Chuyến
tiền trạm Kuku do Văn Khố Thuyền
Nhân thực hiện vào tháng 4-2009, đã tìm được gần 30 ngôi mộ và tiếp xúc
được với vị cựu Trưởng Cao Uỷ khu vực này. Ông Nala cho biết có khoảng 2.000
thuyền nhân đã qua đời vì sốt rét rừng và được mai táng trong khu vực. Những nỗ lực sắp tới của VKTN là trở về khu vực này nhiều lần nữa
để tìm kiếm mồ mả thuyền nhân.
Chúng
tôi hân hạnh giới thiệu những
bài viết sau đây của nhà báo Lưu Dân, anh đã tham gia chuyến đi này, bài
viết ghi một số nét chính về chuyến đi hồi tháng 4-2009 vừa qua.
CHUYẾN
ĐI
TẢO MỘ - THĂM VIẾNG DI TÍCH THUYỀN NHÂN
Tháng 3
& 4 năm 2010
Singapore – Malaysia – Kuku & Galang (Indonesia)
Kỷ niệm 35 năm định cư hải ngoại Văn Khố Thuyền
Nhân Việt Nam (VKTNVN)
sẽ tổ chức chuyến viếng thăm và cầu nguyện đến các trại tỵ nạn
cũ ở Malaysia và Indonesia.
Đây là
lần thứ 8 kể từ tháng 4 năm 2005 VKTNVN thực hiện các chuyến Về Bến
Tự Do với mục đích tưởng niệm những đồng bào vĩnh viễn gửi thân
ở xứ người trên đường vượt biển, thăm lại các nơi chốn tạm cư
của thời tỵ nạn, thu thập tài liệu – di vật cho Viện Bảo tàng
Thuyền nhân VN tương lai và, trong khả năng cho phép, đền ơn đáp
nghĩa phần nào cho những cá nhân, tổ chức thiện nguyện quốc tế
và quốc gia từng cứu giúp chúng ta trong hoàn cảnh khốn khó. Từ
đó đến nay, mỗi chuyến là một sự thành công khác nhau và đều
mang những ý nghĩa đặc sắc riêng. Mọi người tham dự đều hài
lòng, tình thân ái gắn bó nhau chặt chẽ.
Chuyến Về
Bến Tự Do 8 được dự trù tổ chức vào cuối tháng Ba đến giữa tháng
Tư 2010, gồm 3 chặng. Quý đồng hương có thể tham dự toàn phần
chuyến đi hoặc có thể tham dự từng chặng:
²
Chặng 1: Singapore – Bidong,
từ ngày 26-03 đến 02-04-2010. ²
Chặng 2: Singapore – Kuku & Galang,
từ ngày 30-03 đến 11-04-2010. ²
Chặng 3 (gồm cả chặng 1 và chặng 2),
từ ngày 26-03 đến 11-04-2010.
Những ngôi mộ bị lãng quên được tìm
thấy tại Kuku tháng 4-2009
Sau 4 năm vất vả tìm kiếm vị trí
"đảo Kuku" và đường đi đến khu vực này, cuối
cùng chuyến đi tiền trạm cũng được hình thành
với 22 "tiền trạm viên" tham dự.
Chúng tôi đã tìm được nhiều ngôi
mộ thuyền nhân, có trên 30 ngôi mộ, kể cả những
mộ "nhà nghèo" đánh dấu bằng những gộp đá, giống
như ở trại Bataan (Philippines). Người địa
phương đi rừng đã biết đến những ngôi mộ này. Họ
hướng dẫn chúng tôi đến những nơi họ biết.
Dưới đây là một số hình các ngôi
mộ tại khu vực Kuku, chúng tôi giới thiệu để quý
đọc giả có thể hình dung ra được. Trong toàn khu
vực quần đảo Anambas và Natuna, theo suy đoán và
tìm hiểu của VKTN chúng tôi chắc chắn còn có
nhiều mộ phần thuyền nhân với giống như Kuku mà
chúng ta đã biết.
Với kinh
nghiệm sẵn có, với một kế hoạch đầy đủ hơn và
sau khi đã biết được đường đi nước bước đến khu
vực này VĂN KHỐ THUYỀN NHÂN VIỆT NAM sẽ tìm được
nhiều mộ phần thuyền nhân khác trong toàn vùng
Anambas và Natuna nơi mà ông Nala, Cao Uỷ Trưởng
của khu vực vào thập niên 70 - 80 cho biết có
khoảng 2.000 thuyền nhân đã qua đời vì bệnh sốt
rét rừng và được mai táng nơi đây.
Ông Nala, Cao Uỷ Trưởng khu vực
Anambas và Natuna thập niên 70 - 80.
Buổi ăn trưa, thay vì dự định ở
Nam Dương, được đặt bàn cấp tốc tại một nhà hàng
gần khách sạn để o bế bao tử của “thập bát anh
hào” (vì ai nấy đều... ăn khỏe như trâu) trước
khi 18 trự (không kể 4 mạng đã “cắm dùi” trước
bên Nam Dương) chất lên chiếc mini-bus thuê bao
trực chỉ hướng trung tâm thành phố.
Tại
Singapore
Ông nhà báo Lưu Dân (mà mọi người
cứ “vô tư” bỏ dấu sai thành... Lựu Đạn) tình
nguyện làm hướng dẫn viên du lịch vì đã nhiều
lần đến Sing. Chiếc xe - với chàng tài xế nói
tiếng Anh khá sõi - đưa chúng tôi đến các thắng
cảnh nổi tiếng, như: Nhà hát Sầu Riêng (vì hình
dáng của nó trông giống loại trái cây này), Viện
Bảo tàng Nghệ thuật Á châu (khi ấy đang có cuộc
triển lãm về các phẩm vật triều cống của các
nước chư hầu cho Trung Hoa trong những thế kỷ
trước), Công viên Merlion Park (nơi đặt bức
tượng đầu sư tử đuôi cá đang phun nước, biểu
tượng của Singapore) và Mount Faber (đỉnh núi có
đường giây cáp treo đến đảo du lịch Sentosa)...
Âm thanh và ánh sáng từ các chiếc
máy hình đủ loại, đủ kiểu cứ vang lên tí tách ở
mỗi nơi dừng lại. Kẻ đứng tạo dáng, người khom
bấm máy rộn cả góc trời khiến ông trưởng đoàn
phát hoảng la toáng lên: “Nè, chừa memory cho
hình ảnh Kuku nghen. Chuyến đi chưa thực sự bắt
đầu đâu, bà con ơi!” Thế chứ, tưởng trục
trặc hóa ra lại hay, và đáng đồng tiền bát gạo.
Chuyến City Tour đã “gỡ” lại được phần tư vé bay
rồi đấy! Đến 4 giờ chiều, mọi người lên tàu tốc
hành sang Nam Dương mà câu chuyện vẫn râm ran
chưa dứt.
Ngày 2 (11.04 Terempah -
Kuku): Đoạn đường... chiến binh! (Bài 2/10)
Lưu Dân
(Sydney -
Australia)
Bến tàu
khách Matak
tuyệt đẹp,
nhà sàn sát
mí nước,
biển và rừng
trùng điệp
xanh ngắt.
Chúng tôi đi
cùng khoảng
50 người dân
địa phương
(cộng với xe
gắn máy, gà
vịt, mì gói
và đủ thứ
hàng tạp hóa
khác) đến
Terempah,
giống hệt
các chuyến
đò ngang ở
miền Tây Nam
Bộ của quê
hương nhưng
trật tự và
an toàn hơn.
Nhiều người
trong đoàn
cũng cảm
nhận một
niềm vui nhẹ
nhàng khi
nhìn thấy
một nhà sư
Phật giáo
trung niên
đi cùng trên
tàu. Ở đất
nước Hồi
giáo này,
nhà thờ Công
giáo hay
chùa chiền
Phật giáo là
những hình
ảnh hiếm
thấy. Vạt áo
cà sa màu
vàng nghệ và
khuôn mặt
thư thái của
vị sư nổi
bật trên nền
trời trong
xanh giữa
ngổn ngang
những tất
bật thế sự
trên chuyến
tàu hôm ấy
đã mang đến
một cảm giác
yên bình và
may mắn.
Chúng tôi
nào biết đó
là cái duyên
đầu tiên của
mình trong
chuyến đi
tìm về kỷ
niệm này...
Khu
bến
tàu
Matak
Tàu càng xa
bờ mọi người
càng ngẩn
ngơ trước vẻ
đẹp kỳ vĩ
của thiên
nhiên. Ở đất
nước có hơn
17 ngàn hòn
đảo này,
người ta có
thể bắt gặp
bất cứ nơi
đâu các bãi
cát vàng
tươi, các
vách núi
cheo leo,
các hang
động hiểm
trở và các
làng chài
hiền hòa
muôn thưở...
Nhưng có lẽ
ấn tượng đập
mạnh nhất
vào mắt
chúng tôi
khi tàu đến
gần Terempah
là ngôi chùa
chênh vênh
trên sườn
núi, mái
ngói đỏ au
như một chấm
son tươi
trên nền đá
xám dãi dầu.
Nơi đây, vào
buổi tối hôm
đó, chúng
tôi đến lễ
Phật và gặp
lại vị sư đi
cùng tàu,
người chỉ
thỉnh thoảng
từ Matak
sang
Terempah một
lần nhân
những ngày
vía lớn.
Đến
Terempah,
chẳng có
“quan chức”
nào... ân
cần tiếp đón
cả, ngoài
một bầy con
nít tíu tít
reo hò và
những ánh
mắt hiếu kỳ
từ các hàng
quán bên cầu
tàu. Ừ, như
thế dễ chịu
hơn, chứ
khách sáo
hoài cũng
mệt. Vậy mà
chúng tôi
vẫn nhìn
thấy một tấm
băng-rôn lớn
giăng ngay
trên đường
phố chính
của đảo
“Chào mừng
đoàn du
khách đến
thăm Kuku”.
Ngày 3
(12.04
Letung -
Kuku): Trời
quen đất lạ…
(Bài 3/10)
Lưu Dân
(Sydney -
Australia)
Chiếc ca-nô
lại phóng
mình ra biển
với những
tiếng cười
và chuyện kể
rôm rả. Ai
nấy đều đã
quên bản mặt
đăm đăm như
bị táo bón
của Xếp Bến
Tàu như quên
một lỗ ổ gà
dọc đường.
Tàu ghé đảo
Air Raya
rước hai
người hướng
đạo địa
phương đến
Kuku vì họ
biết rành
các thủy lộ
tránh đá
ngầm và cũng
đã từng sống
ở Kuku trong
thời gian có
người VN tỵ
nạn. Họ mang
cả dao rựa
(thấy mà
khiếp!) để
phát hoang
mở đường cho
chúng tôi
đến những
địa điểm
muốn đến.
Kuku
đây
rồi!
Theo hướng
chỉ của
người dẫn
đường, Kuku
hiện ra mờ
mờ từ phía
chân trời
sau khoảng
nửa giờ hải
hành. Chúng
tôi yêu cầu
tài công
giảm tốc độ
để mọi người
có thể ngắm
nhìn hòn đảo
một thời
từng là mảnh
đất hồi sinh
của mình. Ai
nấy đều chồm
ra ngoài
khung cửa
sổ, tất cả
máy chụp
hình giương
cao lên để
bấm những
tấm ảnh để
đời, bất
chấp các quy
định về an
toàn di
chuyển. Viên
tài công mỉm
cười thông
cảm và chia
sẻ. Mấy khi
một đoàn
khách thế
này có dịp
về thăm lại
nơi chốn đầy
ắp kỷ niệm
như vậy...
Kuku không
phải là một
địa danh du
lịch nổi
tiếng hay
một vùng dân
cư trù phú.
Nó chỉ là
một rẻo đất
đảo rộng
chừng vài
chục cây số
vuông mà
ngay cả một
số người địa
phương chưa
hề nghe tên.
Nhưng đối
với gần trăm
ngàn thuyền
nhân Việt
Nam, Kuku
nằm tận
trong ngăn
sâu ký ức
bồi hồi vì
nó từng là
nơi đặt chân
đầu tiên của
họ trên
đường vượt
biển tỵ nạn
cách đây hơn
một phần tư
thế kỷ.
Nhớ lại,
nhân chuyến
Về Bến Tự Do
lần thứ nhì
hồi tháng
8.2005 - sau
khi hai
tượng đài
tưởng niệm
thuyền nhân
ở các trại
tỵ nạn
Bidong (Mã
Lai) và
Galang (Nam
Dương) bị
đập bỏ vì áp
lực từ Hà
Nội - VKTNVN
đã có dịp
tiếp xúc với
Thống đốc
của Tiểu
bang Tanjung
Pinang để
bày tỏ lòng
tri ân của
người tỵ nạn
VN với Chính
phủ Nam
Dương và
đồng thời
xin phép đến
thăm Kuku.
Chính vị
Thống đốc
rất thân
thiện này,
một Tiến sĩ
tốt nghiệp
từ Bỉ có sự
hiểu biết
sâu sắc về
hoàn cảnh
của người tỵ
nạn từ Việt
Nam, cũng
không biết
Kuku nằm ở
đâu, dù nó
thuộc quyền
quản trị
hành chánh
của ông.
Trong đoàn
trở về Kuku
có ba nhóm
tìm kiếm
phần mộ
người thân
và hỏa thiêu
hài cốt nếu
tìm thấy.
Các thành
viên khác
trong đoàn -
ngoài mục
đích thăm
viếng, cầu
nguyện và
thu thập di
vật thuyền
nhân - cũng
nhân chuyến
đi này tự
nguyện “đỡ
đần một tay”
với các nhóm
đó, dù đa số
không quen
biết nhau
trước khi
lên đường.
Nhóm thứ
nhất là
“Băng 3T”,
gồm 3 anh em
cột chèo:
Triệu (từ
Melbourne,
Úc), Tài và
Tước (từ Sài
Gòn, Việt
Nam). Triệu
là người
chèo lái,
“rước” người
chị đầu, Tài
và Tước là
hai người
chèo mũi,
“ẵm” hai cô
em sau. Do
một cơ duyên
tình cờ từ
mấy tháng
trước, ba
anh em cùng
hẹn đến Kuku
vì một lý do
rất xa và
rất gần...
Cách đây gần
đúng 27 năm,
anh Triệu
cùng người
vợ mới cưới,
chị Cecile
Hoàng Thu
Minh, đến
Kuku sau một
chuyến vượt
biên gian
nan vào đầu
tháng
6.1982. Mối
tình đầy
trắc trở và
thử thách
qua thời
gian dài đã
bắt đầu kết
hoa đơm trái
trên hòn đảo
tỵ nạn này,
một nơi
thiếu hụt
mọi bề mà
đôi vợ chồng
son coi như
thiên đường
trăng mật
của họ.
Thực sự, sau
khi tìm được
gương và
lược, anh
Triệu vẫn
chưa “chắc
ăn” rằng bộ
hài cốt
trong tấm
bọc nylon là
di thể của
vợ, vì trong
vài ngày qua
chúng tôi đã
tận mắt
chứng kiến
nhiều sự
kiện huyền
nhiệm không
thể giải
thích được.
Anh vẫn còn
âm thầm chờ
đợi một xác
định cuối
cùng. Anh
căn dặn Tài
và Tước cả
chục lần:
“Còn chiếc
nhẫn cưới
nữa!” Và
khi Tài tìm
thấy nó, anh
đã thở phào
như trút ra
tất cả những
ưu tư chất
chứa từ đầu
chuyến đi...
Ôi, bằng
chứng kết
ước của tình
nghĩa vợ
chồng vẫn
còn nguyên
vẹn. Anh
Triệu cầm
lấy chiếc
nhẫn còn
dính đất và
đeo ngay vào
tay mình,
như thể
không còn
chờ đợi thêm
một giây nào
nữa! Anh kể
lại rằng anh
đã giữ lại
và đem theo
bông tai và
dây chuyền
của chị như
một kỷ vật
vì sợ người
chết bị quấy
nhiễu bởi
những kẻ đạo
chích vô
lương muốn
quật mộ để
tìm vàng.
Riêng chiếc
nhẫn này anh
quyết định
chôn theo
chị như lời
nguyện chung
thân của hai
người trong
ngày hôn lễ.
Chiếc nhẫn
đó sẽ nằm
trong hủ cốt
của chị khi
anh đưa chị
về Việt Nam.
Ngày 5
(14.04:
Berhala -
Air Biru):
Quê người
chạnh nhớ...
(Bài 6/10)
Lưu Dân
(Sydney -
Australia)
Hòn
đảo
Berhala,
nơi
ngày
xưa
có
hàng
ngàn
thuyền
nhân
tạm
trú
nay
có
cầu
nối
vào
Letung.
Tuy là ngày
"sinh hoạt
tự do" trong
chương trình
nhưng chúng
tôi cũng đã
tận dụng
thời gian
để... đi cho
biết đó biết
đây. Theo
lời chỉ dẫn
của người
dân địa
phương, cả
đoàn rủ nhau
đi bộ đến
đảo Berhala
kế cận, nơi
được biết có
vài chục
ngôi mộ
thuyền nhân
VN an táng
từ gần 30
năm trước.
Nghe "đi bộ
đến đảo" có
vẻ hơi... là
lạ, nhưng
thật sự là
vậy. Một
chiếc cầu đá
dài và vững
chắc đã được
xây từ nhiều
năm trước
(sau thời
người tỵ nạn
VN đến đây)
nối liền
Letung với
Berhala cho
người đi bộ.
Xe hơi nhỏ
cũng có thể
chạy trên
chiếc cầu.
Trên đảo
Berhala chỉ
có vài ngôi
nhà và một
đài hải đăng
hướng dẫn
tàu bè quốc
tế qua lại
trên vùng
biển này.
Nơi đây cũng
rất gần với
hải phận
quốc tế và
là một "khu
vực nhạy
cảm" trong
tình hình
tranh chấp
lãnh hải
hiện nay
giữa những
quốc gia lân
cận, đặc
biệt là từ
khi Trung
Quốc công bố
"bản đồ lưỡi
bò" dành
phần chủ
quyền của họ
trên Biển
Đông. Chính
phủ Nam
Dương không
ồn ào tranh
cãi về tham
vọng bành
trướng của
chủ nghĩa
Đại Hán từ
phương Bắc
nhưng rõ
ràng họ đã
khẳng định
tư cách chủ
nhân của
mình bằng
hành động.
Chiếc cầu
Berhala và
lá cờ đỏ
trắng trên
đỉnh đảo là
một tuyên
ngôn không
lời, nhưng
rõ ràng và
quyết liệt
biểu hiện ý
chí bảo vệ
giang sơn
của họ.
Ngày 6
(15.04
Keramut -
Air Raya):
Cầu nguyện
giữa trưa
(Bài 7/10)
Lưu Dân
(Sydney -
Australia)
Bãi
biền
Air
Raya.
Cầu
tàu
ngày
xưa
giờ
còn
trơ
những
trụ
gỗ
Chúng tôi
đào một hố
cát trên bãi
để lấp lại
tro than như
một phần mộ
trong tâm
tưởng và
cũng để
tránh cháy
rừng vì
những cơn
gió khô thổi
lan sang các
bụi cây
chung quanh
trước khi
rời đảo.
Lội ra lại
ca-nô, Edi,
người dẫn
đoàn luôn ở
bên cạnh
chúng tôi
trong suốt
chuyến đi,
chợt thốt
lên một câu
trào phúng
để xóa bớt
không khí
lắng đọng
sau buổi lễ
tưởng niệm:
“Các bạn đã
đói rồi
chắc? Chúng
ta ăn trưa ở
Thiên đàng
nhé? Có ai
muốn theo
tôi không?”
Dĩ nhiên
rồi, nhưng
Thiên đàng ở
đâu?
Từ
xa, mọi
người đã ồ
lên một
tiếng kinh
ngạc. Chúng
tôi chưa
từng nhìn
thấy một hải
đảo đẹp như
thế bao giờ!
Hòn đảo như
chưa hề có
vết chân
người, những
bụi cây thấp
với màu lá
xanh mướt
như ngọc,
hàng dừa lã
thân trên
bãi cát
trắng tinh
tít tắp. Và
làn nước
trong vắt
như pha lê,
nhìn rõ cả
những đàn cá
đủ màu nhởn
nhơ đẹp
như... màn
hình
computer.
Thảo nào,
người địa
phương đặt
tên hòn đảo
này là Impol
(Waters of
God): Nước
của Trời!
Chúng tôi
“hạ trại” ở
đó. Mấy
thùng mì xào
ớt (độn sò
điệp và tôm
sú) được
mang ra “xử
lý” tại chỗ
với những
ngụm nước
dừa tươi
ngọt lịm. Ai
cũng tưởng
cái món
truyền thống
của Xứ Vạn
Đảo đã làm
mọi người
ngán tận cổ
mấy ngày hôm
nay, nhưng
anh bạn
người Huế
sành ăn lại
so sánh “mì
thiên đàng”
Nam Dương là
kỳ phùng
địch thủ với
“cơm âm phủ”
của đất thần
kinh ở Việt
Nam. Nhiều
người trong
đoàn chưa
biết món đặc
sản Huế nổi
tiếng này
nhưng ai
cũng vét đến
cọng mì cuối
cùng trong
“cái tô” làm
bằng nửa
trái dừa
tươi còn
nguyên lớp
cơm đúng nạo
trơn mềm và
béo ngậy...
Ngày 7
(16.04 Terempah - Batam): Đồng bào bỏ rơi... (Bài 8/10)
Lưu Dân
(Sydney -
Australia)
Buổi gặp gỡ
ngắn ngủi
với nhóm ngư
dân ở
Terempah bị
cảnh sát cắt
ngang vì
“hết giờ
thăm nuôi”.
Chúng tôi
góp lại
những món
quà thực tế
để giúp họ
qua cơn ngặt
nghèo và
nhận chuyển
những lá thư
gửi về nhà
với cõi lòng
nặng trĩu...
Trong
một
nhà
hàng
nhỏ
ăn
trưa
tại
Terempa
và
chờ
giờ
ra
sân
bay
về
Tanjung
Pinang!
Chuyến ca-nô
tốc hành đưa
chúng tôi về
lại Matak
vào buổi
trưa nắng
đẹp. Cũng
như lượt đi,
máy bay đến
Tangjung
Pinang
lại... trễ
giờ. Ngồi
chờ lây lất
trong một
quán ăn ven
đường, anh
Trưởng đoàn
và Edi cứ
quýnh quáng
như gà mắc
đẻ, vì nếu
không kịp
chuyến phà
chót trong
ngày về
Batam, chúng
tôi phải nằm
lại đây và
ngủ... màn
trời chiếu
đất.
Cũng hên,
khi mọi
người gần
như đã...
đầu hàng giờ
giấc của Air
Riau, chúng
tôi được báo
tin máy bay
đã đến và sẽ
cất cánh
trong vòng
10 phút nữa.
Thế là ba-lô
lên vai và
mạnh ai nấy
chạy! Khi
người cuối
cùng bước
qua khỏi cầu
thang, máy
bay cũng vừa
lăn bánh ra
phi đạo. Nhờ
Edi sắp xếp
sẵn, hành lý
của chúng
tôi gửi lại
khách sạn
mấy ngày
trước đã
được chuyển
thẳng ra bến
phà. Một lần
nữa, chúng
tôi là nhóm
hành khách
cuối cùng
của chuyến
chót trong
ngày về
Batam, nơi
chúng tôi
chỉ còn kịp
thời gian để
nhận phòng ở
khách sạn
Nagoya và...
lăn đùng ra
ngủ!
Ngày 8
(17.04
Galang -
Singapore):
Ngưỡng cửa
Tình người
(Bài 9/10)
Lưu Dân
(Sydney -
Australia)
Giờ
chia
tay
tại
Batam
Màn “Lên xe
tiễn nhau
đi, chưa bao
giờ... mừng
thế” diễn ra
khá... rươm
rướm (gớm,
chẳng biết
mấy bà mấy
cô lấy đâu
ra thứ chất
lỏng quý
hiếm này dễ
dàng thế!)
nhưng cũng
gọn nhẹ vì
chúng tôi
còn phải
tranh thủ
ngày cuối
cùng của
chuyến đi để
thăm trại tỵ
nạn Galang,
nơi từng là
trạm dừng
chân của
nhiều cựu
Kuku trước
khi lên
đường định
cư.
Thật ra,
chặng Galang
không nằm
trong chương
trình ban
đầu nhưng
theo yêu cầu
của nhiều
người trong
đoàn, Trần
Lão Gia đã
thu xếp với
công ty du
lịch để
chúng tôi
trở lại nơi
từng được
đặt tên là
“Ngưỡng cửa
của Tự do và
Tình người”
chỉ cách
Batam hơn
một tiếng
lái xe.
Dù chỉ trong
vài giờ ngắn
ngủi, chúng
tôi đã đến
được các địa
điểm ghi dấu
nhiều kỷ
niệm trong
đời tỵ nạn
như Cầu tàu
và Chùa Quan
Âm ở Galang
I, Nghĩa
trang Galang
III, Miếu Ba
Cô và Nhà
thờ Đức Mẹ
Vô Nhiễm ở
Galang II...
Tại những
nơi này,
chúng tôi
cũng đã thực
hiện những
buổi lễ cầu
siêu cho
hương linh
đồng bào nằm
lại trước
khi trở lại
bến phà
Batam về
Singapore
vào buổi
chiều.
Buổi ăn tối
chia tay
trên cầu tàu
Boat Quay ở
Singapore
tuy dập dìu
tài tử giai
nhân, đèn
màu rực rỡ
cả một khúc
sông và
nhiều món ăn
hấp dẫn
nhưng không
khí trong
nhóm dường
như trầm hẳn
xuống. Mấy
tay “quậy”
cũng nín khe
không moi ra
được một câu
bông đùa
thường ngày
khi chúng
tôi uống cạn
hớp bia cuối
cùng và đứng
dậy ôm nhau
hát khẽ bài
tạm biệt
“Gặp nhau
đây, rồi
chia tay...”
lúc đồng hồ
chỉ quá nửa
đêm.
Trong chuyến
đi, không ai
trong đoàn
tiên đoán
được hết
những bất
ngờ dọc
đường.
Chương trình
được linh
động điều
chỉnh liên
tục vì sự
thay đổi
ngoài dự
tính. Chúng
tôi đã di
chuyển bằng
mọi phương
tiện có thể
thu xếp được
tại chỗ; từ
những phi cơ
hiện đại của
các hãng
hàng không
quốc tế đến
các chuyến
bay nội địa
bằng phi cơ
cánh quạt
thời... Đệ
nhị Thế
chiến, từ
những chiếc
ca-nô cao
tốc đến các
chiếc tàu
khách chậm
rì, từ những
xe du lịch
rì rào máy
lạnh êm như
ru đến các
chiếc xe đò
cởi hết cả
áo vẫn còn
chảy mồ hôi
(thật là...
tội nghiệp
cho các bà
các cô!), từ
các đoạn "xe
ôm" từng cặp
bất đắc dĩ
đến những
cuốc... xe
dép mỏi nhừ
đôi chân.
Vậy mà chẳng
ai thốt ra
một lời
than. Vậy mà
chỉ nghe
tiếng cười,
câu hát,
chuyện vui
rộn ràng
trên những
đoạn đường
tìm về kỷ
niệm...
Thơ
mộng
của
Letung!
Thiên
nhiên,
trời
và
nước!
Chúng tôi đã
hưởng thụ -
theo nghĩa
đúng nhất -
những phong
cảnh kỳ vĩ
của thiên
nhiên và thổ
sản địa
phương độc
đáo mà những
du khách dư
dã tiền bạc
chưa chắc đã
mua được.
Làm sao bạn
có thể ngắm
được ánh
nắng chiều
ráng đỏ trên
đường chân
trời giữa
chập chùng
hải đảo? Làm
sao bạn có
thể ngâm
mình dưới
làn nước
trong veo
như thủy
tinh trên
bãi cát
trắng mịn ở
bãi biển mà
người địa
phương đặt
tên là "Nước
của Trời",
uống ngụm
nước dừa mới
hái và ăn
ngay tại bãi
những con
tôm hùm còn
quẫy đuôi
tanh tách do
các ngư dân
mang đến
trên những
chiếc ghe
độc mộc chèo
tay? Và làm
sao có được
những đêm
văn nghệ
ngẫu hứng
vui nhộn
bằng các
ngôn ngữ
Anh, Pháp,
Đức, Việt và
Nam Dương
được trình
diễn bởi
"những giọng
hát quốc tế
chưa hề cầm
micro chuyên
nghiệp"
nhưng hay
chẳng kém
bất cứ siêu
sao ca nhạc
nào?
Chúng tôi
cũng đã sớt
chia với
nhau những
dòng nước
mắt rưng
rưng hạnh
phúc khi
cùng các bạn
đồng hành
tìm thấy mộ
phần quạnh
hiu nhang
khói từ hàng
chục năm qua
của người
thân nằm lại
trên đảo,
nhặt từng
chiếc dép,
sợi neo,
mảnh chén...
còn vương
mùi dâu bể
của cuộc
hành trình
gian truân
và bi thảm
nhất trong
lịch sử dân
tộc.
Nhưng thú vị
và cảm động
nhất vẫn là
những ân
tình đậm đà
với những
người mà
chúng tôi
một thời đã
chịu ơn,
hoặc với
những người
đương thời
mà chúng tôi
đang mắc nợ.
Nhiệm vụ của Mail Group [TỴ NẠN VIỆT
NAM] 1- [TỴ NẠN VIỆT NAM] giúp tổ chức Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam chuyển thông tin đến các Mail Groups khác cùng
với quý
đồng hương và bạn đọc khắp nơi. [TỴ NẠN VIỆT NAM] và Văn
Khố Thuyền Nhân Việt Nam đều có những hoạt động hướng về
các lãnh vực từ thiện, xã hội, lịch sử, giáo dục và bất vụ lợi. Trừ
những bài viết của [TỴ NẠN VIỆT NAM] những nội dung đa dạng được chúng
tôi chú ý, chọn lọc và giới thiệu đến quý đọc giả để nghiên cứu và tham
khảo đều thể hiện quan điểm và lập trường riêng của người viết, không
thể hiện quan điểm lập trường riêng của [TỴ NẠN VIỆT NAM] hay Văn Khố
Thuyền Nhân Việt Nam. 2- Được quốc tế công nhận quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng, với tinh thần
"quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách" [TỴ NẠN VIỆT NAM]
cũng như mọi người Việt quốc nội hay hải ngoại đều có quyền tự
do bày tỏ quan điểm, lập trường đả phá hoặc ủng hộ đối với một sự kiện xã hội, chính trị,
... được quan tâm hay bị ảnh hưởng, điều này không có nghĩa [TỴ NẠN VIỆT
NAM] làm chính trị mà chỉ có nghĩa là một nhiệt tình nhằm đóng góp ý
kiến với ước mong xây dựng đất nước và xã hội được tốt hơn. 3- [TỴ NẠN VIỆT NAM] dành ưu tiên một cho
các hoạt động:
a- Sưu tập tài liệu về tỵ nạn (hình, phim, báo chí, bài viết, di vật,
v.v...) Việt Nam để lưu trữ vào các viện Văn khố quốc gia hay quốc tế;
b- Tìm kiếm và Bảo tồn các di tích tỵ nạn như mồ mả thuyền nhân, trại tỵ
nạn, ...;
c- Thực hiện các chương trình triển lãm, phổ biến về tỵ nạn Việt Nam, Bảo
tàng Viện Tỵ nạn Việt Nam, Tượng Đài Thuyền nhân và chương trình Đền Ơn Đáp Nghĩa đối với các
tổ chư!c và quốc gia đã giúp đỡ tỵ nạn VN, ...;
4- Phạm vi ưu tiên hai thuộc các lãnh vực:
a- Cùng các tổ chức bạn đấu tranh vì mục tiêu tự
do, dân chủ, dân quyền & nhân quyền và toàn vẹn lãnh thổ;
b- Nhằm giúp thế hệ con cháu hãnh diện với hệ thống chính mạch và các
cộng đồng sắc tộc khác, [Tỵ Nạn Việt Nam] vinh danh những thành công của
thế hệ thứ nhất và những thế hệ tiếp nối trên bước đường định cư và hội
nhập.
c- Giúp đỡ về mặt tinh thần cho thế hệ thứ nhất khi tuổi đã xế chiều;
[Tỵ Nạn Việt Nam] ước mong
nhận được sự giúp đỡ, đóng góp, hướng dẫn. hợp tác của quý đọc giả, quý
đồng hương, và các bậc thức giả bốn phương trong cũng như ngoài nước để
chúng ta cùng chia xẻ sự quan tâm chung và cùng bảo vệ di tích lớn lao
trong dòng lịch sử 4.000 của đất nước để làm di sản cho thế hệ mai sau.
Nếu thế hệ nhân chứng không thể hoàn thành sứ mạng này, thiệt hại đó quả
thật to lớn đối với lịch sử và đối với tất cả các thế hệ con cháu.