơn 17 ngàn hòn đảo này, người ta có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu các bãi cát vàng tươi, các vách núi cheo leo, các hang động hiểm trở và các làng chài hiền hòa muôn thưở... Nhưng có lẽ ấn tượng đập mạnh nhất vào mắt chúng tôi khi tàu đến gần Terempah là ngôi chùa chênh vênh trên sườn núi, mái ngói đỏ au như một chấm son tươi trên nền đá xám dãi dầu. Nơi đây, vào buổi tối hôm đó, chúng tôi đến lễ Phật và gặp lại vị sư đi cùng tàu, người chỉ thỉnh thoảng từ Matak sang Terempah một lần nhân những ngày vía lớn.

Đến Terempah, chẳng có “quan chức” nào... ân cần tiếp đón cả, ngoài một bầy con nít tíu tít reo hò và những ánh mắt hiếu kỳ từ các hàng quán bên cầu tàu. Ừ, như thế dễ chịu hơn, chứ khách sáo hoài cũng mệt. Vậy mà chúng tôi vẫn nhìn thấy một tấm băng-rôn lớn giăng ngay trên đường phố chính của đảo “Chào mừng đoàn du khách đến thăm Kuku”.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 3 (12.04 Letung - Kuku): Trời quen đất lạ… (Bài 3/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Chiếc ca-nô lại phóng mình ra biển với những tiếng cười và chuyện kể rôm rả. Ai nấy đều đã quên bản mặt đăm đăm như bị táo bón của Xếp Bến Tàu như quên một lỗ ổ gà dọc đường. Tàu ghé đảo Air Raya rước hai người hướng đạo địa phương đến Kuku vì họ biết rành các thủy lộ tránh đá ngầm và cũng đã từng sống ở Kuku trong thời gian có người VN tỵ nạn. Họ mang cả dao rựa (thấy mà khiếp!) để phát hoang mở đường cho chúng tôi đến những địa điểm muốn đến.

 

Kuku đây rồi!
 

 

Theo hướng chỉ của người dẫn đường, Kuku hiện ra mờ mờ từ phía chân trời sau khoảng nửa giờ hải hành. Chúng tôi yêu cầu tài công giảm tốc độ để mọi người có thể ngắm nhìn hòn đảo một thời từng là mảnh đất hồi sinh của mình. Ai nấy đều chồm ra ngoài khung cửa sổ, tất cả máy chụp hình giương cao lên để bấm những tấm ảnh để đời, bất chấp các quy định về an toàn di chuyển. Viên tài công mỉm cười thông cảm và chia sẻ. Mấy khi một đoàn khách thế này có dịp về thăm lại nơi chốn đầy ắp kỷ niệm như vậy...

Kuku không phải là một địa danh du lịch nổi tiếng hay một vùng dân cư trù phú. Nó chỉ là một rẻo đất đảo rộng chừng vài chục cây số vuông mà ngay cả một số người địa phương chưa hề nghe tên. Nhưng đối với gần trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam, Kuku nằm tận trong ngăn sâu ký ức bồi hồi vì nó từng là nơi đặt chân đầu tiên của họ trên đường vượt biển tỵ nạn cách đây hơn một phần tư thế kỷ.

Nhớ lại, nhân chuyến Về Bến Tự Do lần thứ nhì hồi tháng 8.2005 - sau khi hai tượng đài tưởng niệm thuyền nhân ở các trại tỵ nạn Bidong (Mã Lai) và Galang (Nam Dương) bị đập bỏ vì áp lực từ Hà Nội - VKTNVN đã có dịp tiếp xúc với Thống đốc của Tiểu bang Tanjung Pinang để bày tỏ lòng tri ân của người tỵ nạn VN với Chính phủ Nam Dương và đồng thời xin phép đến thăm Kuku. Chính vị Thống đốc rất thân thiện này, một Tiến sĩ tốt nghiệp từ Bỉ có sự hiểu biết sâu sắc về hoàn cảnh của người tỵ nạn từ Việt Nam, cũng không biết Kuku nằm ở đâu, dù nó thuộc quyền quản trị hành chánh của ông.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 3 (12.04 Kuku): Phép lạ giữa đời... (4/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 
   

Trong đoàn trở về Kuku có ba nhóm tìm kiếm phần mộ người thân và hỏa thiêu hài cốt nếu tìm thấy. Các thành viên khác trong đoàn - ngoài mục đích thăm viếng, cầu nguyện và thu thập di vật thuyền nhân - cũng nhân chuyến đi này tự nguyện “đỡ đần một tay” với các nhóm đó, dù đa số không quen biết nhau trước khi lên đường.

Nhóm thứ nhất là “Băng 3T”, gồm 3 anh em cột chèo: Triệu (từ Melbourne, Úc), Tài và Tước (từ Sài Gòn, Việt Nam). Triệu là người chèo lái, “rước” người chị đầu, Tài và Tước là hai người chèo mũi, “ẵm” hai cô em sau. Do một cơ duyên tình cờ từ mấy tháng trước, ba anh em cùng hẹn đến Kuku vì một lý do rất xa và rất gần...

Cách đây gần đúng 27 năm, anh Triệu cùng người vợ mới cưới, chị Cecile Hoàng Thu Minh, đến Kuku sau một chuyến vượt biên gian nan vào đầu tháng 6.1982. Mối tình đầy trắc trở và thử thách qua thời gian dài đã bắt đầu kết hoa đơm trái trên hòn đảo tỵ nạn này, một nơi thiếu hụt mọi bề mà đôi vợ chồng son coi như thiên đường trăng mật của họ.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 4 (13.04 Kuku - Letung): Hạnh ngộ tuyệt vời (Bài 5/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 

Hoả táng được thực hiện trên bờ biển Kuku
 

 

Thực sự, sau khi tìm được gương và lược, anh Triệu vẫn chưa “chắc ăn” rằng bộ hài cốt trong tấm bọc nylon là di thể của vợ, vì trong vài ngày qua chúng tôi đã tận mắt chứng kiến nhiều sự kiện huyền nhiệm không thể giải thích được. Anh vẫn còn âm thầm chờ đợi một xác định cuối cùng. Anh căn dặn Tài và Tước cả chục lần: “Còn chiếc nhẫn cưới nữa!” Và khi Tài tìm thấy nó, anh đã thở phào như trút ra tất cả những ưu tư chất chứa từ đầu chuyến đi...

Ôi, bằng chứng kết ước của tình nghĩa vợ chồng vẫn còn nguyên vẹn. Anh Triệu cầm lấy chiếc nhẫn còn dính đất và đeo ngay vào tay mình, như thể không còn chờ đợi thêm một giây nào nữa! Anh kể lại rằng anh đã giữ lại và đem theo bông tai và dây chuyền của chị như một kỷ vật vì sợ người chết bị quấy nhiễu bởi những kẻ đạo chích vô lương muốn quật mộ để tìm vàng. Riêng chiếc nhẫn này anh quyết định chôn theo chị như lời nguyện chung thân của hai người trong ngày hôn lễ. Chiếc nhẫn đó sẽ nằm trong hủ cốt của chị khi anh đưa chị về Việt Nam.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 5 (14.04: Berhala - Air Biru): Quê người chạnh nhớ... (Bài 6/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 

Hòn đảo Berhala, nơi ngày xưa có hàng ngàn thuyền nhân tạm trú nay có cầu nối vào Letung.
 

 

Tuy là ngày "sinh hoạt tự do" trong chương trình nhưng chúng tôi cũng đã tận dụng thời gian để... đi cho biết đó biết đây. Theo lời chỉ dẫn của người dân địa phương, cả đoàn rủ nhau đi bộ đến đảo Berhala kế cận, nơi được biết có vài chục ngôi mộ thuyền nhân VN an táng từ gần 30 năm trước. Nghe "đi bộ đến đảo" có vẻ hơi... là lạ, nhưng thật sự là vậy. Một chiếc cầu đá dài và vững chắc đã được xây từ nhiều năm trước (sau thời người tỵ nạn VN đến đây) nối liền Letung với Berhala cho người đi bộ. Xe hơi nhỏ cũng có thể chạy trên chiếc cầu.

Trên đảo Berhala chỉ có vài ngôi nhà và một đài hải đăng hướng dẫn tàu bè quốc tế qua lại trên vùng biển này. Nơi đây cũng rất gần với hải phận quốc tế và là một "khu vực nhạy cảm" trong tình hình tranh chấp lãnh hải hiện nay giữa những quốc gia lân cận, đặc biệt là từ khi Trung Quốc công bố "bản đồ lưỡi bò" dành phần chủ quyền của họ trên Biển Đông. Chính phủ Nam Dương không ồn ào tranh cãi về tham vọng bành trướng của chủ nghĩa Đại Hán từ phương Bắc nhưng rõ ràng họ đã khẳng định tư cách chủ nhân của mình bằng hành động. Chiếc cầu Berhala và lá cờ đỏ trắng trên đỉnh đảo là một tuyên ngôn không lời, nhưng rõ ràng và quyết liệt biểu hiện ý chí bảo vệ giang sơn của họ.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 6 (15.04 Keramut - Air Raya): Cầu nguyện giữa trưa (Bài 7/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 

Bãi biền Air Raya.
Cầu tàu ngày xưa giờ còn trơ những trụ gỗ
 

 

Chúng tôi đào một hố cát trên bãi để lấp lại tro than như một phần mộ trong tâm tưởng và cũng để tránh cháy rừng vì những cơn gió khô thổi lan sang các bụi cây chung quanh trước khi rời đảo.

Lội ra lại ca-nô, Edi, người dẫn đoàn luôn ở bên cạnh chúng tôi trong suốt chuyến đi, chợt thốt lên một câu trào phúng để xóa bớt không khí lắng đọng sau buổi lễ tưởng niệm: “Các bạn đã đói rồi chắc? Chúng ta ăn trưa ở Thiên đàng nhé? Có ai muốn theo tôi không?”

Dĩ nhiên rồi, nhưng Thiên đàng ở đâu?

Từ xa, mọi người đã ồ lên một tiếng kinh ngạc. Chúng tôi chưa từng nhìn thấy một hải đảo đẹp như thế bao giờ! Hòn đảo như chưa hề có vết chân người, những bụi cây thấp với màu lá xanh mướt như ngọc, hàng dừa lã thân trên bãi cát trắng tinh tít tắp. Và làn nước trong vắt như pha lê, nhìn rõ cả những đàn cá đủ màu nhởn nhơ đẹp như... màn hình computer. Thảo nào, người địa phương đặt tên hòn đảo này là Impol (Waters of God): Nước của Trời!

Chúng tôi “hạ trại” ở đó. Mấy thùng mì xào ớt (độn sò điệp và tôm sú) được mang ra “xử lý” tại chỗ với những ngụm nước dừa tươi ngọt lịm. Ai cũng tưởng cái món truyền thống của Xứ Vạn Đảo đã làm mọi người ngán tận cổ mấy ngày hôm nay, nhưng anh bạn người Huế sành ăn lại so sánh “mì thiên đàng” Nam Dương là kỳ phùng địch thủ với “cơm âm phủ” của đất thần kinh ở Việt Nam. Nhiều người trong đoàn chưa biết món đặc sản Huế nổi tiếng này nhưng ai cũng vét đến cọng mì cuối cùng trong “cái tô” làm bằng nửa trái dừa tươi còn nguyên lớp cơm đúng nạo trơn mềm và béo ngậy...

Nước biển trong vắt lóng lánh như pha lê

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 7 (16.04 Terempah - Batam): Đồng bào bỏ rơi... (Bài 8/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Buổi gặp gỡ ngắn ngủi với nhóm ngư dân ở Terempah bị cảnh sát cắt ngang vì “hết giờ thăm nuôi”. Chúng tôi góp lại những món quà thực tế để giúp họ qua cơn ngặt nghèo và nhận chuyển những lá thư gửi về nhà với cõi lòng nặng trĩu...

 

 Trong một nhà hàng nhỏ ăn trưa tại Terempa và chờ giờ ra sân bay về Tanjung Pinang!
 

 

Chuyến ca-nô tốc hành đưa chúng tôi về lại Matak vào buổi trưa nắng đẹp. Cũng như lượt đi, máy bay đến Tangjung Pinang lại... trễ giờ. Ngồi chờ lây lất trong một quán ăn ven đường, anh Trưởng đoàn và Edi cứ quýnh quáng như gà mắc đẻ, vì nếu không kịp chuyến phà chót trong ngày về Batam, chúng tôi phải nằm lại đây và ngủ... màn trời chiếu đất.

Cũng hên, khi mọi người gần như đã... đầu hàng giờ giấc của Air Riau, chúng tôi được báo tin máy bay đã đến và sẽ cất cánh trong vòng 10 phút nữa. Thế là ba-lô lên vai và mạnh ai nấy chạy! Khi người cuối cùng bước qua khỏi cầu thang, máy bay cũng vừa lăn bánh ra phi đạo. Nhờ Edi sắp xếp sẵn, hành lý của chúng tôi gửi lại khách sạn mấy ngày trước đã được chuyển thẳng ra bến phà. Một lần nữa, chúng tôi là nhóm hành khách cuối cùng của chuyến chót trong ngày về Batam, nơi chúng tôi chỉ còn kịp thời gian để nhận phòng ở khách sạn Nagoya và... lăn đùng ra ngủ!

 

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 8 (17.04 Galang - Singapore): Ngưỡng cửa Tình người (Bài 9/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

 
 

Giờ chia tay tại Batam
 

 

Màn “Lên xe tiễn nhau đi, chưa bao giờ... mừng thế” diễn ra khá... rươm rướm (gớm, chẳng biết mấy bà mấy cô lấy đâu ra thứ chất lỏng quý hiếm này dễ dàng thế!) nhưng cũng gọn nhẹ vì chúng tôi còn phải tranh thủ ngày cuối cùng của chuyến đi để thăm trại tỵ nạn Galang, nơi từng là trạm dừng chân của nhiều cựu Kuku trước khi lên đường định cư.

Thật ra, chặng Galang không nằm trong chương trình ban đầu nhưng theo yêu cầu của nhiều người trong đoàn, Trần Lão Gia đã thu xếp với công ty du lịch để chúng tôi trở lại nơi từng được đặt tên là “Ngưỡng cửa của Tự do và Tình người” chỉ cách Batam hơn một tiếng lái xe.

Dù chỉ trong vài giờ ngắn ngủi, chúng tôi đã đến được các địa điểm ghi dấu nhiều kỷ niệm trong đời tỵ nạn như Cầu tàu và Chùa Quan Âm ở Galang I, Nghĩa trang Galang III, Miếu Ba Cô và Nhà thờ Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Galang II... Tại những nơi này, chúng tôi cũng đã thực hiện những buổi lễ cầu siêu cho hương linh đồng bào nằm lại trước khi trở lại bến phà Batam về Singapore vào buổi chiều.

Buổi ăn tối chia tay trên cầu tàu Boat Quay ở Singapore tuy dập dìu tài tử giai nhân, đèn màu rực rỡ cả một khúc sông và nhiều món ăn hấp dẫn nhưng không khí trong nhóm dường như trầm hẳn xuống. Mấy tay “quậy” cũng nín khe không moi ra được một câu bông đùa thường ngày khi chúng tôi uống cạn hớp bia cuối cùng và đứng dậy ôm nhau hát khẽ bài tạm biệt “Gặp nhau đây, rồi chia tay...” lúc đồng hồ chỉ quá nửa đêm.

Đọc tiếp bài này ...


Ngày 9 (18.04 Singapore - Home): Gặp nhau đây, rồi chia tay... (Bài 10/10)

Lưu Dân (Sydney - Australia)

Trong chuyến đi, không ai trong đoàn tiên đoán được hết những bất ngờ dọc đường. Chương trình được linh động điều chỉnh liên tục vì sự thay đổi ngoài dự tính. Chúng tôi đã di chuyển bằng mọi phương tiện có thể thu xếp được tại chỗ; từ những phi cơ hiện đại của các hãng hàng không quốc tế đến các chuyến bay nội địa bằng phi cơ cánh quạt thời... Đệ nhị Thế chiến, từ những chiếc ca-nô cao tốc đến các chiếc tàu khách chậm rì, từ những xe du lịch rì rào máy lạnh êm như ru đến các chiếc xe đò cởi hết cả áo vẫn còn chảy mồ hôi (thật là... tội nghiệp cho các bà các cô!), từ các đoạn "xe ôm" từng cặp bất đắc dĩ đến những cuốc... xe dép mỏi nhừ đôi chân. Vậy mà chẳng ai thốt ra một lời than. Vậy mà chỉ nghe tiếng cười, câu hát, chuyện vui rộn ràng trên những đoạn đường tìm về kỷ niệm...

 

Thơ mộng của Letung! Thiên nhiên, trời và nước!

 

 

Chúng tôi đã hưởng thụ - theo nghĩa đúng nhất - những phong cảnh kỳ vĩ của thiên nhiên và thổ sản địa phương độc đáo mà những du khách dư dã tiền bạc chưa chắc đã mua được. Làm sao bạn có thể ngắm được ánh nắng chiều ráng đỏ trên đường chân trời giữa chập chùng hải đảo? Làm sao bạn có thể ngâm mình dưới làn nước trong veo như thủy tinh trên bãi cát trắng mịn ở bãi biển mà người địa phương đặt tên là "Nước của Trời", uống ngụm nước dừa mới hái và ăn ngay tại bãi những con tôm hùm còn quẫy đuôi tanh tách do các ngư dân mang đến trên những chiếc ghe độc mộc chèo tay? Và làm sao có được những đêm văn nghệ ngẫu hứng vui nhộn bằng các ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Việt và Nam Dương được trình diễn bởi "những giọng hát quốc tế chưa hề cầm micro chuyên nghiệp" nhưng hay chẳng kém bất cứ siêu sao ca nhạc nào?

Chúng tôi cũng đã sớt chia với nhau những dòng nước mắt rưng rưng hạnh phúc khi cùng các bạn đồng hành tìm thấy mộ phần quạnh hiu nhang khói từ hàng chục năm qua của người thân nằm lại trên đảo, nhặt từng chiếc dép, sợi neo, mảnh chén... còn vương mùi dâu bể của cuộc hành trình gian truân và bi thảm nhất trong lịch sử dân tộc.

Nhưng thú vị và cảm động nhất vẫn là những ân tình đậm đà với những người mà chúng tôi một thời đã chịu ơn, hoặc với những người đương thời mà chúng tôi đang mắc nợ.

Đọc tiếp bài này ...


Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT NAM]
1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng với quý đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố Thuyền Nhân Việt Nam.
2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần "quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM] cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị, ... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn.

3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật, v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;

4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;

[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau. Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.

[TỴ NẠN VIỆT NAM] & VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM
TRẦN ĐÔNG, MSc.
email: dongtran.vktn@gmail.com    web: www.vktnvn.com